Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
aa
Tín dụng trung dài hạn tăng mạnh 27%, ngân hàng trước sức ép thanh khoản gia tăng
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào? “Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Dư địa triệu tỷ đồng

Ngân hàng Nhà nước vừa chính thức ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN ngày 22/6/2026 : sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 25).

Quy định nổi bật tại Thông tư 25 là đưa tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại mức 40%. Một quyết định mang tính “đảo chiều chính sách” đáng chú ý, nhằm giải vướng dòng vốn dài hạn cho nền kinh tế, song cũng đặt hệ thống ngân hàng trước bài toán về quản trị rủi ro kỳ hạn.

Suốt nhiều năm qua, Ngân hàng Nhà nước kiên trì theo đuổi lộ trình giảm dần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 40% xuống 37%, 34% và chính thức neo ở mức 30% kể từ tháng 10/2023. Mục tiêu của lộ trình này rất rõ ràng, đó là giảm thiểu tình trạng mất cân đối kỳ hạn và phòng ngừa rủi ro thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, thực tế vận hành của nền kinh tế đã tạo ra những áp lực đảo chiều.

Nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, cơ hội chỉ dành cho ngân hàng vững ba trụ cột
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng. Ảnh: Đức Thanh.

Việt Nam đang bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới với nhu cầu vốn đầu tư khổng lồ dành cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, năng lượng tái tạo, logistics, khu công nghiệp và nhà ở xã hội. Đây đều là những lĩnh vực có vòng đời vốn dài từ 5 - 20 năm. Trong khi đó, thị trường vốn vẫn chưa thể gánh vác trọn vẹn vai trò cung ứng vốn dài hạn, khiến hệ thống ngân hàng tiếp tục là kênh dẫn vốn chủ lực.

Sự lệch pha thể hiện rõ khi khoảng 80% nguồn vốn huy động của các ngân hàng là tiền gửi dưới 12 tháng, nhưng dư nợ trung và dài hạn lại chiếm tới 47% tổng dư nợ toàn hệ thống. Tín dụng trung và dài hạn liên tục tăng nhanh hơn tín dụng ngắn hạn kể từ quý III/2025. Hệ quả là hàng loạt nhà băng rơi vào trạng thái sát trần an toàn.

Nếu tiếp tục giữ nguyên mức trần 30%, các ngân hàng buộc phải từ chối nhiều dự án lớn đủ điều kiện chỉ vì “hết room” kỳ hạn. Do đó, việc nới trần lên 40% tại Thông tư 25 được xem là một chiếc “van điều tiết” cấp bách.

Xét về mặt toán học, tính đến cuối tháng 3/2026, tổng tiền gửi hệ thống đạt khoảng 16,575 triệu tỷ đồng. Với giả định 80 - 90% nguồn vốn này mang tính chất ngắn hạn, khoảng đệm kỹ thuật tăng thêm 10 điểm phần trăm (từ 30% lên 40%) sẽ giải phóng một lượng dư địa lý thuyết khổng lồ, dao động quanh mức 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng cho tín dụng trung và dài hạn.

Nới lỏng không có nghĩa là chủ quan

Sự nới lỏng này mang lại “lợi ích kép” cho các tổ chức tín dụng. Theo đó, giảm áp lực chi phí vốn với các ngân hàng. Nhiều năm qua, để đối phó với rào cản 30%, các ngân hàng phải liên tục đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá, chứng chỉ tiền gửi hoặc chạy đua lãi suất huy động dài hạn, khiến chi phí vốn (CoF) bị đẩy lên cao. Khi được phép dùng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn, vốn có chi phí thấp, để cho vay dài hạn, biên lãi ròng (NIM) của các nhà băng chắc chắn sẽ được cải thiện đáng kể.

Song song với nới trần kỳ hạn, Ngân hàng Nhà nước cũng sửa đổi cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại Thông tư 25. Theo đó, đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, quy định mới cho phép loại trừ 80% số dư (thay vì loại trừ toàn bộ như trước) hoặc áp dụng tỷ lệ linh hoạt do Thống đốc quyết định. Điều này giúp các ngân hàng thương mại ghi nhận thêm một phần nguồn vốn huy động ổn định, hạ nhiệt tỷ lệ LDR vốn đang căng thẳng, đặc biệt tại nhóm “big 4” khi đã tiến sát ngưỡng 85% vào cuối quý I/2026.

Theo ThS Nguyễn Văn Hoàng - Phó Giám đốc Ngân hàng Agribank Chi nhánh An Giang, quyết định nâng trần lên 40% thực chất là một sự đánh đổi có chủ đích giữa mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030 và yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống.

Mở thêm dư địa, không đánh đổi chuẩn an toàn

Mở thêm không gian tăng trưởng là cần thiết, song hiệu quả và sự an toàn bền vững hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực quản trị trị tài sản - nguồn vốn (ALM) của từng nhà băng. Nới lỏng định lượng không phải là cái cớ để hạ chuẩn an toàn.

Về mặt tích cực, chính sách là giải pháp tình thế hợp lý khi nền kinh tế khát vốn dài hạn nhưng thị trường trái phiếu chưa gánh vác kịp. Việc trao quyền chủ động cho Thống đốc trong việc điều chỉnh tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước tính LDR tạo ra một công cụ điều tiết thanh khoản cực kỳ sắc bén và linh hoạt theo từng thời kỳ.

Về mặt rủi ro, bản chất của việc lấy vốn ngắn hạn tài trợ cho vay dài hạn là “chuyển đổi kỳ hạn”, luôn tiềm ẩn rủi ro thanh khoản tiềm tàng. Trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng nhiều thời điểm vẫn neo cao, những nhà băng lạm dụng dòng vốn ngắn hạn để chạy theo tín dụng dài hạn sẽ đối mặt với áp lực chi phí vốn tăng vọt, nếu thị trường có biến động bất thường hoặc dòng tiền huy động sụt giảm.

Để chính sách mới thực sự là bệ phóng tăng trưởng thay vì ngòi nổ rủi ro, hệ thống ngân hàng cần tập trung vào ba trụ cột cốt lõi.

Một là, chủ động đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn. Các ngân hàng không thể ỷ lại vào dòng vốn ngắn hạn kém ổn định. Việc gia tăng tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) và chủ động phát hành trái phiếu dài hạn vẫn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền tảng vốn bền vững.

Hai là, nâng cấp năng lực quản trị ALM. Cần thường xuyên thực hiện các kịch bản kiểm tra sức chịu đựng (stress test) đối với sự dịch chuyển của dòng tiền và biến động lãi suất. Những tổ chức có hệ thống quản trị rủi ro tốt, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế cao hơn như Basel III, sẽ tận dụng tối đa cơ hội từ Thông tư 25, mà không đẩy mình vào ranh giới nguy hiểm.

Ba là, giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý. Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường thanh tra, giám sát từ xa đối với nhóm ngân hàng có tỷ lệ cho vay trung, dài hạn tiệm cận mức trần 40%, hoặc có chất lượng tài sản suy giảm nhằm ngăn chặn nguy cơ rủi ro hệ thống.

Về lâu dài, dòng vốn trung và dài hạn của một nền kinh tế khỏe mạnh phải được dẫn dắt bởi thị trường vốn. Việc nâng trần lên 40% là một bước đi linh hoạt mang tính giai đoạn. Khi cánh cửa tín dụng mở rộng, sự thận trọng, kỷ cương trong quản trị thanh khoản của các ngân hàng chính là chiếc chìa khóa quyết định sự ổn định bền vững của toàn hệ thống./.

ThS.Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước Khu vực 15

Đọc thêm

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80