PV: Ông đánh giá như thế nào về mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số trong nhiệm kỳ 2026 - 2030 mà Trung ương đã đặt ra?

Thành tựu mới không thể đến từ cách làm cũ
TS. Nguyễn Đình Cung

TS. Nguyễn Đình Cung: Đó là mục tiêu cực kỳ lớn. Bởi cho đến nay, số quốc gia đạt được tốc độ tăng trưởng như vậy trong khoảng 5 năm trở lên là rất ít. Với Việt Nam, 40 năm qua, chúng ta chưa từng đạt được mức tăng 10%, duy nhất năm 1995 đạt 9,5%. Và nhìn vào xu hướng thì từ 40 năm nay, cứ 10 năm tốc độ tăng bình quân GDP của chúng ta lại giảm dần.

Tuy nhiên, việc đặt mục tiêu cao là cần thiết, vì không có mục tiêu cao thì không có kết quả cao. Điều quan trọng hơn tôi muốn nhấn mạnh là từ lâu chúng ta đã xác định đặt mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững và dựa trên nâng cao năng suất, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng. Điều đó có nghĩa là Đảng ta cũng đã đặt ra yêu cầu về cách thức tăng trưởng chứ không chỉ mục tiêu tăng trưởng.

PV: Theo ông, chúng ta có dư địa như thế nào để đạt được mục tiêu này?

TS. Nguyễn Đình Cung: Theo tôi, chúng ta có khá nhiều dư địa. Đầu tiên là phải huy động được một nguồn lực đủ lớn và sử dụng nó một cách hiệu quả. Chỉ khi huy động nguồn lực kèm với sử dụng hiệu quả thì mới có thể ổn định kinh tế vĩ mô lâu dài, tăng trưởng mới bền vững. Cùng với đó, các khâu đột phá chiến lược về phát triển khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực… từ đó tạo dư địa cho tăng trưởng.

Trong các khu vực của nền kinh tế, tôi muốn nhấn mạnh về dư địa trong việc thu hút đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư công. Hiện nay, môi trường đầu tư của ta thực sự chưa tốt, còn nhiều điểm nghẽn về thể chế. Nên đây thực sự là một dư địa, là thách thức nhưng cũng là cơ hội, vì nếu môi trường đầu tư, kinh doanh cải thiện mạnh mẽ sẽ tạo một sức bật lớn từ khu vực tư nhân.

Đồng thời, ở khu vực nhà nước cũng còn rất nhiều dư địa như tỷ lệ nợ công thấp tạo dư địa để huy động cho đầu tư, hay sử dụng hiệu quả hơn nữa số tài sản công…

Thành tựu mới không thể đến từ cách làm cũ
TP. Hồ Chí Minh - một trong những địa phương đi đầu trong chuyển đổi mô hình kinh tế hiệu quả trong những năm qua. Ảnh tư liệu

PV: Bên cạnh việc phải tăng quy mô đầu tư lên tới 40% trên GDP thì chỉ tiêu năng suất lao động cũng được đặt ở mức rất cao trong nhiệm kỳ tới, lên tới 8,5% (so với mức 5 - 6% hiện nay). Làm sao để đạt được điều đó, khi mà nhiều năm qua chỉ tiêu này vẫn không được cải thiện nhiều?

TS. Nguyễn Đình Cung: Một mặt, chúng ta phải huy động được nguồn lực đủ lớn cho đầu tư. Mặt khác, rõ ràng là phải nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Đã có sự đồng bộ từ mục tiêu đến chính sách

“Trong hơn 1 năm qua, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều Nghị quyết mang tính đột phá, đặc biệt là “bộ tứ trụ cột” gồm Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết

59-NQ/TW, Nghị quyết 66-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW. Các Nghị quyết này đã đặt ra những nhóm giải pháp đồng bộ. Cùng với đó, dự thảo Văn kiện trình Đại hội 14 cũng đã xác định các nhóm chủ trương chính sách quan trọng. Như vậy là đã có sự đồng bộ từ mục tiêu đến chính sách. Vấn đề hiện nay là phải có cách làm khác đi để đưa các Nghị quyết vào thực tiễn. Các chính sách triển khai phải cụ thể, rõ ràng hơn, giải pháp phải khả thi, kết quả phải đo lường được, giám sát được. Có như vậy, chúng ta mới có kết quả đột phá”.

TS. Nguyễn Đình Cung

Để nâng cao năng suất thì phải đào tạo nguồn nhân lực. Thực ra giáo dục, đào tạo không thể tách rời nền kinh tế thực. Nếu chúng ta phát triển dựa vào công nghiệp hóa, dựa vào những ngành nghề mới, thì rõ ràng nhu cầu lao động sẽ thay đổi, sẽ dịch chuyển sang là nhu cầu lao động có tay nghề cao. Khi thị trường có nhu cầu, thì chắc chắn hệ thống đào tạo cũng sẽ chuyển đổi.

Tương tự như vậy, để tăng hiệu quả thì cũng không có công cụ gì hơn ngoài cơ chế thị trường, dùng thị trường làm cơ chế huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực. Đồng thời với đó thì khoa học, công nghệ tiến dần vào, để khi thị trường đạt đến ngưỡng thì khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số sẽ thay thế dần nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng này. Muốn vậy phải thúc đẩy, tạo ra một cơ chế tự do kinh doanh, một hệ thống đòn bẩy khuyến khích và áp dụng khoa học, công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo… thành động lực nội sinh. Từ đó, quyết định sự thành bại của từng doanh nghiệp cũng như là của quốc gia, của nền kinh tế.

Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là chỉ số thể hiện mức độ hiệu quả của các yếu tố đầu vào, gồm cả khoa học công nghệ và trình độ lao động. Nếu tăng trưởng chủ yếu dựa vào TFP, nghĩa là tăng năng suất, hiệu quả, khoa học công nghệ thì chắc chắn tăng trưởng sẽ bền vững.

PV: Một dư địa cũng được đề cập là sự bứt phá của các địa phương sẽ đóng góp quan trọng vào việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng. Tuy nhiên, không có nhiều địa phương có được cơ chế đặc thù như một số thành phố lớn. Vậy thách thức cho các địa phương này trong thời gian tới sẽ là gì, thưa ông?

TS. Nguyễn Đình Cung: Khi Trung ương đặt mục tiêu tăng trưởng chung của cả nước là khoảng 10% trở lên, thì rõ ràng các địa phương cũng phải nỗ lực hết mình để đạt mục tiêu cao tương tự như thế.

Đối với 34 tỉnh, thành phố hiện nay, tôi cho rằng, không nhất thiết tất cả các tỉnh đều phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng một cách tuyệt đối từ chiều rộng sang chiều sâu. Bởi có nhiều địa phương mô hình tăng trưởng theo chiều rộng vẫn còn giá trị, nên phải khai thác tăng trưởng dựa trên gia tăng nguồn lực đầu tư, lao động và tận dụng tài nguyên một cách hợp lý.

Song cũng có những địa phương, đặc biệt là những trung tâm kinh tế thì phải đi đầu trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng như TP. Hồ Chí Minh, khu vực Đông Nam Bộ, Hà Nội, khu vực đồng bằng sông Hồng, hay ở miền Trung là Đà Nẵng.

Tuy vậy, ngay cả những địa phương có cơ chế đặc thù thì nhìn lại cơ chế đó cũng chưa phát huy tác dụng. Vậy phải suy nghĩ thêm, cái đặc thù đặc biệt đó thực sự phù hợp với từng địa phương, có tạo được động lực cho tăng trưởng hay chưa? Cơ chế đặc thù không nên copy lẫn nhau, mà phải xuất phát từ lợi thế, tiềm năng riêng của mỗi địa phương để đưa ra các giải pháp phù hợp.

Điều rất quan trọng ở đây là tính tiên phong, đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của người lãnh đạo, vì sự phát triển chung và dựa trên lợi thế của từng địa phương. Hãy nhìn vào lợi thế của mình và nhiều khi thách thức cũng là cơ hội, áp lực sẽ thành động lực.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thách thức của Việt Nam là cần đột phá

“Để duy trì tốc độ tăng trưởng 8% hay 10%, Việt Nam giờ đây phải chuyển đổi từ nền kinh tế dựa trên khả năng cạnh tranh về chi phí sang nền kinh tế dựa vào năng lực. Điều đó có nghĩa là cần nhiều kỹ sư hơn, nhiều nghiên cứu và phát triển hơn, hội nhập dịch vụ sâu hơn và các doanh nghiệp trong nước mạnh hơn để có thể cạnh tranh toàn cầu. Tóm lại, sức mạnh của Việt Nam là đà tăng trưởng và thách thức của Việt Nam là cần đột phá”.

Ông Mickael Driol - CEO Mekong Partner