Tăng trưởng tín dụng xanh "đuối" dần

Anh Tú
(TBTCO) - Phát triển tín dụng xanh ghi nhận những tín hiệu tích cực bước đầu và tăng trưởng hai chữ số kéo dài nhiều năm. Tuy nhiên, dư nợ lĩnh vực này hiện vẫn hạn chế và tốc độ tăng trưởng đang đuối dần, một phần do khung pháp lý chưa hoàn thiện, thiếu hướng dẫn cụ thể về danh mục xanh, dự án xanh.
aa
Tăng trưởng tín dụng xanh "đuối" dần
Nguồn: FiinRatings Đồ họa: Văn Chung

Là kênh cung ứng tài chính quan trọng của nền kinh tế, ngành ngân hàng tiên phong xanh hóa dòng vốn đầu tư, nâng cao trách nhiệm xã hội hướng tới các mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, trong đó có yêu cầu về áp dụng các tiêu chí ESG (môi trường, xã hội và quản trị).

Bà Lê Mai - Giám đốc Quan hệ khách hàng kiêm Giám đốc quốc gia về Tài trợ Bền vững, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam cho biết, tài trợ phát triển bền vững là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của ngân hàng. “Tín dụng xanh chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ tín dụng. Trên toàn cầu, ngân hàng Standard Chartered cam kết giải ngân 300 tỷ USD đến năm 2030 cho hoạt động tài trợ bền vững. Đến năm 2023, ngân hàng giải ngân 87,2 tỷ USD và mong muốn sẽ giải ngân nhiều hơn nữa tại thị trường Việt Nam cũng như các thị trường khác” - bà Mai cho biết.

Mở lối dẫn dòng tín dụng xanh

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, bà Lê Mai cho biết tại thị trường Việt Nam, việc tài trợ các dự án xanh còn tương đối mới mẻ, vì vậy, ngân hàng sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp và tư vấn để họ tiếp cận tài chính xanh. Theo đó, các khoản vay tài trợ dự án, hoạt động sản xuất kinh doanh phải thoả mãn các bộ tiêu chuẩn, đánh giá cũng như tiêu chí xanh ngân hàng đề ra trong từng lĩnh vực.

Tăng trưởng tín dụng xanh "đuối" dần

Tín dụng xanh tăng trưởng 7,11%

“Đến ngày 30/9/2024 có 50 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh với dư nợ đạt trên 665.000 tỷ đồng, tăng 7,11% so với cuối năm 2023. Các tổ chức tín dụng tăng cường quản lý rủi ro về môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, dư nợ tín dụng được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt 3,28 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 22,33%/tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế, tăng 15,62% so với cuối năm 2023’. Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước)

Quan trọng nhất theo đại diện Standard Chartered là ngân hàng cần một bên thứ ba thực hiện đánh giá độc lập, xác nhận các dự án được cấp tín dụng xanh. Việc thiếu đồng bộ trong khung chính sách cho ESG cũng là một trong những rào cản với tăng trưởng tín dụng xanh.

Những năm vừa qua, Ngân hàng Standard Chartered nỗ lực hỗ trợ các khoản vay cho khách hàng, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Điểm lại vài dự án mà nhà băng này tài trợ vốn có thể kể đến như Nhà máy điện gió Tân Thuận, những dự án điện gió tại Cà Mau... Trong lĩnh vực xây dựng, Standard Chartered làm việc và hỗ trợ các dự án, công trình đạt các chứng chỉ xanh uy tín hàng đầu thế giới được cấp phép bởi IFC (Tổ chức Tài chính Thế giới).

Về nông nghiệp, ngân hàng đang trao đổi đang ở bước rất sơ bộ với các khách hàng trong lĩnh vực bao bì, thực phẩm tiêu dùng để cung cấp những món tài trợ thương mại gắn với cam kết phát triển bền vững. Bên cạnh đó, ngân hàng ngoại này còn hỗ trợ các định chế tài chính khác thông qua hình thức chiết khấu theo phương thức thư tín dụng xuất khẩu xanh.

“120 năm hiện diện tại Việt Nam, Standard Chartered mang đến cơ hội và niềm tin, với mong muốn người dẫn đầu, tiên phong hỗ trợ các khách hàng phát triển hơn nữa trong hành trình tiến tới net zero” - bà Mai bày tỏ.

Song hành cùng các ngân hàng ngoại, nhiều nhà băng trong nước đang tăng dần tỷ trọng tài trợ dự án xanh. Nhiều năm qua, Agribank tập trung ưu tiên nguồn vốn, mở rộng cho vay có hiệu quả các dự án, chương trình phát triển sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Dư nợ cho vay các lĩnh vực xanh của Agribank tăng trưởng ổn định từng năm, tỷ trọng tài trợ dự án xanh trong tổng dư nợ tín dụng của Agribank tăng từ 0,9% năm 2020 lên 1,8% năm 2023 và duy trì đến quý II/2024. Dư nợ cho vay đối với lĩnh vực xanh tại Agribank đạt 27.816 tỷ đồng, với 42.485 khách hàng còn dư nợ. Trong đó, dư nợ lĩnh vực năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm 55%; tiếp đến là lĩnh vực lâm nghiệp bền vững 24,5% và thứ ba là lĩnh vực nông nghiệp xanh, chiếm 20%.

Tăng trưởng chậm dần sau nhiều năm bứt tốc hai chữ số

Có thể thấy ngành ngân hàng đẩy nhanh quá trình thực hành ESG, kịp thời đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn thực hiện các dự án xanh, bền vững. Đồng thời, định hướng dòng vốn các doanh nghiệp đang sử dụng nguồn lực từ hệ thống ngân hàng tiến tới xanh hóa hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển bền vững.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, thời gian qua, NHNN chủ động nghiên cứu, xây dựng và ban hành nhiều văn bản triển khai hoạt động quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. NHNN cũng chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai nhiều chương trình tín dụng mang lại lợi ích về môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và các chương trình tín dụng cho các đối tượng chính sách.

Một thống kê của NHNN cũng cho thấy 7 năm qua (2017-2023), dư nợ cấp tín dụng xanh của hệ thống có mức tăng trưởng bình quân đạt hơn 22%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng nền kinh tế. Tính riêng năm 2023, tăng trưởng tín dụng xanh lên tới 24% so với cuối năm 2022, chiếm tỷ trọng khoảng 4,5% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, với dư nợ đạt 620.984 tỷ đồng.

Như vậy, có thể thấy từ đầu năm 2024 đến nay, tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh có dấu hiệu hụt hơi khi chỉ tăng trưởng 7,11% so với cuối năm 2023 và thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế, một điều hiếm khi xảy ra.

Dù có những tín hiệu tích cực bước đầu song vẫn còn nhiều thách thức đặt với cơ quan quản lý và các đơn vị thực thi. Do hành lang pháp lý chưa đầy đủ, danh mục phân loại xanh quốc gia chưa ban hành, thiếu tiêu chí xác định với các dự án được cấp tín dụng xanh nên các tổ chức tín dụng gặp khó khi cho vay. Cùng với đó, các chính sách ưu đãi về thuế và các cơ chế song hành cũng đang chậm chân khiến nguồn vốn tín dụng xanh khó khơi thông.

Trái phiếu xanh sôi động nhờ bảo lãnh từ các tổ chức nước ngoài

Song hành cùng tín dụng xanh, dòng vốn xanh từ thị trường trái phiếu dần sôi động. Tính từ đầu năm đến ngày 20/11, thống kê của FiinRatings cho thấy có 04 lô trái phiếu xanh được phát hành theo nguyên tắc xanh của Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế (ICMA) với tổng giá trị 6,87 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 2% tổng giá trị phát hành trong kỳ. Các lô trái phiếu phát hành thành công đến từ: Công ty cổ phần Điện Gia Lai (GEC), BIDV, Vietcombank và Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đa Quốc Gia I.D.I. Các lô trái phiếu này đều được các tổ chức độc lập thực hiện đánh giá xác nhận.

Tính riêng tháng 10/2024, lô trái phiếu 1.000 tỷ đồng do Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đa quốc gia I.D.I phát hành thuộc lĩnh vực thủy sản được bảo lãnh thanh toán bởi một công ty dịch vụ bảo lãnh đa quốc gia, đó là GuarantCo. Hiện tỷ lệ trái phiếu được bảo lãnh bởi các tổ chức nước ngoài (CGIF và GuarantCo) vẫn còn thấp nhưng đây đang là xu thế trên thị trường, đặc biệt là đối với các trái phiếu xanh.

“Hiện các doanh nghiệp đang chủ động xây dựng khung tài chính xanh/khung trái phiếu xanh và thực hiện đánh giá độc lập trước phát hành theo tiêu chuẩn quốc tế” - FiinRatings cho biết.

Trước đó, giai đoạn 2016 - 2023, Việt Nam phát hành khoảng 1,1 tỷ USD trái phiếu xanh, xã hội và bền vững, tương ứng khoảng gần 27 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,8% tổng giá trị thị trường, thấp hơn đáng kể so với mức 5-7% của các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Philippines.

Anh Tú

Đọc thêm

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

(TBTCO) - Quyết định số 1154/QĐ-BTC do Bộ Tài chính vừa ban hành sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược đua ngựa, đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế, nhằm thực hiện Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,700 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,750 ▲150K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18217 18492 19068
CAD 18617 18894 19511
CHF 32834 33219 33855
CNY 0 3832 3924
EUR 29993 30266 31291
GBP 34523 34915 35860
HKD 0 3234 3436
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15084 15666
SGD 20033 20315 20838
THB 723 786 839
USD (1,2) 26092 0 0
USD (5,10,20) 26134 0 0
USD (50,100) 26162 26182 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,149 26,149 26,389
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,236 30,260 31,531
JPY 161.58 161.87 170.75
GBP 34,787 34,881 35,889
AUD 18,505 18,572 19,173
CAD 18,866 18,927 19,518
CHF 33,217 33,320 34,117
SGD 20,213 20,276 20,966
CNY - 3,812 3,936
HKD 3,306 3,316 3,436
KRW 16.16 16.85 18.23
THB 771.95 781.48 832.43
NZD 15,143 15,284 15,654
SEK - 2,763 2,845
DKK - 4,046 4,166
NOK - 2,805 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,212.73 - 6,975.83
TWD 753.13 - 907.44
SAR - 6,921.2 7,250.88
KWD - 83,808 88,689
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26389
AUD 18396 18496 19421
CAD 18796 18896 19910
CHF 33070 33100 34687
CNY 3812.1 3837.1 3972.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30173 30203 31925
GBP 34830 34880 36633
HKD 0 3355 0
JPY 162.13 162.63 173.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20188 20318 21049
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,183 26,233 26,389
USD20 26,183 26,233 26,389
USD1 26,183 26,233 26,389
AUD 18,498 18,598 19,705
EUR 30,356 30,356 31,765
CAD 18,769 18,869 20,176
SGD 20,275 20,425 21,265
JPY 162.6 164.1 168.65
GBP 34,702 35,052 35,914
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80