BIDV tiến sát mốc 80.000 tỷ đồng tín dụng xanh, mở rộng hệ sinh thái tài chính bền vững

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tính đến nửa đầu năm 2025, dư nợ tín dụng xanh của BIDV đạt 78.930 tỷ đồng, chiếm khoảng 3% tổng dư nợ. Ngân hàng đồng thời phát triển hệ sinh thái tài chính xanh đa dạng và áp dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất trong quản lý, sử dụng vốn trái phiếu, bảo đảm mục tiêu rõ ràng và lợi ích môi trường - xã hội đo lường được cho từng dự án.
aa

Ngân hàng tiên phong, chính sách mở lối phát triển trái phiếu xanh Tăng trưởng tín dụng xanh "đuối" dần Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%

Hoàn thiện các "mảnh ghép", phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV - mã Ck: BID) vừa công bố báo cáo sử dụng vốn và đánh giá tác động trái phiếu xanh và bền vững năm 2025, căn cứ khung trái phiếu xanh và khung trái phiếu bền vững đã ban hành.

Báo cáo phân bổ vốn năm 2024 được Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm đầu tư Việt Nam (VIS Rating) đánh giá độc lập theo hình thức ý kiến của bên thứ hai, xác nhận việc lựa chọn dự án đủ điều kiện, phân bổ và quản lý vốn trái phiếu phù hợp với quy định và cam kết của BIDV tại khung trái phiếu bền vững.

BIDV bắt đầu phát hành trái phiếu xanh lần đầu tiên vào năm 2023 trị giá 2.500 tỷ đồng và trở thành tổ chức tín dụng đầu tiên trong nước phát hành trái phiếu xanh theo tiêu chuẩn quốc tế.

Sau thành công đó, năm 2024, BIDV tiếp tục phát triển khung trái phiếu bền vững từ khung trái phiếu xanh, với mục tiêu tạo ra sự linh hoạt và đa dạng mục đích sử dụng vốn cho sản phẩm trái phiếu ESG, hỗ trợ được nhiều dự án và gián tiếp tham gia nhiều hoạt động xã hội hơn.

Trên cơ sở đó, BIDV huy động thành công 3.000 tỷ đồng trái phiếu bền vững, tài trợ cho nhiều dự án thuộc đa dạng các lĩnh vực có tác động tích cực cho môi trường và xã hội, đáp ứng quy định tại khung trái phiếu bền vững của BIDV.

Theo VIS Rating, BIDV cũng triển khai sản phẩm tiền gửi xanh dành cho khách hàng, huy động tổng cộng được 8.500 tỷ đồng tính đến tháng 6/2025.

Tính đến hết nửa đầu năm 2025, dư nợ tín dụng xanh của BIDV đạt 78.930 tỷ đồng, chiếm khoảng 3% tổng dư nợ tại BIDV. Ngân hàng phát triển hệ sinh thái sản phẩm tài chính xanh như: tín dụng xanh, tiền gửi xanh, trái phiếu xanh và bền vững, khoản vay liên kết bền vững…, thông qua giải ngân cho 1.946 dự án, hỗ trợ 1.565 khách hàng.

Đối với đợt phát hành trái phiếu bền vững năm 2024, số tiền thu được đã được BIDV phân bổ cho 39 dự án, gồm năng lượng tái tạo, công trình xanh, giao thông bền vững, nhà ở xã hội.

Nguồn vốn huy động đã được phân bổ theo 4 lĩnh vực chính, trong đó, lĩnh vực năng lượng tái tạo chiếm 63,8% với 1.914,5 tỷ đồng cho 36 dự án như: dự án điện gió tại Quảng Trị, điện mặt trời áp mái tại TP. Hồ Chí Minh và thủy điện quy mô nhỏ dưới 30 MW tại các tỉnh miền Bắc.

BIDV tiến sát mốc 80.000 tỷ đồng tín dụng xanh, mở rộng hệ sinh thái tài chính bền vững
Nguồn: BIDV, VIS Rating.

Vốn dành cho lĩnh vực giao thông bền vững chiếm 20,9% với 625,6 tỷ đồng tài trợ cho dự án xe máy điện nhằm giảm phát thải và ứng phó biến đổi khí hậu. Công trình xây dựng xanh chiếm 10,8% với 324,3 tỷ đồng được đầu tư cho các dự án đạt chứng nhận LEED tại Hà Nội. Nhà ở xã hội chiếm 4,5% với 135,5 tỷ đồng phân bổ cho một dự án tại Thanh Hóa, dự kiến mang lại lợi ích cho khoảng 1.769 người thu nhập thấp.

Như vậy, tính đến thời điểm báo cáo, toàn bộ danh mục có 41 dự án đều đáp ứng các tiêu chí dự án đủ điều kiện theo các khung trái phiếu BIDV đã ban hành.

"Theo đánh giá của chúng tôi, BIDV đã áp dụng các thông lệ tốt nhất trong việc sử dụng nguồn vốn từ trái phiếu, với các mục tiêu được xác định rõ ràng và lợi ích môi trường - xã hội có thể đo lường cụ thể cho từng dự án được tài trợ. Ngân hàng cũng duy trì thông lệ tốt nhất trong việc lựa chọn và đánh giá dự án, với quy trình xét duyệt được xây dựng và quy định rõ trong Khung trái phiếu bền vững và các chính sách nội bộ. Hoạt động giám sát được thực hiện thường xuyên nhằm đảm bảo tính phù hợp của dự án theo thời gian và giảm thiểu các rủi ro về môi trường" -VIS Rating đánh giá.

Đo lường tác động của toàn bộ danh mục dự án, tổng cộng, các dự án đã giúp giảm hoặc tránh phát thải 296.191,86 tấn CO2 mỗi năm, trong đó điện gió và mặt trời chiếm tỷ trọng lớn nhất. Ngoài hiệu quả môi trường, các dự án còn tạo việc làm cho khoảng 2.000 lao động và đóng góp đáng kể vào ngân sách địa phương hàng năm, theo báo cáo của doanh nghiệp chủ dự án.

BIDV hiện là một trong những ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam, dẫn đầu thị trường về cả cho vay và huy động tiền gửi với khoảng 15% thị phần tính đến 6 tháng đầu năm 2025. Về cơ cấu cổ đông, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nắm giữ hơn 80% vốn điều lệ, trong khi KEB Hana Bank giữ vị trí cổ đông lớn thứ hai với 15%./.

Trên hành trình phát triển dài hạn, BIDV xác định mục tiêu trở thành ngân hàng phát thải ròng bằng 0 vào năm 2045, tập trung mạnh vào tín dụng xanh, tài trợ bền vững và huy động các nguồn vốn thân thiện môi trường nhằm hiện thực hóa cam kết phát triển bền vững.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

(TBTCO) - Sáng 24/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng mạnh 11 đồng lên 25.283 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên. Chỉ số DXY tăng lên 101,44 điểm, tiến sát đỉnh một năm. Cùng lúc, Mỹ áp thuế nhập khẩu mới 10 - 12,5% với hơn 60 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam; còn Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giữ nguyên lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▼100K
Trang sức 99.9 13,490 ▲150K 14,190 ▲150K
Trang sức 99.99 13,500 ▲150K 14,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1236K 14,302 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1236K 14,303 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,385 ▲1248K 1,425 ▲1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,385 ▲1248K 1,426 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,355 ▲1221K 1,405 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,109 ▲1485K 139,109 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,736 ▲86275K 105,536 ▲95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 859 ▼84020K 957 ▼93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,064 ▲916K 85,864 ▲916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,227 ▼64168K 8,207 ▼72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,944 ▲625K 58,744 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cập nhật: 27/07/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17894 18168 18745
CAD 18128 18403 19020
CHF 31649 32029 32673
CNY 0 3849 3942
EUR 29363 29583 30664
GBP 34251 34642 35580
HKD 0 3226 3428
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14941 15529
SGD 19863 20145 20716
THB 699 762 816
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26135 26505
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,515
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,509 29,533 30,942
JPY 156.57 156.85 166.32
GBP 34,494 34,587 35,780
AUD 18,099 18,164 18,847
CAD 18,321 18,380 19,055
CHF 31,904 32,003 32,952
SGD 19,979 20,041 20,834
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.51 17.22 18.73
THB 747.49 756.72 809.6
NZD 14,933 15,072 15,517
SEK - 2,674 2,768
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,695 2,790
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.48 - 6,798.11
TWD 734.81 - 890.08
SAR - 6,893.16 7,259.71
KWD - 83,217 88,534
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,520
EUR 29,478 29,596 30,788
GBP 34,544 34,683 35,713
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 31,779 31,907 32,829
JPY 156.93 157.56 165.40
AUD 18,076 18,149 18,746
SGD 20,074 20,155 20,746
THB 764 767 803
CAD 18,370 18,444 19,022
NZD 15,037 15,581
KRW 17.20 19.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26144 26144 26504
AUD 18079 18179 19105
CAD 18310 18410 19426
CHF 31899 31929 33511
CNY 3830.3 3855.3 3990.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29546 29576 31301
GBP 34587 34637 36395
HKD 0 3355 0
JPY 157.45 157.95 168.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15060 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20025 20155 20878
THB 0 728.9 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13900000 13900000 14300000
SBJ 12800000 12800000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,144 26,194 26,510
USD20 26,144 26,194 26,510
USD1 26,144 26,194 26,510
AUD 18,125 18,225 19,332
EUR 29,356 29,456 31,112
CAD 18,269 18,369 19,675
SGD 20,103 20,253 20,809
JPY 157.99 159.49 165.05
GBP 34,511 34,661 35,717
XAU 13,898,000 0 14,302,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80