Chính sách tài khóa vững vàng "chèo lái" tăng trưởng khi tiền tệ dần cạn dư địa

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng tiếp tục là trụ cột thúc đẩy tăng trưởng, nhưng cũng là “lằn ranh đỏ” về rủi ro. Với dư nợ toàn nền kinh tế lên tới 134% GDP cuối năm 2024, vượt xa ngưỡng cảnh báo của nhiều tổ chức quốc tế. Trao đổi với phóng viên, GS. TS. Tô Trung Thành - Trưởng phòng Quản lý khoa học, Đại học Kinh tế Quốc dân cảnh báo sự lệ thuộc quá mức vào tín dụng; đồng thời, nhấn mạnh vai trò của chính sách tài khoá trong bối cảnh dư địa tiền tệ đang dần cạn.
aa
Chính sách tài khóa vững vàng
Nguồn: Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Đồ họa: Văn Chung

PV: Dư nợ tín dụng của Việt Nam trong nhiều năm qua thường xuyên vượt ngưỡng an toàn khuyến nghị của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), riêng đến cuối năm 2024 đã lên tới 134% GDP. Ông nhận định như thế nào về thực trạng này?

Chính sách tài khóa vững vàng

GS. TS. Tô Trung Thành: Nhiều năm qua, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao, nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực là một thực tế đáng lưu tâm. Mô hình tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào đầu tư và tín dụng, song thiếu vắng vai trò của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thực trạng này được đặt ra từ lâu nhưng mô hình tăng trưởng chưa có nhiều cải thiện.

Để tăng trưởng cao, tín dụng thường tăng cao để hỗ trợ. Đến cuối năm 2024, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt 15,6 triệu tỷ đồng, tương đương 134% GDP, vượt xa ngưỡng khuyến nghị an toàn của IMF. Ước tính 5 tháng đầu năm 2025, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế tăng 6,52%, vượt xa so cùng kỳ (2,41%). Điều này phản ánh hai vấn đề lớn trong tăng trưởng của nền kinh tế.

Thứ nhất, khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân trong nước phụ thuộc nặng nề vào vốn vay tín dụng, do thiếu các kênh tiếp cận vốn trung dài hạn khác.

Mở rộng tín dụng thiếu định hướng, nhiều rủi ro chực chờ

"Nếu tín dụng mở rộng nhưng không đi vào các lĩnh vực sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng cao thì hiệu quả đầu tư sẽ giảm, gây lãng phí nguồn lực và tạo ra bong bóng tài sản ở những khu vực đầu cơ như bất động sản, chứng khoán. Đồng thời, rủi ro nợ xấu sẽ gia tăng. Do đó, tính lành mạnh tài chính của hệ thống ngân hàng cũng cần phải được tăng cường, đặc biệt về chỉ tiêu an toàn vốn, tính thanh khoản và chất lượng tài sản, để đảm bảo xử lý các rủi ro tài chính và vĩ mô" - GS. TS. Tô Trung Thành

Thứ hai, hệ thống ngân hàng vẫn là nơi chịu trách nhiệm “gánh vác” tăng trưởng thông qua tín dụng. Tuy nhiên hệ thống tài chính - ngân hàng chưa đạt trạng thái lành mạnh một cách bền vững khi hệ số an toàn vốn (CAR) còn mỏng, chất lượng tài sản có dấu hiệu suy giảm, nợ xấu gia tăng, áp lực thanh khoản hệ thống còn hiện hữu... Nếu tiếp tục tăng nhanh tín dụng và giảm lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng, có thể phải đánh đổi bởi bất ổn kinh tế vĩ mô.

Cả hai vấn đề trên đều đưa đến hệ quả mô hình tăng trưởng thiếu bền vững, có rủi ro.

PV: Trong bối cảnh nhu cầu vốn thường tăng mạnh vào nửa cuối năm và áp lực thanh khoản trở thành điểm nghẽn lớn, xin ông làm rõ những rủi ro đối với ổn định kinh tế vĩ mô khi hệ thống ngân hàng vẫn phải gánh vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn, trong khi nguồn huy động chủ yếu là ngắn hạn, thậm chí không kỳ hạn?

GS. TS. Tô Trung Thành: Phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng dẫn đến nhiều rủi ro. Rủi ro thứ nhất là mất cân đối giữa kỳ hạn huy động và cho vay, còn gọi là rủi ro kỳ hạn. Các ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn, thậm chí không kỳ hạn, trong khi phần lớn dư nợ cho vay là trung và dài hạn. Hiện khoảng 55% tổng tín dụng là trung dài hạn, trong khi 80% huy động lại là ngắn hạn hoặc không kỳ hạn. Điều này khiến hệ thống dễ tổn thương trước cú sốc thanh khoản, đặc biệt khi niềm tin thị trường bị ảnh hưởng.

Thứ hai, rủi ro nợ xấu. Khi tín dụng tăng nhanh nhưng hiệu quả đầu tư chưa cải thiện, tỷ lệ nợ xấu tiềm ẩn gia tăng, đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính tiền tệ. Áp lực tăng trưởng tín dụng cao để hỗ trợ tăng trưởng có thể gia tăng tình trạng “nới lỏng tiêu chuẩn tín dụng”, gây ra các khoản vay kém chất lượng. Ngoài ra, tỷ lệ dự phòng nợ xấu của các ngân hàng Việt giảm từ mức 150% (năm 2022) xuống còn khoảng 83% giữa năm 2025. Điều này cho thấy dư địa ứng phó với rủi ro tín dụng ngày càng thu hẹp.

Thứ ba, rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô ngày càng hiện hữu. Việc tín dụng và cung tiền gia tăng mạnh, trong khi hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế, sẽ tạo áp lực lớn lên lạm phát; giá tài sản, đặc biệt là bất động sản, có xu hướng bị đẩy lên cao; tỷ giá USD cũng đối mặt với sức ép gia tăng. Nếu không được kiểm soát kịp thời, những bất ổn tài chính và vĩ mô này sẽ lan truyền và tác động tiêu cực đến nền kinh tế thực.

PV: Trước mục tiêu tăng trưởng cao và nhu cầu vốn lớn cho các dự án dài hạn, theo ông, việc tiếp tục mở rộng tín dụng có còn là hướng đi bền vững, xét trên khả năng hấp thụ vốn, hiệu quả đầu tư và sức chịu đựng của hệ thống ngân hàng?

GS. TS. Tô Trung Thành: Trong bối cảnh các nguồn lực khác còn hạn chế, tiếp tục mở rộng tín dụng trong bối cảnh nền kinh tế đang cần phục hồi và tăng trưởng nhanh là không tránh khỏi. Với những rủi ro nêu ở trên, gia tăng tín dụng cần phải được thực hiện một cách thận trọng, giảm thiểu rủi ro và phải dựa vào các nguyên tắc cơ bản: năng lực hấp thụ vốn thực chất của nền kinh tế; chất lượng của dòng tín dụng; khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng.

Các giải pháp tín dụng hiện nay chủ yếu mang tính ngắn hạn. Việc mở rộng tín dụng chỉ thực sự bền vững khi được tích hợp trong một chiến lược tổng thể về phát triển thị trường tài chính và tái cấu trúc mô hình tăng trưởng kinh tế.

Để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế, Việt Nam cần đồng thời phát triển hai kênh trọng yếu là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường cổ phiếu. Cả hai kênh này đều có tiềm năng lớn trong chia sẻ gánh nặng vốn với hệ thống ngân hàng; đồng thời, tạo nền tảng phát triển năng động của khu vực doanh nghiệp. Việc nâng cao tỷ trọng đóng góp các kênh này cũng góp phần tạo nên cấu trúc tài chính cân bằng, cân đối và phát triển lành mạnh hơn.

PV: Xin cảm ơn ông!

Dư địa tài khóa không phải là vô hạn

Hiện nay, cả chính sách tài khóa và tiền tệ đều theo hướng mở rộng, song dư địa hỗ trợ từ chính sách tiền tệ dần thu hẹp do áp lực tín dụng tăng cao, tỷ giá biến động mạnh và lãi suất khó giảm thêm.

Trong bối cảnh đó, theo GS. TS. Tô Trung Thành, chính sách tài khóa nên được coi là chính sách chủ đạo hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Theo đó, trong thời gian tới, ông Thành cho rằng, Chính phủ cần tiếp tục đẩy mạnh chính sách tài khóa nghịch chu kỳ nhằm thúc đẩy tổng cầu và hỗ trợ tăng trưởng, đặc biệt khi ngân sách không quá căng thẳng và nợ công có xu hướng giảm. Tình hình ngân sách khả quan năm 2024 tạo ra dư địa lớn hơn cho chính sách tài khóa, có thể tận dụng để hỗ trợ cho tăng trưởng.

Mục tiêu này cần thực hiện qua hai công cụ gồm: tăng chi tiêu công và giảm thuế. Theo đó, Chính phủ cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, chính sách đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Giảm thuế cần áp dụng đúng đối tượng, đơn giản hóa thủ tục hoàn thuế. Hơn nữa, trong tình hình khó khăn, tình trạng sụt giảm sản xuất của các doanh nghiệp khiến hàng trăm nghìn người lao động giảm giờ làm, mất việc làm, giảm thu nhập, việc cải thiện chính sách an sinh xã hội sẽ đóng góp lớn vào tăng tiêu dùng và phải đưa nhóm yếu thế vào trọng tâm chính sách.

Tuy nhiên, chuyên gia từ Đại học Kinh tế Quốc dân lưu ý rằng, dư địa tài khóa không phải là vô hạn, áp lực nợ công sẽ quay trở lại nếu chi tiêu không hiệu quả. Do đó, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, cải cách thể chế tài chính công là điểm mấu chốt giai đoạn tới. Đầu tư công cần đi liền với cải thiện môi trường đầu tư tư nhân, nâng cao năng lực thực thi và minh bạch hóa quy trình phân bổ vốn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Việt Nam - Áo thúc đẩy hợp tác quản lý, giám sát thị trường tài chính

Việt Nam - Áo thúc đẩy hợp tác quản lý, giám sát thị trường tài chính

(TBTCO) - Chiều ngày 15/9/2026 (theo giờ địa phương), tại Vienna, Cộng hòa Áo, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi đã có buổi làm việc với bà Mariana Kühnel, tân Giám đốc điều hành Cơ quan Giám sát Thị trường Tài chính Áo (FMA), nhằm trao đổi kinh nghiệm quản lý, giám sát thị trường tài chính và định hướng hợp tác giữa hai bên.
Xuất cấp hơn 5.567 tấn gạo dự trữ hỗ trợ học sinh

Xuất cấp hơn 5.567 tấn gạo dự trữ hỗ trợ học sinh

(TBTCO) - Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực V đã khẩn trương phối hợp chặt chẽ với các địa phương miền núi phía Bắc hoàn thành xuất cấp, vận chuyển và bàn giao hơn 5.567 tấn gạo dự trữ quốc gia hỗ trợ học sinh, học viên 3 tỉnh miền núi phía Bắc (Điện Biên, Sơn La, Lai Châu).
Giải ngân vốn đầu tư công đạt 51,2% kế hoạch Thủ tướng giao

Giải ngân vốn đầu tư công đạt 51,2% kế hoạch Thủ tướng giao

(TBTCO) - Đến hết ngày 10/9/2026, cả nước đã giải ngân 523.813,6 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 51,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. So với một tuần trước, số vốn giải ngân thêm hơn 10.500 tỷ đồng.
Đầu tư công mở đường, khơi thông nguồn lực

Đầu tư công mở đường, khơi thông nguồn lực

(TBTCO) - Trong giai đoạn phát triển mới, Quảng Ninh tiếp tục sử dụng đầu tư công để hoàn thiện hạ tầng, tháo gỡ điểm nghẽn và tạo điều kiện thu hút nguồn lực ngoài ngân sách.
Huy động trái phiếu Chính phủ: Điều tiết linh hoạt, giảm áp lực chi phí vay

Huy động trái phiếu Chính phủ: Điều tiết linh hoạt, giảm áp lực chi phí vay

(TBTCO) - Thị trường tài chính - tiền tệ trong và ngoài nước tiếp tục có những yếu tố khó lường, đặt công tác huy động vốn qua phát hành trái phiếu Chính phủ trước yêu cầu vừa bảo đảm nguồn lực cho ngân sách nhà nước, vừa hạn chế tác động đến mặt bằng lãi suất. Trong bối cảnh đó, Kho bạc Nhà nước đang điều tiết khối lượng và lãi suất phát hành theo diễn biến thị trường, đồng thời tính toán thêm các nguồn lực khác để giảm áp lực huy động trong những tháng cuối năm.
Bộ Tài chính chấn chỉnh việc quản lý, sử dụng nhà thầu phụ

Bộ Tài chính chấn chỉnh việc quản lý, sử dụng nhà thầu phụ

(TBTCO) - Bộ Tài chính yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng và sử dụng nhà thầu phụ tại các gói thầu, dự án, nhất là những gói thầu quan trọng, trọng điểm, có giá trị lớn, chậm tiến độ hoặc sử dụng nhiều nhà thầu phụ.
TP. Hồ Chí Minh dự kiến thu ngân sách hơn 881.000 tỷ đồng năm 2026, tạo nguồn lực cho chu kỳ đầu tư mới

TP. Hồ Chí Minh dự kiến thu ngân sách hơn 881.000 tỷ đồng năm 2026, tạo nguồn lực cho chu kỳ đầu tư mới

(TBTCO) - Trên nền tảng GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,55%, TP. Hồ Chí Minh dự kiến tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn cả năm đạt 881.297 tỷ đồng, vượt dự toán trung ương giao. Cùng với mục tiêu tăng thu, thành phố đang tập trung cơ cấu lại nguồn lực đầu tư công, ưu tiên vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm nhằm tạo động lực phát triển trong giai đoạn mới.
Biến cơ chế đặc thù thành nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng mới cho Hà Nội

Biến cơ chế đặc thù thành nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng mới cho Hà Nội

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu nhấn mạnh, giá trị của Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 không nằm ở số lượng chính sách được ban hành, mà phải được đo bằng bằng những chuyển biến thực chất đối với tăng trưởng, chất lượng sống của người dân, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả quản trị của chính quyền.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều