BIDV tiến sát mốc 3 triệu tỷ đồng tổng tài sản, lợi nhuận vượt 16.000 tỷ đồng nửa đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - BIDV giữ vững vị thế ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất hệ thống, tiến sát mốc 3 triệu tỷ đồng trong nửa đầu năm 2025, với tín dụng tăng trưởng khả quan. Lợi nhuận trước thuế 6 tháng đạt 16.038 tỷ đồng, tăng 3,1% cùng kỳ. Ngân hàng cũng tăng vốn điều lệ lên hơn 70.000 tỷ đồng, củng cố nền tảng tài chính.
aa
Một thập kỷ dẫn đầu - BIDV lần thứ 10 nhận giải Ngân hàng Bán lẻ tốt nhất Việt Nam Đại hội đồng cổ đông BIDV: Dồn lực tăng vốn trên 90 nghìn tỷ đồng, sẵn sàng ứng phó tác động thuế quan “Đọc vị” hành vi khách vay, ngân hàng rộng cửa cấp tín dụng

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV - mã Ck: BID) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2025.

Theo báo cáo tài chính quý II vừa được công bố, thu nhập lãi thuần là nguồn thu chính của BIDV tăng nhẹ 1% cùng kỳ, đạt gần 14.992 tỷ đồng. Trong bối cảnh tiếp tục hạ lãi suất cho vay hỗ trợ nền kinh tế, hiệu quả kinh doanh của BIDV vẫn duy trì được đà tăng trưởng.

Với các mảng thu ngoài lãi, điểm sáng đến từ lãi chứng khoán đầu tư tăng mạnh 56% lên gần 780 tỷ đồng, cùng thu nhập khác tăng đột biến 181% lên gần 2.898 tỷ đồng. Tính chung tổng thu nhập hoạt động quý II duy trì đà tăng 9% lên 22.890 tỷ đồng.

Do đó, dù chi phí hoạt động tăng 10%, nhưng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh vẫn tăng 9%, đạt 14.722 tỷ đồng. BIDV trích lập hơn 6.098 tỷ đồng dự phòng rủi ro tín dụng, tăng 14% cùng kỳ, kéo theo lợi nhuận trước thuế quý II tăng 6%, đạt 8.624 tỷ đồng.

Lũy kế 6 tháng, BIDV báo lãi trước thuế đạt 16.038 tỷ đồng, tăng 3,1% cùng kỳ. Trong đó, thu nhập khác đóng góp hơn 4.000 tỷ đồng, tăng vọt 168% và lãi từ chứng khoán đầu tư đạt 792 tỷ đồng, gấp 3,6 lần cùng kỳ, trở thành các động lực tăng trưởng nổi bật.

BIDV giữ vững ngôi đầu về tổng tài sản, tín dụng tăng tích cực

Tính đến hết Quý II/2025, kết quả hoạt động của BIDV bám sát kế hoạch đã đề ra, với tổng tài sản hợp nhất đạt trên 2,99 triệu tỷ đồng, tiếp tục giữ vững vị thế là ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô tổng tài sản lớn nhất tại Việt Nam. Hoạt động tín dụng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực với dư nợ tín dụng tăng 6,1% so với đầu năm, đạt 2,19 triệu tỷ đồng, qua đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung.

Trong nửa đầu năm, hoạt động kinh doanh của ngân hàng tiếp tục được duy trì ổn định, an toàn, hiệu quả, bám sát kế hoạch đề ra; huy động vốn đảm bảo cân đối vốn, tín dụng tăng trưởng khá, chất lượng tín dụng được kiểm soát theo mục tiêu định hướng, các chỉ tiêu hiệu quả cải thiện so với cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, dư nợ tín dụng khách hàng cá nhân tăng 8,6%, đưa BIDV trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam cán mốc 1 triệu tỷ đồng dư nợ bán lẻ. Dư nợ đối với khối khách hàng doanh nghiệp nước ngoài cũng tăng mạnh, đạt trên 19%.

BIDV tiến sát mốc 3 triệu tỷ đồng tổng tài sản, lợi nhuận vượt 16.000 tỷ đồng nửa đầu năm
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Hoạt động huy động vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo an toàn thanh khoản hệ thống. Đến 30/6/2025, huy động vốn từ tổ chức và dân cư đạt trên 2,31 triệu tỷ đồng, tăng 7,1% so với đầu năm. Huy động vốn tăng trưởng tốt ở phân khúc bán lẻ, góp phần củng cố nền vốn ổn định và bền vững.

Cùng với đó, chất lượng tín dụng tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ, với định hướng phấn đấu đưa tỷ lệ nợ xấu về mức dưới 1,6% vào cuối năm 2025 theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. BIDV thực hiện đầy đủ việc trích lập dự phòng rủi ro theo quy định, đảm bảo các chỉ tiêu an toàn hoạt động tuân thủ đúng quy định hiện hành.

Trong 6 tháng đầu năm 2025, BIDV cũng tích cực triển khai các biện pháp tăng vốn điều lệ nhằm nâng cao năng lực tài chính, đáp ứng các tỷ lệ an toàn vốn và tiệm cận thông lệ quốc tế. Với sự hỗ trợ từ liên danh tư vấn HSBC/SSI, BIDV chào bán thành công gần 124 triệu cổ phiếu cho 5 nhà đầu tư tài chính, qua đó vốn điều lệ tăng thêm 1.238 tỷ đồng đưa tổng vốn điều lệ đạt 70.213 tỷ đồng - thuộc nhóm các ngân hàng có quy mô vốn điều lệ lớn nhất trên thị trường.

Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 cũng thông qua phương án tiếp tục tăng vốn điều lệ với tỷ lệ 3,84%, tương đương khoảng 269 triệu cổ phiếu, thông qua phát hành riêng lẻ hoặc chào bán ra công chúng. Hiện tại, BIDV đang triển khai các bước tiếp theo để thực hiện chào bán trong giai đoạn 2 theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt.

BIDV cũng không ngừng đổi mới và ứng dụng công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện và chuyển đổi mô hình hoạt động nhằm cung cấp các giải pháp tài chính vượt trội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Sáng 27/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.197 đồng, tăng 14 đồng tuần qua, đánh dấu 7 tuần tăng liên tiếp. HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai Việt Nam năm 2026 xuống 2,2% GDP, có thể gây áp lực lên VND. Còn DXY chốt tuần ở 101,36 điểm, vẫn neo cao dù Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất khi căng thẳng Mỹ - Iran lắng dịu.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,550 14,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 14,850
Nguyên Liệu 99.99 13,300 13,500
Nguyên Liệu 99.9 13,250 13,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 14,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 14,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 14,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 148,500
Hà Nội - PNJ 145,500 148,500
Đà Nẵng - PNJ 145,500 148,500
Miền Tây - PNJ 145,500 148,500
Tây Nguyên - PNJ 145,500 148,500
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 148,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 14,850
Miếng SJC Nghệ An 14,550 14,850
Miếng SJC Thái Bình 14,550 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 14,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 14,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 14,800
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,990 14,690
Trang sức 99.99 14,000 14,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 14,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 14,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 1,484
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 1,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 1,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 145,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 110,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 100,052
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 89,768
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 85,801
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 61,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cập nhật: 28/06/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/06/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80