Đại hội đồng cổ đông BIDV: Dồn lực tăng vốn trên 90 nghìn tỷ đồng, sẵn sàng ứng phó tác động thuế quan

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% và kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm 30%, lên gần 92 nghìn tỷ đồng. Trước tác động từ thuế quan và bất ổn bên ngoài, ngân hàng chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, cùng đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp vượt qua thách thức.
aa

Một thập kỷ dẫn đầu - BIDV lần thứ 10 nhận giải Ngân hàng Bán lẻ tốt nhất Việt Nam Dư nợ cho vay vượt 2 triệu tỷ đồng, "ông lớn" ngân hàng đặt mục tiêu ra sao năm 2025?

"Cơn sóng" tăng vốn đổ bộ mùa đại hội cổ đông ngân hàng

Ngày 26/4, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV - mã chứng khoán: BID) tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025.

Tiếp đà tăng vốn thêm 30%

Tại đại hội, lãnh đạo BIDV trình cổ đông thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2025, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng theo hạn mức được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao, dự kiến khoảng 16%.

Lãi riêng lẻ quý I vượt 7.000 tỷ đồng

Đến hết quý I/2025, khối ngân hàng thương mại của BIDV đạt kết quả kinh doanh khả quan, bám sát kế hoạch đề ra. Theo đó, tổng tài sản đạt 2,8 triệu tỷ đồng; dư nợ tín dụng đạt 2,07 triệu tỷ đồng, tăng 2,6% so với đầu năm; huy động vốn đạt 2,17 triệu tỷ đồng, tăng 1,7% so với đầu năm. Chất lượng tín dụng được kiểm soát theo mục tiêu điều hành. Lợi nhuận trước thuế riêng lẻ đạt 7.019 tỷ đồng…

Hoạt động huy động vốn sẽ được điều hành linh hoạt, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn. Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế sẽ được xác định theo phê duyệt của cơ quan quản lý có thẩm quyền. Số liệu cụ thể sẽ được cập nhật và hoàn thiện sau khi nhận được sự phê duyệt chính thức từ cơ quan nhà nước có liên quan.

Đáng chú ý, đại diện BIDV trình cổ đông kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm 21.656 tỷ đồng, lên gần 91.870 tỷ đồng, tương đương mức tăng 30,8%, thông qua ba phương án. Đây là nội dung được công bố sát ngày sắp tổ chức đại hội.

Đại hội đồng cổ đông BIDV:
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Theo đó, một là, ngân hàng dự kiến phát hành hơn 498,5 triệu cổ phiếu từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ (tỷ lệ 7,1%), giúp tăng vốn thêm 4.985 tỷ đồng. Hai là, phát hành gần 1.397,3 triệu cổ phiếu để trả cổ tức từ nguồn lợi nhuận chưa phân phối năm 2023 (tỷ lệ 19,9%), tương ứng với mức tăng vốn hơn 13.972 tỷ đồng.

Ba là, chào bán riêng lẻ hoặc chào bán ra công chúng tối đa 269,8 triệu cổ phiếu (tỷ lệ 3,84%). Đối tượng phát hành bao gồm các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp trong và ngoài nước có tiềm lực tài chính, có thể bao gồm cổ đông hiện hữu. Đối với phương án chào bán ra công chúng, đối tượng là các cá nhân và tổ chức trong, ngoài nước có nhu cầu đầu tư.

Thời gian thực hiện các phương án tăng vốn dự kiến trong giai đoạn 2025 - 2026, sau khi được cơ quan quản lý chấp thuận. Đây được xem là bước đi quan trọng giúp BIDV gia tăng năng lực tài chính, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và các chuẩn mực an toàn vốn.

Xây dựng kịch bản chủ động ứng phó trước mọi biến động

Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 của BIDV, nhiều cổ đông bày tỏ sự quan tâm đến các nội dung liên quan đến hoạt động kinh doanh, định hướng phát triển cũng như các chỉ tiêu tài chính của ngân hàng. Trong bối cảnh chiến tranh thương mại kéo dài, mục tiêu lợi nhuận trước thuế, dự kiến tổng chi phí trích lập dự phòng trong năm và kịch bản tăng trưởng điều chỉnh thế nào? Nghị quyết về việc triển khai thí điểm phát hành và giao dịch tài sản mã hóa đang được xây dựng, BIDV có chủ trương tham gia, quan tâm lĩnh vực này ra sao? Lý do đằng sau việc tái cấu trúc mạng lưới chi nhánh, đặc biệt tại khu vực miền Nam và định hướng dài hạn của ngân hàng.

Đại hội đồng cổ đông BIDV:
Toàn cảnh Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 của Ngân hàng BIDV. Ảnh: BIDV.

Trả lời cổ đông về tác động của thuế quan đối ứng, ông Phan Đức Tú - Chủ tịch Hội đồng Quản trị BIDV cho biết, tổng dư nợ khách hàng của BIDV chịu tác động từ các biện pháp thuế quan ước tính khoảng 300 nghìn tỷ đồng. Ông Tú phân tích, tác động của chính sách thuế quan sẽ đến hoạt động của doanh nghiệp. Bởi khi doanh nghiệp xuất khẩu sang Mỹ bị áp thuế cao, họ buộc phải tạm ngừng sản xuất để tìm kiếm thị trường mới, kéo theo ảnh hưởng nhu cầu vay vốn.

“Hiện tại chưa thể hình dung rõ kết quả đàm phán ra sao, nhưng chúng ta hy vọng vào một kết quả tích cực, bởi Việt Nam đã nỗ lực hết sức, làm tất cả những gì có thể. Thành công hay không còn phụ thuộc vào cả hai phía, đặc biệt là phía Mỹ. Chúng tôi sẽ xây dựng lại kịch bản một cách thận trọng, không chỉ riêng thuế quan mà những biến động nằm ngoài dự kiến” - Chủ tịch Hội đồng Quản trị BIDV nêu rõ.

Về định hướng tham gia xây dựng sàn giao dịch tài sản số, Tổng Giám đốc BIDV Lê Ngọc Lâm cho biết, theo tinh thần dự thảo đang được lấy ý kiến, nội dung phát hành stable coin (tiền mã hóa được neo với một tài sản cụ thể) được loại bỏ và thay đổi so với những phiên bản dự thảo ban đầu.

Với vai trò là một ngân hàng thương mại nhà nước, BIDV cam kết sẽ tích cực phối hợp cùng các bộ, ngành để triển khai các chính sách và chương trình liên quan đến việc xây dựng sàn giao dịch tài sản mã hoá.

Cũng theo ông Lâm, sàn giao dịch do khối doanh nghiệp tư nhân triển khai, BIDV không có chủ trương hay kế hoạch thành lập công ty riêng để triển khai, do yêu cầu vốn, công nghệ và nhiều yếu tố kỹ thuật phức tạp. Dù vậy, với kinh nghiệm hoạt động lâu năm, BIDV sẽ chủ động tham gia, hỗ trợ tích cực trong quá trình triển khai hạ tầng cho sàn giao dịch tài sản mã hoá.

Nhìn lại những dấu ấn năm 2024, phát biểu tại đại hội, ông Lê Ngọc Lâm - Tổng Giám đốc BIDV nhấn mạnh, năm 2024, BIDV tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu thị trường với ba chỉ tiêu về quy mô hoạt động. Theo đó, dư nợ tín dụng chính thức vượt mốc 2 triệu tỷ đồng; tăng 15,5%; tổng tài sản đạt 2,71 triệu tỷ đồng, tăng 20%. Nguồn vốn huy động đạt 2,53 triệu tỷ đồng; phù hợp với diễn biến tăng trưởng tín dụng và đảm bảo an toàn hiệu quả; trong đó, huy động vốn tổ chức, dân cư đạt gần 2,14 triệu tỷ đồng, tăng 13,1% so với đầu năm; chiếm 14,3% thị phần tiền gửi toàn ngành.

Chất lượng tín dụng được kiểm soát trong giới hạn, tỷ lệ nợ xấu kiểm soát ở mức 1,27%, hoàn thành kế hoạch Đại hội giao. Hiệu quả kinh doanh gia tăng, hoàn thành kế hoạch năm 2024, lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 31.990 tỷ đồng, tăng 15,9% ngân hàng trích dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định.

Cùng với đó, vốn điều lệ tăng lên mức 68.980 tỷ đồng; giá trị vốn hóa thị trường thời điểm 31/12/2024 đạt 259.000 tỷ đồng, tăng 4,6% và là một trong 3 doanh nghiệp có mức vốn hóa cao nhất thị trường chứng khoán Việt Nam.

Đại hội cũng tiến hành bầu bổ sung một thành viên Hội đồng Quản trị và một thành viên Ban Kiểm soát nhiệm kỳ 2022 - 2027. Ứng viên Hội đồng Quản trị là ông Lê Quốc Nghị - Vụ trưởng Vụ Kiểm toán nội bộ (NHNN), còn ứng viên Ban Kiểm soát là ông Huỳnh Phương - nguyên thành viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đông Á (nay là Vikki Bank), nguyên Phó Giám đốc Ban Kiểm tra và Giám sát tuân thủ BIDV./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Kim TT/AVPL 16,980 ▲110K 17,280 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 16,100
Nguyên Liệu 99.9 15,850 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 ▲100K 17,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 ▲100K 17,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 ▲100K 17,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
NL 99.90 15,820 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▲50K
Trang sức 99.9 16,470 ▲120K 17,170 ▲120K
Trang sức 99.99 16,480 ▲120K 17,180 ▲120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 ▲12K 17,282 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 ▲12K 17,283 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 ▲12K 1,726 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 ▲12K 1,727 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 ▲12K 1,711 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 ▲1188K 169,406 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 ▲900K 128,488 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 ▼96033K 11,651 ▼104043K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 ▲732K 104,531 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 ▲699K 99,911 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 ▲501K 71,506 ▲501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Cập nhật: 28/03/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,355
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,964 29,988 31,219
JPY 160.95 161.24 169.88
GBP 34,608 34,702 35,671
AUD 17,900 17,965 18,523
CAD 18,717 18,777 19,343
CHF 32,794 32,896 33,649
SGD 20,120 20,183 20,846
CNY - 3,788 3,904
HKD 3,306 3,316 3,432
KRW 16.15 16.84 18.2
THB 766.29 775.75 825.63
NZD 14,920 15,059 15,408
SEK - 2,755 2,834
DKK - 4,010 4,124
NOK - 2,683 2,761
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,158.3 - 6,906.8
TWD 746.57 - 897.95
SAR - 6,923.15 7,244.71
KWD - 83,859 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/03/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80