Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8: Tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật của thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8 cho thấy, tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng lên 25.249 VND/USD, kéo USD tại ngân hàng và thị trường tự do cùng nhích lên; nhiều ngoại tệ mạnh tăng, đặc biệt GBP vượt mốc 36.000 VND/GBP. Cùng thời gian, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 20.000 tỷ đồng, song lãi suất liên ngân hàng giảm sâu các kỳ hạn ngắn chỉ còn trên 4%.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/8: Tỷ giá EUR và GBP tăng mạnh, lãi suất liên ngân hàng vọt lên 6,6% Tỷ giá chịu áp lực, Ngân hàng Nhà nước cân nhắc dừng giảm lãi suất

Ngày 15/8, Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá trung tâm thêm 9 đồng, lên 25.249 VND/USD. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần ở mức 26.511 VND/USD và tỷ giá sàn là 23.987 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo tăng tương ứng, ở mức 24.037 VND/USD (mua vào) và 26.452 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng

Nhiều ngân hàng cũng điều chỉnh tăng tỷ giá USD. Trên thị trường tự do, tỷ giá USD được giao dịch quanh 26.460 VND/USD chiều mua vào và 26.550 VND/USD chiều bán ra, đứng yên trong ba phiên vừa qua.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8: Tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh
Tỷ giá bảng Anh tại nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng đáng kể, vượt 36.000 VND/GBP chiều bán. Ảnh minh họa.

Tính chung tuần qua 11 - 15/8, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục duy trì xu hướng tăng, khi chốt tuần ở mức 25.249 VND/USD, tăng 21 đồng so với cuối tuần trước, xoá đi thành quả hạ nhiệt tuần trước (giảm 21 đồng).

Theo xu hướng đi lên của tỷ giá trung tâm, các ngân hàng thương mại cũng đồng loạt điều chỉnh tăng giá USD trong giao dịch. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD tăng 50 đồng cả hai chiều tuần qua, lên 26.060 - 26.450 VND/USD. Tại BIDV, mức tăng tương tự ở 47 đồng cho cả hai chiều, đưa giá mua vào - bán ra lên 26.091 - 26.451 VND/USD.

Trong khi đó, thị trường tự do có diễn biến kém sôi động hơn, giá bán ra USD chỉ tăng 25 đồng hai chiều, lên 25.450 - 26.505 VND/USD và thấp hơn so với 30 đồng của tuần trước, phản ánh tâm lý giao dịch tương đối ổn định.

Tuần qua từ ngày 11 - 15/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, chốt tuần ở mức 25.249 VND/USD, nhích 21 đồng so với cuối tuần trước. USD tại các ngân hàng thương mại và thị trường tự do cùng tăng nhẹ, trong khi EUR, GBP biến động mạnh, tỷ giá bán GBP vượt 36.000 VND/GBP chiều bán, JPY gần như đi ngang, phản ánh diễn biến phân hóa giữa các đồng tiền.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, tiếp đà giảm nhẹ trong tuần qua, lùi về khoảng 97,88 điểm, tiếp tục nằm sâu dưới ngưỡng 100 điểm sau tuần tăng mạnh đầu tháng 8.

Với các ngoại tệ khác như đồng EUR, mức biến động mạnh hơn đáng kể. Tại Vietcombank, giá mua EUR tăng 120,8 đồng và bán ra tăng 127,1 đồng, lên 29.900,66 - 31.477,08 VND/EUR. Tại BIDV, giá mua và bán cũng tăng lần lượt 121 đồng và 126 đồng, lên 30.231 131.471 VND/EUR.

GBP (Bảng Anh) là đồng tiền tăng mạnh nhất trong tuần. Vietcombank điều chỉnh tăng tới 370,1 đồng ở chiều mua và 385,7 đồng ở chiều bán, lên mức 34.692,55 - 36.165,3 VND/GBP. BIDV cũng ghi nhận mức tăng mạnh hơn, lần lượt 385 đồng và 402 đồng, niêm yết ở mức 35.168 - 36.147 VND/EUR.

Trong khi đó, JPY gần như đi ngang. Cả Vietcombank và BIDV chỉ tăng 0,7 - 0,8 đồng cho cả hai chiều, đưa giá bán ra dao động quanh 183 VND/JPY.

Áp lực tỷ giá chưa hạ nhiệt, hút ròng trên 20.000 tỷ đồng

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn này điều chỉnh tỷ giá trung tâm một cách linh hoạt nhằm hấp thụ các cú sốc từ thị trường quốc tế và góp phần ổn định thị trường ngoại tệ.

Kỳ vọng thị trường ngoại hối tích cực cuối năm

Nhóm phân tích VCBS dự báo VND có thể giảm giá tương đối so với đồng USD, với mức biến động hợp lý khoảng 4 - 5% cho cả năm 2025. Vào thời điểm cuối năm, VCBS kỳ vọng thị trường ngoại hối sẽ tích cực hơn nhờ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất và căng thẳng thương mại hạ nhiệt so với giai đoạn trước, từ đó, khuyến khích dòng vốn đầu tư quay trở lại Việt Nam thay vì duy trì tâm lý thận trọng.

Nhóm phân tích VCBS chỉ rõ, diễn biến mất giá của đồng Việt Nam từ đầu năm đến nay chủ yếu xuất phát từ ba nguyên nhân.

Thứ nhất, chính sách tiền tệ nới lỏng cùng với mặt bằng lãi suất thấp được duy trì để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng của Chính phủ.

Thứ hai, rủi ro về thuế quan vẫn hiện hữu, làm gia tăng nhu cầu dự trữ ngoại tệ. Sau đàm phán, Mỹ áp thuế 20% đối với hàng hóa Việt Nam, mức này thấp hơn so với 46% công bố trước đó, song thị trường vẫn lo ngại nguy cơ áp thuế 40% đối với hàng trung chuyển khi chưa có định nghĩa rõ ràng.

Thứ ba, giá vàng tăng mạnh gây áp lực gián tiếp lên tỷ giá, cùng với sự mạnh lên của các đồng tiền quốc tế khác, khiến tâm lý nắm giữ ngoại tệ gia tăng.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8: Tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh
Nguồn: VCBS.

Cũng theo nhận định từ VPBankS, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục đi lên, nhiều khả năng do chịu áp lực từ nhu cầu USD trong thương mại và dòng vốn ngoại. VND tiếp tục chịu áp lực mất giá so với đồng USD, xuất phát từ nhiều yếu tố như: bất ổn kinh tế và chính trị toàn cầu gia tăng, nhu cầu nhập khẩu theo mùa tăng cao, dòng vốn FDI giải ngân chậm và rủi ro thâm hụt cán cân thương mại ngày càng lớn.

Tuy nhiên, VPBankS kỳ vọng áp lực này sẽ dần hạ nhiệt trong các tháng tới khi DXY tiếp tục xu hướng giảm, trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9.

"Chúng tôi khuyến nghị theo dõi chặt chẽ diễn biến cung - cầu USD, song song với những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước" - VPBankS nhấn mạnh.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 11 - 15/8, ở kênh cầm cố, có 59.476,82 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 91 ngày; có tới 79.894,49 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Hiện Ngân hàng Nhà nước vẫn dừng chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 20.417,67 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 196.041,98 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, không còn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường.

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận xu hướng giảm mạnh ở hầu hết các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống có phần cải thiện so với tuần trước.

Cụ thể, kỳ hạn qua đêm giảm sâu 2,1%, từ mức 6,25% cuối tuần trước xuống còn 4,15% vào ngày 13/8. Kỳ hạn 1 tuần giảm 1,69%, còn 4,42%; kỳ hạn 2 tuần giảm 1,87%, xuống 4,41%. Kỳ hạn 1 tháng chỉ giảm nhẹ 0,58%, còn 4,93%, trong khi kỳ hạn 3 tháng gần như đi ngang, giảm 0,02%, duy trì ở mức 5,66%. Đà hạ nhiệt mạnh nhất tập trung ở nhóm kỳ hạn ngắn cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng đã giảm đáng kể./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng

Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng

SSI Research đánh giá, Thông tư số 50/2026/TT-NHNN tạo bước đệm nới lỏng trong ngắn hạn, khi nâng trần LDR từ 85% lên 95%. Về dài hạn, việc áp dụng các chỉ tiêu Basel III được đánh giá là bước đi đúng hướng, chuyển trọng tâm quản lý từ “số lượng” sang “chất lượng” bảng cân đối.
Bộ Tài chính thay thế 9 chế độ báo cáo định kỳ trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Bộ Tài chính thay thế 9 chế độ báo cáo định kỳ trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 9 chế độ báo cáo định kỳ trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm được thay thế, trong đó có báo cáo danh sách đại lý bảo hiểm vi phạm quy định pháp luật, tình hình triển khai hoạt động đại lý bảo hiểm của tổ chức tín dụng... Quyết định đồng thời quy định cụ thể đối tượng thực hiện, tần suất báo cáo.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30