Ngân hàng vẫn dẫn dắt dòng vốn, quy mô dư nợ tín dụng dự kiến gấp 2 lần sau 5 năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo các chuyên gia, khi nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số những năm tới, hệ thống ngân hàng vẫn đóng vai trò trụ cột dẫn vốn. Nếu tín dụng duy trì mức tăng khoảng 15%/năm, quy mô dư nợ toàn nền kinh tế có thể tăng gấp đôi sau 5 năm, kéo theo sự mở rộng tương ứng về tài sản, vốn chủ sở hữu.
aa
Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Chính sách tài khóa vững vàng "chèo lái" tăng trưởng khi tiền tệ dần cạn dư địa Khi tín dụng "căng" tới 134% GDP, cần làm mới chiến lược thu hút vốn

Chia sẻ tại Phiên thảo luận số 3 với chủ đề “Thị trường tài chính - Trụ cột và động lực tăng trưởng Việt Nam” chiều ngày 4/11 trong khuôn khổ Diễn đàn Đầu tư Việt Nam 2026 (Vietnam Investment Forum - VIF 2026) do VietnamBiz và Việt Nam Mới tổ chức, PGS TS. Nguyễn Hữu Huân nhấn mạnh, để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế 10%, tức tăng trưởng hai con số từ năm 2026 trở đi và duy trì tốc độ đó trong 20 năm liên tục đến 2045, giúp Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình đòi hỏi cần lượng vốn rất lớn.

Ngân hàng vẫn là trụ cột dẫn vốn

Theo PGS TS. Nguyễn Hữu Huân, tại Việt Nam, nền kinh tế vận hành theo mô hình "bank-based system", tức hệ thống tăng trưởng và huy động vốn dựa vào ngân hàng khá nhiều. Hiện tỷ lệ dư nợ trên GDP đã vượt 130%, cho thấy vai trò của ngân hàng trong hệ thống tài chính rất lớn.

Ngân hàng vẫn dẫn dắt dòng vốn, quy mô dư nợ tín dụng dự kiến gấp 2 lần sau 5 năm
Các chuyên gia trao đổi tại phiên thảo luận số 3 với chủ đề “Thị trường tài chính - Trụ cột và động lực tăng trưởng Việt Nam”. Ảnh tư liệu.

Cũng theo đánh giá của TS. Nguyễn Tú Anh - Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Trường Đại học VinUni, trong 15 năm tới, nền kinh tế Việt Nam vẫn sẽ duy trì mô hình phát triển dựa vào hệ thống ngân hàng. Thị trường vốn sẽ phát triển và đồng hành, nhưng với các nền kinh tế Đông Á hay thậm chí ngay cả ở Mỹ, ngân hàng vẫn có lợi thế hơn trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế.

"Bản chất của thị trường tài chính là kinh doanh rủi ro, trong đó ngân hàng là nơi chuyên môn hóa trong việc thu thập, xử lý thông tin và quản lý rủi ro. Cùng với sự phát triển của công nghệ số, việc này càng ngày càng có thể làm được với quy mô lớn hơn, chi phí rẻ hơn và tiếp cận được nhiều cá nhân hơn. Do đó, chi phí quản lý vốn và rủi ro của ngân hàng ngày càng hiệu quả hơn" - ông Tú Anh nhấn định.

"Trong 5 năm tới, tín dụng sẽ phải tăng gấp đôi. Khi đó, quy mô tài sản của ngân hàng, vốn chủ sở hữu và các yếu tố liên quan khác cũng sẽ tăng tương ứng. Rõ ràng vai trò của hệ thống ngân hàng là vô cùng quan trọng".

TS. Nguyễn Tú Anh - Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Trường Đại học VinUni.

Cũng theo TS. Nguyễn Tú Anh, giả sử đặt bài toán tăng trưởng 10% từ nay đến năm 2030, cộng thêm khoảng 3% lạm phát thì tăng trưởng danh nghĩa vào khoảng 13%.

Để đạt được mức này, thông thường tăng trưởng tín dụng phải vượt qua tăng trưởng của GDP danh nghĩa khoảng 3 điểm phần trăm. Do đó, tăng trưởng tín dụng cần đạt khoảng 15%/năm, từ nay đến năm 2030.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối năm 2024, dư nợ toàn nền kinh tế đạt 15,6 triệu tỷ đồng, tăng 15,08% so với năm trước; đến cuối tháng 9/2025, con số này đã vượt 17,5 triệu tỷ đồng, tăng 13,4%. Với tốc độ tăng trưởng tín dụng dự kiến khoảng 20% trong năm nay, quy mô dư nợ toàn nền kinh tế sau 5 năm có thể đạt 35 - 37 triệu tỷ đồng.

Đánh giá sâu hơn về con số tỷ lệ tín dụng của Việt Nam/GDP 134%, ông Quản Trọng Thành - Giám đốc Khối Phân tích Maybank Securities Vietnam cho biết, trong giai đoạn từ năm 2013 đến trước năm 2022, tín dụng tăng mạnh chủ yếu đến từ cho vay bán lẻ, cho vay doanh nghiệp trên GDP chiếm tỷ trọng không quá lớn. Nếu so sánh con số này với các thị trường khác, đây vẫn là một tỷ lệ rất an toàn và còn dư địa để phát triển thêm.

Sau năm 2022, có những biến cố về vĩ mô khiến nhu cầu vay của cá nhân chậm lại. Từ năm 2024 đến nay, cho vay doanh nghiệp đang trở thành động lực chính của tăng trưởng tín dụng và đó là hướng đi đúng.

Ngân hàng số hóa mạnh mẽ, tiếp sức khu vực tư nhân

Theo nhìn nhận của ông Quản Trọng Thành, dư địa cho vay doanh nghiệp vẫn còn rất lớn, với tỷ lệ cho vay doanh nghiệp trên GDP dưới 80%, ở mức lành mạnh. "Chính phủ hiện đang khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư hạ tầng và năng lượng. Tôi cho rằng “miếng bánh” này đang mở rộng và mức độ tham gia của doanh nghiệp tư nhân cũng ngày càng tăng" - ông Thành bày tỏ.

Lấy doanh nghiệp tư nhân làm chủ lực, dịch chuyển vốn vào sản xuất

"Hướng đi tiếp theo là mở rộng cho vay sản xuất. Khi chúng ta bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh, hướng tới mục tiêu trên 10% GDP và lấy doanh nghiệp tư nhân làm chủ lực. Cho vay sản xuất sẽ là nơi mở rộng quy mô, tuy nhiên, đây là câu chuyện dài hạn, cần 5 đến 10 năm để chuyển dịch dần" - Giám đốc Khối Phân tích Maybank Securities Vietnam đánh giá.

Trong ngắn hạn, động lực cho vay sẽ đến từ mảng hạ tầng và năng lượng. Những năm gần đây, quy mô đầu tư vào các lĩnh vực này còn nhỏ, nhưng trong 5 năm tới, theo kế hoạch tăng trưởng GDP 10% và tổng vốn đầu tư cần khoảng 1.400 tỷ USD, tức bình quân mỗi năm khoảng 280 tỷ USD.

Trong đó, nguồn vốn FDI chỉ chiếm 24 - 30 tỷ USD, còn lại hơn 250 tỷ USD phải đến từ khu vực trong nước, bao gồm Chính phủ và doanh nghiệp tư nhân.

Ở góc độ chuyển đổi số, theo ông Quản Trọng Thành, hiện ngân hàng là ngành đang áp dụng chuyển đổi số nhiều nhất, cả trong vận hành nội bộ lẫn cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Gần đây, những ngân hàng như: ACB, MB... rất tích cực trong việc hỗ trợ các hộ kinh doanh chuẩn chỉ về mặt số liệu. Chính những dữ liệu này sẽ là nguồn thông tin đầu vào để các ngân hàng sử dụng hệ thống big data, trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm xây dựng các mô hình định giá tín nhiệm. Qua đó, không gian đầu tư sẽ được mở rộng dần.

TS. Nguyễn Tú Anh cho rằng, mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm tới sẽ phụ thuộc lớn vào việc chúng ta có thành công trong chuyển đổi số hay không, nhằm để quá trình ra quyết định nhanh hơn và chính xác hơn.

Hiện hệ thống ngân hàng và tài chính đang đi đầu trong chuyển đổi số, từ đó, tạo ra hiệu ứng lan tỏa. Đơn cử như trong thanh toán, định danh điện tử (KYC) giúp kích thích các lĩnh vực khác cũng phải chuyển đổi số theo như số hoá trong kế toán, dẫn đến số hoá trong sản xuất…

Ngân hàng cũng đang phát triển mạnh giao diện lập trình ứng dụng (API), tức là các nền tảng chia sẻ dùng chung, giúp nhiều sáng kiến tài chính mới ra đời.

Làm rõ thêm vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, hiện ngân hàng không chỉ đóng vai trò là kênh huy động vốn chủ yếu cho nền kinh tế Việt Nam, mà còn là lực lượng đi đầu trong đổi mới sáng tạo và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn tới.

"Mô hình mở giúp các định chế khác trong nền kinh tế dễ dàng tiếp cận hơn với dịch vụ ngân hàng, thông qua các nền tảng API và ngân hàng mở (open banking). Những sản phẩm và dịch vụ mới dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại sẽ dần dần thay đổi luật chơi tài chính trong kỷ nguyên mới" - ông Huân bày tỏ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80