Tăng trưởng tín dụng xanh "đuối" dần

Anh Tú
(TBTCO) - Phát triển tín dụng xanh ghi nhận những tín hiệu tích cực bước đầu và tăng trưởng hai chữ số kéo dài nhiều năm. Tuy nhiên, dư nợ lĩnh vực này hiện vẫn hạn chế và tốc độ tăng trưởng đang đuối dần, một phần do khung pháp lý chưa hoàn thiện, thiếu hướng dẫn cụ thể về danh mục xanh, dự án xanh.
aa
Tăng trưởng tín dụng xanh "đuối" dần
Nguồn: FiinRatings Đồ họa: Văn Chung

Là kênh cung ứng tài chính quan trọng của nền kinh tế, ngành ngân hàng tiên phong xanh hóa dòng vốn đầu tư, nâng cao trách nhiệm xã hội hướng tới các mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, trong đó có yêu cầu về áp dụng các tiêu chí ESG (môi trường, xã hội và quản trị).

Bà Lê Mai - Giám đốc Quan hệ khách hàng kiêm Giám đốc quốc gia về Tài trợ Bền vững, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam cho biết, tài trợ phát triển bền vững là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của ngân hàng. “Tín dụng xanh chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ tín dụng. Trên toàn cầu, ngân hàng Standard Chartered cam kết giải ngân 300 tỷ USD đến năm 2030 cho hoạt động tài trợ bền vững. Đến năm 2023, ngân hàng giải ngân 87,2 tỷ USD và mong muốn sẽ giải ngân nhiều hơn nữa tại thị trường Việt Nam cũng như các thị trường khác” - bà Mai cho biết.

Mở lối dẫn dòng tín dụng xanh

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, bà Lê Mai cho biết tại thị trường Việt Nam, việc tài trợ các dự án xanh còn tương đối mới mẻ, vì vậy, ngân hàng sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp và tư vấn để họ tiếp cận tài chính xanh. Theo đó, các khoản vay tài trợ dự án, hoạt động sản xuất kinh doanh phải thoả mãn các bộ tiêu chuẩn, đánh giá cũng như tiêu chí xanh ngân hàng đề ra trong từng lĩnh vực.

Tăng trưởng tín dụng xanh "đuối" dần

Tín dụng xanh tăng trưởng 7,11%

“Đến ngày 30/9/2024 có 50 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh với dư nợ đạt trên 665.000 tỷ đồng, tăng 7,11% so với cuối năm 2023. Các tổ chức tín dụng tăng cường quản lý rủi ro về môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, dư nợ tín dụng được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt 3,28 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 22,33%/tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế, tăng 15,62% so với cuối năm 2023’. Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước)

Quan trọng nhất theo đại diện Standard Chartered là ngân hàng cần một bên thứ ba thực hiện đánh giá độc lập, xác nhận các dự án được cấp tín dụng xanh. Việc thiếu đồng bộ trong khung chính sách cho ESG cũng là một trong những rào cản với tăng trưởng tín dụng xanh.

Những năm vừa qua, Ngân hàng Standard Chartered nỗ lực hỗ trợ các khoản vay cho khách hàng, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Điểm lại vài dự án mà nhà băng này tài trợ vốn có thể kể đến như Nhà máy điện gió Tân Thuận, những dự án điện gió tại Cà Mau... Trong lĩnh vực xây dựng, Standard Chartered làm việc và hỗ trợ các dự án, công trình đạt các chứng chỉ xanh uy tín hàng đầu thế giới được cấp phép bởi IFC (Tổ chức Tài chính Thế giới).

Về nông nghiệp, ngân hàng đang trao đổi đang ở bước rất sơ bộ với các khách hàng trong lĩnh vực bao bì, thực phẩm tiêu dùng để cung cấp những món tài trợ thương mại gắn với cam kết phát triển bền vững. Bên cạnh đó, ngân hàng ngoại này còn hỗ trợ các định chế tài chính khác thông qua hình thức chiết khấu theo phương thức thư tín dụng xuất khẩu xanh.

“120 năm hiện diện tại Việt Nam, Standard Chartered mang đến cơ hội và niềm tin, với mong muốn người dẫn đầu, tiên phong hỗ trợ các khách hàng phát triển hơn nữa trong hành trình tiến tới net zero” - bà Mai bày tỏ.

Song hành cùng các ngân hàng ngoại, nhiều nhà băng trong nước đang tăng dần tỷ trọng tài trợ dự án xanh. Nhiều năm qua, Agribank tập trung ưu tiên nguồn vốn, mở rộng cho vay có hiệu quả các dự án, chương trình phát triển sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Dư nợ cho vay các lĩnh vực xanh của Agribank tăng trưởng ổn định từng năm, tỷ trọng tài trợ dự án xanh trong tổng dư nợ tín dụng của Agribank tăng từ 0,9% năm 2020 lên 1,8% năm 2023 và duy trì đến quý II/2024. Dư nợ cho vay đối với lĩnh vực xanh tại Agribank đạt 27.816 tỷ đồng, với 42.485 khách hàng còn dư nợ. Trong đó, dư nợ lĩnh vực năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm 55%; tiếp đến là lĩnh vực lâm nghiệp bền vững 24,5% và thứ ba là lĩnh vực nông nghiệp xanh, chiếm 20%.

Tăng trưởng chậm dần sau nhiều năm bứt tốc hai chữ số

Có thể thấy ngành ngân hàng đẩy nhanh quá trình thực hành ESG, kịp thời đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn thực hiện các dự án xanh, bền vững. Đồng thời, định hướng dòng vốn các doanh nghiệp đang sử dụng nguồn lực từ hệ thống ngân hàng tiến tới xanh hóa hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển bền vững.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, thời gian qua, NHNN chủ động nghiên cứu, xây dựng và ban hành nhiều văn bản triển khai hoạt động quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. NHNN cũng chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai nhiều chương trình tín dụng mang lại lợi ích về môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và các chương trình tín dụng cho các đối tượng chính sách.

Một thống kê của NHNN cũng cho thấy 7 năm qua (2017-2023), dư nợ cấp tín dụng xanh của hệ thống có mức tăng trưởng bình quân đạt hơn 22%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng nền kinh tế. Tính riêng năm 2023, tăng trưởng tín dụng xanh lên tới 24% so với cuối năm 2022, chiếm tỷ trọng khoảng 4,5% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, với dư nợ đạt 620.984 tỷ đồng.

Như vậy, có thể thấy từ đầu năm 2024 đến nay, tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh có dấu hiệu hụt hơi khi chỉ tăng trưởng 7,11% so với cuối năm 2023 và thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế, một điều hiếm khi xảy ra.

Dù có những tín hiệu tích cực bước đầu song vẫn còn nhiều thách thức đặt với cơ quan quản lý và các đơn vị thực thi. Do hành lang pháp lý chưa đầy đủ, danh mục phân loại xanh quốc gia chưa ban hành, thiếu tiêu chí xác định với các dự án được cấp tín dụng xanh nên các tổ chức tín dụng gặp khó khi cho vay. Cùng với đó, các chính sách ưu đãi về thuế và các cơ chế song hành cũng đang chậm chân khiến nguồn vốn tín dụng xanh khó khơi thông.

Trái phiếu xanh sôi động nhờ bảo lãnh từ các tổ chức nước ngoài

Song hành cùng tín dụng xanh, dòng vốn xanh từ thị trường trái phiếu dần sôi động. Tính từ đầu năm đến ngày 20/11, thống kê của FiinRatings cho thấy có 04 lô trái phiếu xanh được phát hành theo nguyên tắc xanh của Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế (ICMA) với tổng giá trị 6,87 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 2% tổng giá trị phát hành trong kỳ. Các lô trái phiếu phát hành thành công đến từ: Công ty cổ phần Điện Gia Lai (GEC), BIDV, Vietcombank và Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đa Quốc Gia I.D.I. Các lô trái phiếu này đều được các tổ chức độc lập thực hiện đánh giá xác nhận.

Tính riêng tháng 10/2024, lô trái phiếu 1.000 tỷ đồng do Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đa quốc gia I.D.I phát hành thuộc lĩnh vực thủy sản được bảo lãnh thanh toán bởi một công ty dịch vụ bảo lãnh đa quốc gia, đó là GuarantCo. Hiện tỷ lệ trái phiếu được bảo lãnh bởi các tổ chức nước ngoài (CGIF và GuarantCo) vẫn còn thấp nhưng đây đang là xu thế trên thị trường, đặc biệt là đối với các trái phiếu xanh.

“Hiện các doanh nghiệp đang chủ động xây dựng khung tài chính xanh/khung trái phiếu xanh và thực hiện đánh giá độc lập trước phát hành theo tiêu chuẩn quốc tế” - FiinRatings cho biết.

Trước đó, giai đoạn 2016 - 2023, Việt Nam phát hành khoảng 1,1 tỷ USD trái phiếu xanh, xã hội và bền vững, tương ứng khoảng gần 27 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,8% tổng giá trị thị trường, thấp hơn đáng kể so với mức 5-7% của các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Philippines.

Anh Tú

Đọc thêm

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

(TBTCO) - Hơn 640 triệu cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVB) chính thức được đưa vào giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) từ ngày 21/7, với giá tham chiếu 13.100 đồng/cổ phiếu.
Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm từ hơn 12.000 xuống còn 695, song quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn vẫn còn nhiều "điểm nghẽn". Nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu không phải chỉ sắp xếp, "dọn dẹp" hay bán vốn, mà là nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và vai trò dẫn dắt tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Hà Nội - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Miền Tây - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▲100K 14,700 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▲100K 14,700 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▲100K 14,700 ▲100K
NL 99.99 13,200 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲200K
Trang sức 99.9 13,890 ▲100K 14,590 ▲100K
Trang sức 99.99 13,900 ▲100K 14,600 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1290K 14,702 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1290K 14,703 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲6K 146 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲6K 1,461 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Cập nhật: 22/07/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17893 18167 18748
CAD 18135 18411 19028
CHF 31743 32124 32766
CNY 0 3846 3939
EUR 29406 29627 30705
GBP 34431 34823 35764
HKD 0 3228 3430
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 15028 15616
SGD 19854 20136 20713
THB 695 758 811
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26153 26513
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,507 29,531 30,939
JPY 156.94 157.22 166.7
GBP 34,601 34,695 35,891
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,318 18,377 19,054
CHF 31,989 32,088 33,024
SGD 19,956 20,018 20,800
CNY - 3,817 3,962
HKD 3,290 3,300 3,439
KRW 16.4 17.1 18.6
THB 743.65 752.83 805.44
NZD 15,004 15,143 15,592
SEK - 2,666 2,761
DKK - 3,947 4,086
NOK - 2,688 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.86 - 6,784.43
TWD 734.98 - 890.28
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,260 88,579
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26515
AUD 18092 18192 19114
CAD 18319 18419 19430
CHF 31995 32025 33611
CNY 3829.9 3854.9 3990.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29584 29614 31339
GBP 34745 34795 36556
HKD 0 3355 0
JPY 157.93 158.43 168.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15145 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19998 20128 20860
THB 0 724.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,153 26,203 26,523
USD20 26,153 26,203 26,523
USD1 23,997 26,203 26,523
AUD 18,192 18,292 19,399
EUR 29,427 29,527 31,185
CAD 18,323 18,423 19,728
SGD 20,107 20,257 20,817
JPY 158.83 160.33 165.86
GBP 34,741 34,891 35,956
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80