Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8: Tỷ giá trung tâm sát 25.300 USD/VND, kỳ vọng hạ nhiệt quý III

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật của thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh, tỷ giá trung tâm áp sát mốc 25.300 VND/USD, kéo theo các ngân hàng thương mại đồng loạt điều chỉnh. Trái lại, tỷ giá EUR và GBP giảm sâu, còn lãi suất liên ngân hàng giữ quanh mức 4 - 5%.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8: Tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh Tỷ giá chịu áp lực, Ngân hàng Nhà nước cân nhắc dừng giảm lãi suất Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động

Ngày 22/8, Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá trung tâm thêm 25 đồng, lên 25.298 VND/USD, gần chạm mốc kỷ lục 25.300 VND/USD. Với biên độ 5%, tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại được phép dao động từ 24.033 - 26.563 VND/USD. Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh tỷ giá mua - bán tham khảo lên 24.084 - 26.512 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm áp sát 25.300 VND/USD, ngân hàng tăng mạnh

Tại các ngân hàng thương mại, nhiều đơn vị ghi nhận phiên tăng giá thứ 5 liên tiếp trong tuần.

Tính chung tuần qua 18 - 22/8, tỷ giá USD đi lên rõ rệt. Tỷ giá trung tâm Ngân hàng Nhà nước tăng liên tiếp 4/5 phiên và bật mạnh vào cuối tuần, tăng 49 đồng so với cuối tuần trước, tiến sát mốc 25.300 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8: Tỷ giá trung tâm sát 25.300 USD/VND, kỳ vọng hạ nhiệt quý III
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8: Tỷ giá trung tâm sát 25.300 USD/VND, kỳ vọng hạ nhiệt quý III. Ảnh: T.L.

Tuần qua 18 - 22/8, tỷ giá USD tăng mạnh. Tỷ giá trung tâm tăng 49 đồng, tiến sát mốc 25.300 VND/USD, các ngân hàng thương mại đồng loạt điều chỉnh tăng. Ngược lại, tỷ giá EUR và GBP đồng loạt giảm mạnh.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank và BIDV đều điều chỉnh tăng mạnh. Đơn cử, Vietcombank nâng 70 đồng hai chiều, lên 26.130 - 26.520 VND/USD, trong khi BIDV điều chỉnh mạnh hơn với mức tăng 129 đồng ở chiều mua vào và 111 đồng ở chiều bán ra, lên 26.220 - 26.562 VND/USD.

Trên thị trường tự do, giá bán ra tăng sớm đầu tuần rồi giữ nguyên ở 26.510 - 26.580 VND/USD trong những phiên cuối tuần, tương ứng tăng 75 đồng hai chiều tuần qua. Hệ quả là chi phí ngoại tệ của doanh nghiệp nhập khẩu vẫn ở vùng cao.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt khác, tăng lên 98,65 điểm. Giới đầu tư hiện chờ đợi phát biểu của Chủ tịch Jerome Powell để tìm manh mối về bước đi tiếp theo của Fed và gia tăng kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất trong cuộc họp ngày 16 - 17/9 sau báo cáo việc làm tháng 7 yếu hơn dự kiến. Tuy nhiên, nguy cơ lạm phát cao do chính quyền Tổng thống Donald Trump áp thuế quan mới vẫn khiến một số nhà hoạch định chính sách thận trọng.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR và GBP (Bảng Anh) đồng loạt giảm ở cả hai ngân hàng. Tại Vietcombank, EUR mất 138 - 145,9 đồng xuống 29.762 - 31.331 VND/EUR, còn GBP giảm 272 - 283,6 đồng, xuống 34.421 - 35.882 VND/GBP, mất mốc 36.000 đồng chiều bán ra sau tuần trước tăng mạnh.

Còn BIDV ghi nhận mức giảm nhẹ hơn, tỷ giá EUR lùi 45 - 74 đồng xuống 30.186 - 31.398 VND/EUR, trong khi tỷ giá GBP mất 202 - 242 đồng còn 34.966 - 35.905 VND/GBP.

Đối với JPY, biến động tuần qua khá nhẹ. Vietcombank điều chỉnh giảm 1,6 - 1,7 đồng, còn 170,96 - 181,82 VND/JPY, trong khi BIDV giảm 0,8 - 0,9 đồng, về 174,63 - 182,21 VND/GBP.

Kỳ vọng tỷ giá hạ nhiệt nếu Fed hạ lãi suất tháng 9

Theo đánh giá của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính Khối Ngân hàng Doanh nghiệp và Định chế Tài chính thuộc Ngân hàng Techcombank, diễn biến tỷ giá USD/VND tiếp tục chịu áp lực tăng, chủ yếu do nhu cầu mua USD của các doanh nghiệp để thanh toán tiền nhập khẩu nguyên vật liệu. Ngoài ra, đây cũng là thời điểm cao điểm trong mùa vụ chuyển lợi nhuận về nước của khối doanh nghiệp FDI, góp phần gia tăng cầu ngoại tệ.

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/8: Tỷ giá trung tâm sát 25.300 USD/VND, kỳ vọng hạ nhiệt quý III
Nguồn: Techcombank.

Trong ngắn hạn, Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính thuộc Techcombank dự báo tỷ giá USD/VND sẽ tiếp tục chịu áp lực từ một số yếu tố. Một là, có doanh nghiệp nước ngoài thoái vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam dẫn đến dòng vốn ngoại rút ra trong ngắn hạn. Hai là, doanh nghiệp tiếp tục nhập khẩu nguyên vật liệu để chuẩn bị cho các đơn hàng cuối năm và mùa lễ hội, đặc biệt là dịp Noel, khiến nhu cầu USD vẫn duy trì ở mức cao.

"Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ đạt đỉnh trong quý III và bớt chịu áp lực hơn vào cuối năm, nhờ các yếu tố hỗ trợ" - nhóm phân tích đánh giá.

Công ty Chứng khoán Yuanta cũng cho rằng, tỷ giá USD/VND có thể sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi đà giảm của đồng USD sau các dữ liệu kinh tế kém tích cực tại Mỹ và kỳ vọng Fed giảm lãi suất 25 điểm cơ bản trong tháng 9.

Theo nhóm phân tích từ thuộc Techcombank, Fed dự kiến bắt đầu cắt giảm lãi suất vào cuối năm, kết hợp với xu hướng suy yếu của đồng USD. Cùng với đó, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD vẫn được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì ở mức hợp lý, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá.

Nguồn kiều hối được kỳ vọng tăng trở lại, thậm chí có thể về sớm hơn trong nửa cuối năm, trong bối cảnh kinh tế trong nước ổn định và thuận lợi, tạo thêm nguồn cung ngoại tệ cho thị trường. Dựa trên các yếu tố trên, nhóm phân tích dự báo tỷ giá USD/VND sẽ tăng khoảng 2,5 - 3,5% vào thời điểm cuối năm.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 18 - 22/8, ở kênh cầm cố, có 103.444,6 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 91 ngày, với lãi suất 4%; có tới 100.552,53 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Hiện Ngân hàng Nhà nước vẫn dừng chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ 2.892,07 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 198.934,05 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, không còn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường.

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều ở các kỳ hạn. Ở kỳ hạn qua đêm, lãi suất dao động khá mạnh, đầu tuần ở mức 4,49% rồi giảm về 3,78% trong ngày 20/8 trước khi bật tăng trở lại 4,47% vào phiên ngày 21/8, tương ứng giảm nhẹ 0,02 điểm phần trăm so với tuần trước. Kỳ hạn 1 tuần cũng giảm nhẹ 0,03 điểm phần trăm về 4,66%. Kỳ hạn 2 tuần chịu áp lực giảm sâu nhất, mất 0,12 điểm phần trăm, xuống còn 4,99%.

Ngược lại, lãi suất kỳ hạn dài hơn có xu hướng tăng. Kỳ hạn 1 tháng tăng 0,60 điểm phần trăm, lên 5,25%. Trong khi đó, kỳ hạn 3 tháng biến động nhẹ, giảm 0,07 điểm phần trăm về 5,42%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị, chuẩn bị bước vào năm học mới, phụ huynh, học sinh, sinh viên chủ động kiểm tra giá trị sử dụng thẻ bảo hiểm y tế sau khi hoàn tất tham gia, nhằm kịp thời phát hiện và phản ánh nếu thông tin chưa được cập nhật hoặc chưa chính xác.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

(TBTCO) - Trong năm 2026, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân tai nạn giao thông. Tại Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa và một số địa phương, các khoản hỗ trợ được trao kịp thời, đúng đối tượng, góp phần chia sẻ khó khăn, giảm bớt gánh nặng cho gia đình người bị nạn. Qua đó, vai trò của Quỹ tiếp tục được phát huy không chỉ trong công tác hỗ trợ nhân đạo mà còn trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn giao thông và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.335,4 USD/ounce, kéo chênh lệch với vàng miếng trong nước lên khoảng 6,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng nhẹ, giá vàng miếng giao dịch quanh 144,3 triệu đồng/lượng.
VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

(TBTCO) - Với không gian trải nghiệm hiện đại và nhiều hoạt động tương tác hấp dẫn, gian hàng VPBank tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 18/8 tại Hà Nội) đã trở thành điểm dừng chân nổi bật tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng 2026. Chuỗi hoạt động giới thiệu sản phẩm, tư vấn giải pháp tài chính và trải nghiệm công nghệ thanh toán mới đã mang đến những góc nhìn trực quan về hành trình chuyển đổi số đang được VPBank đẩy mạnh.
Từ LPBank Plus đến Lộc Phát Shop: LPBank giới thiệu các giải pháp số tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng

Từ LPBank Plus đến Lộc Phát Shop: LPBank giới thiệu các giải pháp số tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng

(TBTCO) - Tham gia sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) giới thiệu hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số với hai điểm nhấn là ứng dụng LPBank Plus và giải pháp Lộc Phát Shop, qua đó khẳng định những bước tiến trong ứng dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng.
BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

(TBTCO) - Mang tới giải pháp chi tiêu an toàn và thuận lợi, BAC A BANK dành tặng thêm chương trình ưu đãi “Mở thẻ mới - Quà tới tay” cho khách hàng mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK Mastercard.
NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

(TBTCO) - NCB dự kiến phát hành riêng lẻ 3,3 tỷ cổ phiếu, huy động 33.000 tỷ đồng. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng lên gần 62.280 tỷ đồng, gấp 3,2 lần đầu năm 2026, đánh dấu 5 lần tăng vốn trong 6 năm và đưa NCB vào top 10 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất thị trường.
Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

(TBTCO) - Phát biểu tại sự kiện “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026”, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, chuyển đổi số càng sâu, những vấn đề mới càng xuất hiện nhanh. Theo đó, toàn ngành cần tập trung 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đổi mới mạnh mẽ, nhưng có trọng tâm, có kiểm soát và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 142,600
Hà Nội - PNJ 139,100 142,600
Đà Nẵng - PNJ 139,100 142,600
Miền Tây - PNJ 139,100 142,600
Tây Nguyên - PNJ 139,100 142,600
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 142,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 14,320
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,630 14,230
Trang sức 99.99 13,640 14,240
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 1,407
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 139,307
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 105,686
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 95,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 85,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 82,186
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 58,828
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 20/08/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 20/08/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80