Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
aa
Tín dụng trung dài hạn tăng mạnh 27%, ngân hàng trước sức ép thanh khoản gia tăng
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào? “Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Dư địa triệu tỷ đồng

Ngân hàng Nhà nước vừa chính thức ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN ngày 22/6/2026 : sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 25).

Quy định nổi bật tại Thông tư 25 là đưa tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại mức 40%. Một quyết định mang tính “đảo chiều chính sách” đáng chú ý, nhằm giải vướng dòng vốn dài hạn cho nền kinh tế, song cũng đặt hệ thống ngân hàng trước bài toán về quản trị rủi ro kỳ hạn.

Suốt nhiều năm qua, Ngân hàng Nhà nước kiên trì theo đuổi lộ trình giảm dần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 40% xuống 37%, 34% và chính thức neo ở mức 30% kể từ tháng 10/2023. Mục tiêu của lộ trình này rất rõ ràng, đó là giảm thiểu tình trạng mất cân đối kỳ hạn và phòng ngừa rủi ro thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, thực tế vận hành của nền kinh tế đã tạo ra những áp lực đảo chiều.

Nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, cơ hội chỉ dành cho ngân hàng vững ba trụ cột
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng. Ảnh: Đức Thanh.

Việt Nam đang bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới với nhu cầu vốn đầu tư khổng lồ dành cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, năng lượng tái tạo, logistics, khu công nghiệp và nhà ở xã hội. Đây đều là những lĩnh vực có vòng đời vốn dài từ 5 - 20 năm. Trong khi đó, thị trường vốn vẫn chưa thể gánh vác trọn vẹn vai trò cung ứng vốn dài hạn, khiến hệ thống ngân hàng tiếp tục là kênh dẫn vốn chủ lực.

Sự lệch pha thể hiện rõ khi khoảng 80% nguồn vốn huy động của các ngân hàng là tiền gửi dưới 12 tháng, nhưng dư nợ trung và dài hạn lại chiếm tới 47% tổng dư nợ toàn hệ thống. Tín dụng trung và dài hạn liên tục tăng nhanh hơn tín dụng ngắn hạn kể từ quý III/2025. Hệ quả là hàng loạt nhà băng rơi vào trạng thái sát trần an toàn.

Nếu tiếp tục giữ nguyên mức trần 30%, các ngân hàng buộc phải từ chối nhiều dự án lớn đủ điều kiện chỉ vì “hết room” kỳ hạn. Do đó, việc nới trần lên 40% tại Thông tư 25 được xem là một chiếc “van điều tiết” cấp bách.

Xét về mặt toán học, tính đến cuối tháng 3/2026, tổng tiền gửi hệ thống đạt khoảng 16,575 triệu tỷ đồng. Với giả định 80 - 90% nguồn vốn này mang tính chất ngắn hạn, khoảng đệm kỹ thuật tăng thêm 10 điểm phần trăm (từ 30% lên 40%) sẽ giải phóng một lượng dư địa lý thuyết khổng lồ, dao động quanh mức 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng cho tín dụng trung và dài hạn.

Nới lỏng không có nghĩa là chủ quan

Sự nới lỏng này mang lại “lợi ích kép” cho các tổ chức tín dụng. Theo đó, giảm áp lực chi phí vốn với các ngân hàng. Nhiều năm qua, để đối phó với rào cản 30%, các ngân hàng phải liên tục đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá, chứng chỉ tiền gửi hoặc chạy đua lãi suất huy động dài hạn, khiến chi phí vốn (CoF) bị đẩy lên cao. Khi được phép dùng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn, vốn có chi phí thấp, để cho vay dài hạn, biên lãi ròng (NIM) của các nhà băng chắc chắn sẽ được cải thiện đáng kể.

Song song với nới trần kỳ hạn, Ngân hàng Nhà nước cũng sửa đổi cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại Thông tư 25. Theo đó, đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, quy định mới cho phép loại trừ 80% số dư (thay vì loại trừ toàn bộ như trước) hoặc áp dụng tỷ lệ linh hoạt do Thống đốc quyết định. Điều này giúp các ngân hàng thương mại ghi nhận thêm một phần nguồn vốn huy động ổn định, hạ nhiệt tỷ lệ LDR vốn đang căng thẳng, đặc biệt tại nhóm “big 4” khi đã tiến sát ngưỡng 85% vào cuối quý I/2026.

Theo ThS Nguyễn Văn Hoàng - Phó Giám đốc Ngân hàng Agribank Chi nhánh An Giang, quyết định nâng trần lên 40% thực chất là một sự đánh đổi có chủ đích giữa mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030 và yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống.

Mở thêm dư địa, không đánh đổi chuẩn an toàn

Mở thêm không gian tăng trưởng là cần thiết, song hiệu quả và sự an toàn bền vững hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực quản trị trị tài sản - nguồn vốn (ALM) của từng nhà băng. Nới lỏng định lượng không phải là cái cớ để hạ chuẩn an toàn.

Về mặt tích cực, chính sách là giải pháp tình thế hợp lý khi nền kinh tế khát vốn dài hạn nhưng thị trường trái phiếu chưa gánh vác kịp. Việc trao quyền chủ động cho Thống đốc trong việc điều chỉnh tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước tính LDR tạo ra một công cụ điều tiết thanh khoản cực kỳ sắc bén và linh hoạt theo từng thời kỳ.

Về mặt rủi ro, bản chất của việc lấy vốn ngắn hạn tài trợ cho vay dài hạn là “chuyển đổi kỳ hạn”, luôn tiềm ẩn rủi ro thanh khoản tiềm tàng. Trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng nhiều thời điểm vẫn neo cao, những nhà băng lạm dụng dòng vốn ngắn hạn để chạy theo tín dụng dài hạn sẽ đối mặt với áp lực chi phí vốn tăng vọt, nếu thị trường có biến động bất thường hoặc dòng tiền huy động sụt giảm.

Để chính sách mới thực sự là bệ phóng tăng trưởng thay vì ngòi nổ rủi ro, hệ thống ngân hàng cần tập trung vào ba trụ cột cốt lõi.

Một là, chủ động đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn. Các ngân hàng không thể ỷ lại vào dòng vốn ngắn hạn kém ổn định. Việc gia tăng tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) và chủ động phát hành trái phiếu dài hạn vẫn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền tảng vốn bền vững.

Hai là, nâng cấp năng lực quản trị ALM. Cần thường xuyên thực hiện các kịch bản kiểm tra sức chịu đựng (stress test) đối với sự dịch chuyển của dòng tiền và biến động lãi suất. Những tổ chức có hệ thống quản trị rủi ro tốt, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế cao hơn như Basel III, sẽ tận dụng tối đa cơ hội từ Thông tư 25, mà không đẩy mình vào ranh giới nguy hiểm.

Ba là, giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý. Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường thanh tra, giám sát từ xa đối với nhóm ngân hàng có tỷ lệ cho vay trung, dài hạn tiệm cận mức trần 40%, hoặc có chất lượng tài sản suy giảm nhằm ngăn chặn nguy cơ rủi ro hệ thống.

Về lâu dài, dòng vốn trung và dài hạn của một nền kinh tế khỏe mạnh phải được dẫn dắt bởi thị trường vốn. Việc nâng trần lên 40% là một bước đi linh hoạt mang tính giai đoạn. Khi cánh cửa tín dụng mở rộng, sự thận trọng, kỷ cương trong quản trị thanh khoản của các ngân hàng chính là chiếc chìa khóa quyết định sự ổn định bền vững của toàn hệ thống./.

ThS.Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 3/10, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên 25.636 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,91 điểm, tăng 0,93% dù hạ nhiệt phiên cuối tuần. Dữ liệu PCE và việc làm Mỹ suy yếu kéo xác suất Fed tăng lãi suất tháng 10 từ khoảng 70% xuống 21,59%, qua đó giảm áp lực lên USD.
FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,660 ▼60K 14,260 ▼60K
Trang sức 99.99 13,670 ▼60K 14,270 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▼6K 14,352 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▼6K 14,353 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1266K 143 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1266K 1,431 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 ▼6K 142 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 ▼594K 140,594 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 ▼450K 106,661 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 ▼78636K 9,672 ▼87456K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 ▼366K 86,779 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 ▼350K 82,944 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 ▼25K 5,937 ▼25K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cập nhật: 03/10/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17533 17806 18390
CAD 17699 17973 18596
CHF 30705 31081 31728
CNY 0 3833 3929
EUR 28610 28827 29907
GBP 33604 33992 34929
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14290 14885
SGD 19762 20043 20627
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 03/10/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30