Lực hấp dẫn dòng vốn FDI từ quyết tâm cải cách và đổi mới

Thảo Miên
(TBTCO) - Ông Nguyễn Văn Toàn - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) cho rằng, bên cạnh các lợi thế truyền thống, quyết tâm cải cách và đổi mới đang trở thành động lực quan trọng giúp Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn FDI, đặc biệt là các dự án công nghệ cao và có giá trị gia tăng lớn.
aa

PV: Việt Nam đã thu hút gần 25 tỷ USD vốn FDI đăng ký trong 5 tháng đầu năm, tăng gần 35% so với cùng kỳ, trong đó vốn đăng ký mới tăng tới 111,5%. Theo ông, những yếu tố nào đang giúp Việt Nam tiếp tục nhận được sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn?

Lực hấp dẫn dòng vốn FDI từ quyết tâm cải cách và đổi mới
Ông Nguyễn Văn Toàn

Ông Nguyễn Văn Toàn: Bối cảnh địa chính trị thế giới hiện nay rất phức tạp. Điều này tạo ra thách thức, nhưng cũng mở ra những cơ hội nhất định. Khi nhiều khu vực trên thế giới đối mặt với bất ổn, các nhà đầu tư sẽ có ít lựa chọn hơn và có xu hướng tìm đến những quốc gia có môi trường ổn định để triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây là một lợi thế của Việt Nam.

Tuy nhiên, bất ổn toàn cầu cũng khiến dòng vốn đầu tư trở nên thận trọng hơn. Vì vậy, việc Việt Nam duy trì được kết quả thu hút FDI tích cực trong những tháng đầu năm là một tín hiệu đáng khích lệ.

Bên cạnh những yếu tố truyền thống như ổn định chính trị - xã hội, kinh tế vĩ mô vững chắc, vị trí địa lý thuận lợi, mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng khắp hay tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế, tôi cho rằng, các nhà đầu tư đang đặc biệt quan tâm đến một yếu tố mới, đó là niềm tin vào quá trình đổi mới và chuyển mình của Việt Nam.

Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn liên tục được ban hành nhằm tạo động lực phát triển mới. Đặc biệt, các nghị quyết về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân và thu hút đầu tư nước ngoài đang tạo nên một hệ sinh thái mới cho tăng trưởng.

Tôi cho rằng, 3 nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với khu vực FDI là Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Các nghị quyết này không chỉ tạo điều kiện để thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao, mà còn hướng tới nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực FDI đối với nền kinh tế. Nếu thực hiện hiệu quả các nghị quyết, doanh nghiệp tư nhân trong nước sẽ phát triển mạnh hơn và khả năng tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI sẽ được nâng lên. Khi đó, Việt Nam không chỉ thu hút được nhiều vốn hơn, mà còn thu hút được dòng vốn có chất lượng cao hơn, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp FDI lẫn doanh nghiệp trong nước.

Lực hấp dẫn dòng vốn FDI từ quyết tâm cải cách và đổi mới
Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh

PV: Qua quá trình làm việc với các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, ông có thể cho biết, những lợi thế nào của Việt Nam đang được nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Cộng đồng doanh nghiệp FDI đánh giá khá tích cực về triển vọng đầu tư tại Việt Nam trong trung và dài hạn. Họ nhận thấy Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ với quyết tâm cải cách rất cao từ Chính phủ.

Nhiều nhà đầu tư đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia năng động nhất ASEAN trong việc thúc đẩy cải cách và thu hút các ngành công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, bán dẫn và các lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn.

Bên cạnh đó, những lợi thế truyền thống vẫn tiếp tục được đánh giá cao, bao gồm môi trường chính trị và kinh tế vĩ mô ổn định, vị trí chiến lược trong khu vực, mạng lưới FTA rộng lớn và nguồn nhân lực dồi dào...

Hướng tới xây dựng một hệ sinh thái đầu tư hiện đại

Ông Nguyễn Văn Toàn cho biết, cộng đồng doanh nghiệp FDI nhìn nhận rất tích cực đối với Nghị quyết số 10-NQ/TW, bởi nghị quyết này hướng tới xây dựng một hệ sinh thái đầu tư hiện đại, bao gồm hạ tầng, nguồn nhân lực, thể chế, môi trường kinh doanh và hiệu quả thực thi chính sách.

Một lợi thế đáng chú ý khác là chi phí sản xuất của Việt Nam vẫn có sức cạnh tranh so với nhiều quốc gia trong khu vực. Lao động Việt Nam được đánh giá có khả năng thích ứng tốt, học hỏi nhanh và đạt năng suất cao khi làm việc trong môi trường quản trị hiện đại của các tập đoàn đa quốc gia.

Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI ghi nhận những nỗ lực rất lớn của Việt Nam trong phát triển hạ tầng giao thông, logistics và năng lượng. Đây là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với quyết định đầu tư dài hạn.

Tuy nhiên, doanh nghiệp FDI cũng mong muốn Việt Nam tiếp tục cải thiện hiệu quả thực thi chính sách giữa các cấp, các ngành và các địa phương; đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng tính minh bạch, ổn định cũng như khả năng dự báo của hệ thống chính sách. Đây là những yếu tố rất quan trọng bởi các tập đoàn nước ngoài thường xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn và cần một môi trường chính sách ổn định để yên tâm triển khai dự án.

PV: Trong 5 tháng đầu năm, vốn FDI đăng ký tăng mạnh, nhưng vốn thực hiện chỉ tăng khoảng 9,6%. Theo ông, điều này phản ánh những khó khăn gì và Việt Nam cần làm thế nào để rút ngắn khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn giải ngân?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Trước hết, cần thấy rằng, giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện luôn tồn tại một độ trễ nhất định. Nhiều dự án có quy mô lớn cần thời gian chuẩn bị về thủ tục, hạ tầng, đất đai, nguồn nhân lực trước khi giải ngân.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện cũng phản ánh một thực tế là các nhà đầu tư đang đặt kỳ vọng rất lớn vào Việt Nam, nhưng trong quá trình triển khai vẫn gặp một số khó khăn khiến tiến độ giải ngân chưa đạt như mong muốn.

Những khó khăn này có thể liên quan đến thủ tục hành chính, chất lượng hạ tầng, nguồn cung năng lượng, quá trình chuyển đổi số hay việc triển khai các chính sách mới trong giai đoạn chuyển đổi. Ngoài ra, các yếu tố bên ngoài như biến động kinh tế thế giới, diễn biến thị trường xuất khẩu hay chiến lược đầu tư toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia cũng ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn.

Do đó, để rút ngắn khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện, theo tôi, cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư theo hướng minh bạch hơn, ổn định hơn và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án.

PV: Dòng vốn FDI vào Việt Nam đang tập trung vào các lĩnh vực như công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, bán dẫn và công nghệ cao. Theo ông, Việt Nam đã bước vào giai đoạn thu hút FDI chất lượng cao chưa?

Ông Nguyễn Văn Toàn: Tôi cho rằng, Việt Nam đang ở giai đoạn khởi đầu của quá trình thu hút FDI chất lượng cao. Ngày càng có nhiều tập đoàn công nghệ lớn quan tâm đến Việt Nam và mở rộng đầu tư. Tuy nhiên, để thực sự trở thành điểm đến hàng đầu của dòng vốn FDI chất lượng cao, chúng ta vẫn cần tiếp tục hoàn thiện nhiều điều kiện nền tảng.

Đó là hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng; nguồn nhân lực chất lượng cao; năng lực đổi mới sáng tạo; đặc biệt là khả năng tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước.

Hiện nay, hiệu ứng lan tỏa của khu vực FDI sang khu vực doanh nghiệp nội địa vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Nếu doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia, thì giá trị gia tăng giữ lại trong nước vẫn còn hạn chế.

Đó cũng là lý do việc triển khai đồng bộ các nghị quyết của Bộ Chính trị về khoa học công nghệ (Nghị quyết số 57-NQ/TW), phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW) và thu hút đầu tư nước ngoài (Nghị quyết số 10-NQ/TW) có ý nghĩa rất quan trọng. Khi doanh nghiệp Việt Nam đủ mạnh để hợp tác bình đẳng với doanh nghiệp FDI, hiệu quả thu hút đầu tư sẽ được nâng lên đáng kể.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thảo Miên

Đọc thêm

Cơ cấu vốn nhà nước: Cơ hội thu hút dòng vốn dài hạn

Cơ cấu vốn nhà nước: Cơ hội thu hút dòng vốn dài hạn

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng - Giám đốc Cấp cao Nghiên cứu Chiến lược Thị trường, Chứng khoán HSC cho rằng, điều chỉnh tỷ lệ sở hữu nhà nước có thể mở rộng dư địa thu hút dòng vốn dài hạn, song sức hút từng thương vụ phụ thuộc vào định giá, quy mô chào bán và nhu cầu nhà đầu tư.
Giảm 30% thuế thu nhập: Khoản “đệm” tài chính giúp doanh nghiệp trụ vững trước biến động

Giảm 30% thuế thu nhập: Khoản “đệm” tài chính giúp doanh nghiệp trụ vững trước biến động

(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chính sách giảm 30% thuế thu nhập đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp, ông Đinh Văn Đoàn - Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Vận tải du lịch H&D cho rằng, đây là một khoản “đệm” tài chính an toàn để doanh nghiệp linh hoạt xoay vòng vốn trong kinh doanh, đặc biệt là trong những thời điểm thị trường có nhiều biến động.
Giảm gánh nặng thực hiện nghĩa vụ thuế cho người kinh doanh

Giảm gánh nặng thực hiện nghĩa vụ thuế cho người kinh doanh

(TBTCO) - Việc các nền tảng thương mại điện tử có chức năng thanh toán được giao trách nhiệm khấu trừ, khai và nộp thuế thay hộ, cá nhân kinh doanh và nhà cung cấp nước ngoài đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh xuyên biên giới, tăng tính minh bạch của thị trường. Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Văn Thành - Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế Thương mại điện tử (Cục Thuế) làm rõ thêm những thay đổi của chính sách.
Nâng tầm thị trường chứng khoán, tạo sức hút với dòng vốn dài hạn

Nâng tầm thị trường chứng khoán, tạo sức hút với dòng vốn dài hạn

(TBTCO) - Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2045 được kỳ vọng tạo động lực nâng cao chất lượng thị trường chứng khoán, thúc đẩy luân chuyển vốn và mở rộng khả năng thu hút các nhà đầu tư tổ chức. Trao đổi với phóng viên, ông Trương Hiền Phương - Giám đốc cấp cao Công ty cổ phần Chứng khoán KIS Việt Nam cho rằng, cùng với tiến trình nâng hạng, Việt Nam cần gia tăng nguồn hàng chất lượng, hoàn thiện hạ tầng, nâng cao tính minh bạch và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế để thu hút dòng vốn bền vững.
Tăng dư nợ trái phiếu lên 60% GDP: Xây nền tảng tài chính bền vững cho tăng trưởng

Tăng dư nợ trái phiếu lên 60% GDP: Xây nền tảng tài chính bền vững cho tăng trưởng

(TBTCO) - Chia sẻ với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phùng Xuân Minh - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Saigon Ratings cho rằng, việc phát triển thị trường trái phiếu theo hướng mở rộng quy mô, nâng cao tính minh bạch và hoàn thiện hạ tầng sẽ góp phần nâng cao vai trò cung ứng nguồn vốn trung, dài hạn, hướng tới cân bằng hơn trong vai trò dẫn vốn với hệ thống ngân hàng.
Việt Nam cần biến sức ép từ thuế quan thành động lực cải cách

Việt Nam cần biến sức ép từ thuế quan thành động lực cải cách

(TBTCO) - Mức thuế bổ sung 12,5% chắc chắn tạo ra áp lực ngắn hạn. Điều quan trọng là chúng ta phải biến sức ép từ thuế quan thành động lực cải cách, nâng cao chất lượng quản trị, minh bạch chuỗi cung ứng và gia tăng giá trị của hàng hóa Việt Nam. Khi đó, doanh nghiệp không chỉ giữ vững thị phần tại Hoa Kỳ, mà còn có điều kiện mở rộng sang nhiều thị trường khác. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - Chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) khẳng định như vậy khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Chính sách tài khóa mở dư địa cho tăng trưởng kinh tế

Chính sách tài khóa mở dư địa cho tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam đánh giá, chính sách tài khóa đang chủ động trong việc dẫn dắt, trở thành động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế. Trong giai đoạn cuối năm, chính sách tài khóa và tiền tệ cần phối hợp đồng bộ hơn nữa, để vừa đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng và giải ngân vốn đầu tư công, nhưng không tạo áp lực lên cung tiền, cũng như hệ thống tiền tệ.
Doanh nghiệp cần chuẩn bị cho một cuộc chơi dài hạn

Doanh nghiệp cần chuẩn bị cho một cuộc chơi dài hạn

(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Trương Quang Dũng - Giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, việc Hoa Kỳ áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung theo Mục 301 đối với hàng hóa Việt Nam sẽ không khiến đơn hàng dịch chuyển ngay trong ngắn hạn, nhưng có thể làm thay đổi quyết định đặt hàng mới và gia tăng áp lực cạnh tranh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều