Thị trường tiền tệ tháng 8: Ngân hàng Nhà nước "hãm phanh" tỷ giá, rút ròng hơn 25.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tháng 8/2025 cho thấy, tỷ giá trung tâm từng áp sát mốc 25.300 VND/USD trước khi hạ nhiệt cuối tháng sau khi Ngân hàng Nhà nước can thiệp bán ngoại tệ có kỳ hạn, trong khi tỷ giá EUR và GBP tiếp đà tăng mạnh. Cùng với đó, nhà điều hành hút ròng hơn 25.200 tỷ đồng qua kênh thị trường mở.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8: Tỷ giá trung tâm sát 25.300 USD/VND, kỳ vọng hạ nhiệt quý III Tỷ giá "bớt nóng" khi Ngân hàng Nhà nước bán USD kỳ hạn, song áp lực dài hạn chưa nguôi

Tỷ giá trung tâm ngày 29/8 được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm thêm 28 đồng, xuống còn 25.240 VND/USD, qua đó giảm tổng cộng 58 đồng so với mức đỉnh được thiết lập. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại được phép giao dịch trong khoảng 23.978 - 26.502 VND/USD. Song song, tỷ giá mua - bán tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm tương ứng, về 24.028 - 26.452 VND/USD.

Tỷ giá USD giảm ở kênh chính thức, nhưng vọt trên thị trường tự do

Tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng tiếp tục được điều chỉnh giảm, với mức hạ từ 10 - 30 đồng ở cả hai chiều. Trên thị trường tự do, USD giao dịch ở mức 26.650 - 26.720 VND/USD, giữ nguyên so với hôm qua.

Tuần qua 25 - 29/8, diễn biến tỷ giá USD/VND cho thấy xu hướng giảm ở kênh chính thức nhưng tăng mạnh ở thị trường tự do. Tại các ngân hàng thương mại, đơn cử Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết 26.132 - 26.502 VND/USD, tăng nhẹ 2 đồng ở chiều mua vào nhưng giảm 18 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD niêm yết ở mức 26.183 - 26.502 VND/USD, giảm mạnh 37 đồng mua vào và 60 đồng bán ra.

Ngược lại, thị trường tự do lại chứng kiến mức tăng vọt 140 đồng, chốt tuần ở 26.650 - 26.720 VND/USD. Việc tỷ giá chợ đen bật mạnh trong khi kênh chính thức ổn định cho thấy một bộ phận nhu cầu ngoại tệ đang tìm đến thị trường phi chính thức.

Chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh đồng bạc xanh so với rổ tiền tệ chủ chốt, giao dịch ở mức 98 điểm. Đà suy yếu này xuất phát từ kỳ vọng ngày càng tăng rằng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) sẽ cắt giảm lãi suất trong tháng tới. Đồng USD cũng chịu áp lực mới từ những động thái chính trị, khi Tổng thống Donald Trump gia tăng ảnh hưởng đối với chính sách tiền tệ và tìm cách sa thải bà Lisa Cook - Thống đốc Fed.

thị trường tiền tệ tháng 8
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

DXY mất đà song tỷ giá USD vẫn tăng, EUR và GBP bật mạnh

Trong tháng 8, tỷ giá trung tâm có lúc áp sát mốc 25.300 VND/USD trước khi hạ nhiệt 58 đồng từ mức đỉnh vào cuối tháng. Thị trường ghi nhận USD tăng nhẹ, chỉ số DXY giảm 2% từ mức trên 100 điểm đầu tháng. Ngược chiều, tỷ giá EUR tăng và GBP bật mạnh trên 800 VND/EUR tại nhiều ngân hàng, trong khi JPY gần như đi ngang.

Về diễn biến trong tháng 8, tỷ giá trung tâm từng sát ngưỡng 25.300 VND/USD khi đạt 25.298 VND/USD ngày 22/8 sau khi quay đầu giảm nhiệt tuần cuối tháng, giữ nguyên 25.240 VND/USD như cuối tháng 7.

Thị trường ngoại hối trong nước ghi nhận xu hướng đồng USD tiếp đà tăng, trong khi EUR và GBP bật mạnh, còn JPY gần như đi ngang.

Theo đó, tại Vietcombank, tỷ giá USD tăng lần lượt 142 đồng (chiều mua) và 122 đồng (chiều bán) so với cuối tháng trước (25.990 - 26.380 VND/USD). Tại BIDV, bức tranh tương tự được ghi nhận, tỷ giá USD tăng 176 đồng (chiều mua) và 135 đồng (chiều bán).

Đáng chú ý, tỷ giá EUR tăng vọt lên 29.945 - 31.524 VND/EUR, tức tăng tới 732 - 770 đồng chỉ trong một tháng tại Vietcombank.

Tỷ giá GBP thậm chí tăng mạnh hơn tại Vietcombank, đạt 34.640 - 36.111 VND/GBP, tương ứng tăng 801 - 835 đồng. Tại BIDV là 35.090 - 36.009 VND/GBP, tăng 824 - 790 đồng. Sự bứt phá của hai đồng tiền châu Âu phản ánh kỳ vọng kinh tế khu vực tăng trưởng vượt dự kiến, đồng thời chịu tác động từ việc USD suy yếu.

Can thiệp bằng bán ngoại tệ kỳ hạn, hút ròng hơn 25.000 tỷ đồng

Theo nhận định nhóm phân tích của Chứng khoán VPBank (VPBankS), tỷ giá trong nước tiếp tục leo thang và thiết lập các kỷ lục mới và chịu tác động trực tiếp từ sức mạnh của đồng USD trên thị trường quốc tế khi DXY duy trì quanh 98 điểm.

Kỳ vọng Fed hạ lãi suất sẽ giảm áp lực tỷ giá

Chia sẻ gần đây, ông Bùi Văn Huy - Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc Khối Nghiên cứu Đầu tư FIDT kỳ vọng, Fed sẽ sớm hạ lãi suất trong cuộc họp tới, giảm bớt rủi ro tỷ giá. Đánh giá khả năng đảo chiều chính sách tiền tệ, ông Huy cho rằng, điều này sẽ xảy ra nếu lạm phát quay trở lại và vượt ngưỡng cho phép. Bên cạnh đó, tỷ giá USD/VND nếu biến động quá nóng thì Ngân hàng Nhà nước sẽ can thiệp để siết lại. Đây là hai điểm quan trọng cần quan sát, nhưng trong 6 tháng - 1 năm tới, cả lạm phát và tỷ giá dự báo vẫn trong vùng kiểm soát.

Theo VPBankS, VND tiếp tục chịu áp lực mất giá so với đồng USD, xuất phát từ nhiều yếu tố như: bất ổn kinh tế và chính trị toàn cầu gia tăng, nhu cầu nhập khẩu theo mùa tăng cao, dòng vốn FDI giải ngân chậm, và rủi ro thâm hụt cán cân thương mại ngày càng lớn.

"Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng áp lực này sẽ dần hạ nhiệt trong các tháng tới khi DXY tiếp tục xu hướng giảm, trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9. Bên cạnh đó, những tiến triển gần đây trong việc hoàn tất thỏa thuận thương mại song phương giữa Mỹ và Việt Nam được kỳ vọng sẽ nâng cao tính minh bạch chính sách, đồng thời cải thiện tâm lý nhà đầu tư về triển vọng thương mại và kinh tế" - VPBankS đánh giá.

Vì vậy, nhóm phân tích khuyến nghị theo dõi chặt chẽ diễn biến cung - cầu USD, song song với những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước.

Trước sức nóng "hầm hập" của tỷ giá, ngày 25 - 26/8, Ngân hàng Nhà nước tiến hành can thiệp bán ngoại tệ có kỳ hạn, có huỷ ngang trong 180 ngày với giá bán 26.550 VND/USD cho các ngân hàng có trạng thái ngoại tệ âm. Động thái này có ý nghĩa định hướng về điểm neo tỷ giá và thăm dò nhu cầu USD khi Ngân hàng Nhà nước thực tế chưa can thiệp trực tiếp thông qua bán ngoại tệ giao ngay.

thị trường tiền tệ tháng 8
Thị trường tiền tệ tháng 8: Ngân hàng Nhà nước "hãm phanh" tỷ giá, rút ròng hơn 25.000 tỷ đồng. Ảnh minh hoạ.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 25 - 29/8, ở kênh cầm cố, có 41.552,01 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày, với lãi suất 4%; có tới 58.822,36 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Hiện Ngân hàng Nhà nước vẫn dừng chào thầu tín phiếu từ cuối tháng 7 tới nay. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 17.270,35 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở, trong đó hút ròng 4/5 phiên liên tiếp cuối tuần. Còn 181.663,71 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, không còn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường.

Tính chung tháng qua, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.211,28 tỷ đồng qua kênh thị trường mở./.

Lãi suất qua đêm lao dốc, còn khoảng 2%

Trong tuần cuối tháng 8, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận xu hướng giảm khá mạnh ở hầu hết các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống được cải thiện. Lãi suất qua đêm giảm từ mức 4,76% ngày 22/8 xuống chỉ còn 2,03% ngày 29/8, tức mất hơn 2,7 điểm phần trăm trong một tuần. Các kỳ hạn ngắn khác cũng đồng loạt hạ nhiệt: kỳ hạn 1 tuần lùi từ 4,94% xuống 3,97%, kỳ hạn 2 tuần từ 5,63% xuống 4,75%, còn kỳ hạn 1 tháng gần như đi ngang quanh 4,95%. Riêng kỳ hạn 3 tháng giữ mức cao nhất, song cũng giảm nhẹ từ 5,66% còn 5,53%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30