Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8: Tỷ giá trung tâm sát 25.300 USD/VND, kỳ vọng hạ nhiệt quý III

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật của thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh, tỷ giá trung tâm áp sát mốc 25.300 VND/USD, kéo theo các ngân hàng thương mại đồng loạt điều chỉnh. Trái lại, tỷ giá EUR và GBP giảm sâu, còn lãi suất liên ngân hàng giữ quanh mức 4 - 5%.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8: Tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh Tỷ giá chịu áp lực, Ngân hàng Nhà nước cân nhắc dừng giảm lãi suất Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động

Ngày 22/8, Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá trung tâm thêm 25 đồng, lên 25.298 VND/USD, gần chạm mốc kỷ lục 25.300 VND/USD. Với biên độ 5%, tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại được phép dao động từ 24.033 - 26.563 VND/USD. Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh tỷ giá mua - bán tham khảo lên 24.084 - 26.512 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm áp sát 25.300 VND/USD, ngân hàng tăng mạnh

Tại các ngân hàng thương mại, nhiều đơn vị ghi nhận phiên tăng giá thứ 5 liên tiếp trong tuần.

Tính chung tuần qua 18 - 22/8, tỷ giá USD đi lên rõ rệt. Tỷ giá trung tâm Ngân hàng Nhà nước tăng liên tiếp 4/5 phiên và bật mạnh vào cuối tuần, tăng 49 đồng so với cuối tuần trước, tiến sát mốc 25.300 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8: Tỷ giá trung tâm sát 25.300 USD/VND, kỳ vọng hạ nhiệt quý III
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8: Tỷ giá trung tâm sát 25.300 USD/VND, kỳ vọng hạ nhiệt quý III. Ảnh: T.L.

Tuần qua 18 - 22/8, tỷ giá USD tăng mạnh. Tỷ giá trung tâm tăng 49 đồng, tiến sát mốc 25.300 VND/USD, các ngân hàng thương mại đồng loạt điều chỉnh tăng. Ngược lại, tỷ giá EUR và GBP đồng loạt giảm mạnh.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank và BIDV đều điều chỉnh tăng mạnh. Đơn cử, Vietcombank nâng 70 đồng hai chiều, lên 26.130 - 26.520 VND/USD, trong khi BIDV điều chỉnh mạnh hơn với mức tăng 129 đồng ở chiều mua vào và 111 đồng ở chiều bán ra, lên 26.220 - 26.562 VND/USD.

Trên thị trường tự do, giá bán ra tăng sớm đầu tuần rồi giữ nguyên ở 26.510 - 26.580 VND/USD trong những phiên cuối tuần, tương ứng tăng 75 đồng hai chiều tuần qua. Hệ quả là chi phí ngoại tệ của doanh nghiệp nhập khẩu vẫn ở vùng cao.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt khác, tăng lên 98,65 điểm. Giới đầu tư hiện chờ đợi phát biểu của Chủ tịch Jerome Powell để tìm manh mối về bước đi tiếp theo của Fed và gia tăng kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất trong cuộc họp ngày 16 - 17/9 sau báo cáo việc làm tháng 7 yếu hơn dự kiến. Tuy nhiên, nguy cơ lạm phát cao do chính quyền Tổng thống Donald Trump áp thuế quan mới vẫn khiến một số nhà hoạch định chính sách thận trọng.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR và GBP (Bảng Anh) đồng loạt giảm ở cả hai ngân hàng. Tại Vietcombank, EUR mất 138 - 145,9 đồng xuống 29.762 - 31.331 VND/EUR, còn GBP giảm 272 - 283,6 đồng, xuống 34.421 - 35.882 VND/GBP, mất mốc 36.000 đồng chiều bán ra sau tuần trước tăng mạnh.

Còn BIDV ghi nhận mức giảm nhẹ hơn, tỷ giá EUR lùi 45 - 74 đồng xuống 30.186 - 31.398 VND/EUR, trong khi tỷ giá GBP mất 202 - 242 đồng còn 34.966 - 35.905 VND/GBP.

Đối với JPY, biến động tuần qua khá nhẹ. Vietcombank điều chỉnh giảm 1,6 - 1,7 đồng, còn 170,96 - 181,82 VND/JPY, trong khi BIDV giảm 0,8 - 0,9 đồng, về 174,63 - 182,21 VND/GBP.

Kỳ vọng tỷ giá hạ nhiệt nếu Fed hạ lãi suất tháng 9

Theo đánh giá của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính Khối Ngân hàng Doanh nghiệp và Định chế Tài chính thuộc Ngân hàng Techcombank, diễn biến tỷ giá USD/VND tiếp tục chịu áp lực tăng, chủ yếu do nhu cầu mua USD của các doanh nghiệp để thanh toán tiền nhập khẩu nguyên vật liệu. Ngoài ra, đây cũng là thời điểm cao điểm trong mùa vụ chuyển lợi nhuận về nước của khối doanh nghiệp FDI, góp phần gia tăng cầu ngoại tệ.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8: Tỷ giá trung tâm sát 25.300 USD/VND, kỳ vọng hạ nhiệt quý III
Nguồn: Techcombank.

Trong ngắn hạn, Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính thuộc Techcombank dự báo tỷ giá USD/VND sẽ tiếp tục chịu áp lực từ một số yếu tố. Một là, có doanh nghiệp nước ngoài thoái vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam dẫn đến dòng vốn ngoại rút ra trong ngắn hạn. Hai là, doanh nghiệp tiếp tục nhập khẩu nguyên vật liệu để chuẩn bị cho các đơn hàng cuối năm và mùa lễ hội, đặc biệt là dịp Noel, khiến nhu cầu USD vẫn duy trì ở mức cao.

"Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ đạt đỉnh trong quý III và bớt chịu áp lực hơn vào cuối năm, nhờ các yếu tố hỗ trợ" - nhóm phân tích đánh giá.

Công ty Chứng khoán Yuanta cũng cho rằng, tỷ giá USD/VND có thể sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi đà giảm của đồng USD sau các dữ liệu kinh tế kém tích cực tại Mỹ và kỳ vọng Fed giảm lãi suất 25 điểm cơ bản trong tháng 9.

Theo nhóm phân tích từ thuộc Techcombank, Fed dự kiến bắt đầu cắt giảm lãi suất vào cuối năm, kết hợp với xu hướng suy yếu của đồng USD. Cùng với đó, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD vẫn được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì ở mức hợp lý, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá.

Nguồn kiều hối được kỳ vọng tăng trở lại, thậm chí có thể về sớm hơn trong nửa cuối năm, trong bối cảnh kinh tế trong nước ổn định và thuận lợi, tạo thêm nguồn cung ngoại tệ cho thị trường. Dựa trên các yếu tố trên, nhóm phân tích dự báo tỷ giá USD/VND sẽ tăng khoảng 2,5 - 3,5% vào thời điểm cuối năm.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 18 - 22/8, ở kênh cầm cố, có 103.444,6 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 91 ngày, với lãi suất 4%; có tới 100.552,53 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Hiện Ngân hàng Nhà nước vẫn dừng chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ 2.892,07 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 198.934,05 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, không còn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường.

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều ở các kỳ hạn. Ở kỳ hạn qua đêm, lãi suất dao động khá mạnh, đầu tuần ở mức 4,49% rồi giảm về 3,78% trong ngày 20/8 trước khi bật tăng trở lại 4,47% vào phiên ngày 21/8, tương ứng giảm nhẹ 0,02 điểm phần trăm so với tuần trước. Kỳ hạn 1 tuần cũng giảm nhẹ 0,03 điểm phần trăm về 4,66%. Kỳ hạn 2 tuần chịu áp lực giảm sâu nhất, mất 0,12 điểm phần trăm, xuống còn 4,99%.

Ngược lại, lãi suất kỳ hạn dài hơn có xu hướng tăng. Kỳ hạn 1 tháng tăng 0,60 điểm phần trăm, lên 5,25%. Trong khi đó, kỳ hạn 3 tháng biến động nhẹ, giảm 0,07 điểm phần trăm về 5,42%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với loạt chỉ tiêu tăng trưởng hai chữ số. Theo đó, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% và hướng tới mức cao nhất lịch sử. Dư nợ tín dụng thị trường 1 dự kiến đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%; đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đảm bảo tăng trưởng đi kèm an toàn.
ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa bổ sung tờ trình sửa đổi đề án thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Đại hội đồng cổ đông tới đây. Theo đó, ACB Insurance có vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng. Doanh nghiệp đặt mục tiêu sau 5 năm sẽ chiếm trên 1,5% thị phần nhờ tăng trưởng phí trên 50%/năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Hà Nội - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Miền Tây - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
NL 99.90 15,720 ▲250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,750 ▲250K
Trang sức 99.9 16,490 ▲280K 17,190 ▲280K
Trang sức 99.99 16,500 ▲280K 17,200 ▲280K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,717 ▲45K 17,472 ▲450K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,717 ▲45K 17,473 ▲450K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Cập nhật: 25/03/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17898 18172 18754
CAD 18620 18897 19521
CHF 32806 33191 33850
CNY 0 3470 3830
EUR 29988 30261 31297
GBP 34577 34969 35915
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15081 15672
SGD 20090 20373 20906
THB 727 790 844
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26359
AUD 18091 18191 19119
CAD 18809 18909 19927
CHF 33067 33097 34689
CNY 3764.6 3789.6 3925.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30184 30214 31937
GBP 34903 34953 36705
HKD 0 3355 0
JPY 162.64 163.14 173.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20256 20386 21121
THB 0 756.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17600000
SBJ 15000000 15000000 17600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80