Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8: Tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật của thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8 cho thấy, tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng lên 25.249 VND/USD, kéo USD tại ngân hàng và thị trường tự do cùng nhích lên; nhiều ngoại tệ mạnh tăng, đặc biệt GBP vượt mốc 36.000 VND/GBP. Cùng thời gian, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 20.000 tỷ đồng, song lãi suất liên ngân hàng giảm sâu các kỳ hạn ngắn chỉ còn trên 4%.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/8: Tỷ giá EUR và GBP tăng mạnh, lãi suất liên ngân hàng vọt lên 6,6% Tỷ giá chịu áp lực, Ngân hàng Nhà nước cân nhắc dừng giảm lãi suất

Ngày 15/8, Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá trung tâm thêm 9 đồng, lên 25.249 VND/USD. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần ở mức 26.511 VND/USD và tỷ giá sàn là 23.987 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo tăng tương ứng, ở mức 24.037 VND/USD (mua vào) và 26.452 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng

Nhiều ngân hàng cũng điều chỉnh tăng tỷ giá USD. Trên thị trường tự do, tỷ giá USD được giao dịch quanh 26.460 VND/USD chiều mua vào và 26.550 VND/USD chiều bán ra, đứng yên trong ba phiên vừa qua.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8: Tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh
Tỷ giá bảng Anh tại nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng đáng kể, vượt 36.000 VND/GBP chiều bán. Ảnh minh họa.

Tính chung tuần qua 11 - 15/8, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục duy trì xu hướng tăng, khi chốt tuần ở mức 25.249 VND/USD, tăng 21 đồng so với cuối tuần trước, xoá đi thành quả hạ nhiệt tuần trước (giảm 21 đồng).

Theo xu hướng đi lên của tỷ giá trung tâm, các ngân hàng thương mại cũng đồng loạt điều chỉnh tăng giá USD trong giao dịch. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD tăng 50 đồng cả hai chiều tuần qua, lên 26.060 - 26.450 VND/USD. Tại BIDV, mức tăng tương tự ở 47 đồng cho cả hai chiều, đưa giá mua vào - bán ra lên 26.091 - 26.451 VND/USD.

Trong khi đó, thị trường tự do có diễn biến kém sôi động hơn, giá bán ra USD chỉ tăng 25 đồng hai chiều, lên 25.450 - 26.505 VND/USD và thấp hơn so với 30 đồng của tuần trước, phản ánh tâm lý giao dịch tương đối ổn định.

Tuần qua từ ngày 11 - 15/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, chốt tuần ở mức 25.249 VND/USD, nhích 21 đồng so với cuối tuần trước. USD tại các ngân hàng thương mại và thị trường tự do cùng tăng nhẹ, trong khi EUR, GBP biến động mạnh, tỷ giá bán GBP vượt 36.000 VND/GBP chiều bán, JPY gần như đi ngang, phản ánh diễn biến phân hóa giữa các đồng tiền.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, tiếp đà giảm nhẹ trong tuần qua, lùi về khoảng 97,88 điểm, tiếp tục nằm sâu dưới ngưỡng 100 điểm sau tuần tăng mạnh đầu tháng 8.

Với các ngoại tệ khác như đồng EUR, mức biến động mạnh hơn đáng kể. Tại Vietcombank, giá mua EUR tăng 120,8 đồng và bán ra tăng 127,1 đồng, lên 29.900,66 - 31.477,08 VND/EUR. Tại BIDV, giá mua và bán cũng tăng lần lượt 121 đồng và 126 đồng, lên 30.231 131.471 VND/EUR.

GBP (Bảng Anh) là đồng tiền tăng mạnh nhất trong tuần. Vietcombank điều chỉnh tăng tới 370,1 đồng ở chiều mua và 385,7 đồng ở chiều bán, lên mức 34.692,55 - 36.165,3 VND/GBP. BIDV cũng ghi nhận mức tăng mạnh hơn, lần lượt 385 đồng và 402 đồng, niêm yết ở mức 35.168 - 36.147 VND/EUR.

Trong khi đó, JPY gần như đi ngang. Cả Vietcombank và BIDV chỉ tăng 0,7 - 0,8 đồng cho cả hai chiều, đưa giá bán ra dao động quanh 183 VND/JPY.

Áp lực tỷ giá chưa hạ nhiệt, hút ròng trên 20.000 tỷ đồng

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn này điều chỉnh tỷ giá trung tâm một cách linh hoạt nhằm hấp thụ các cú sốc từ thị trường quốc tế và góp phần ổn định thị trường ngoại tệ.

Kỳ vọng thị trường ngoại hối tích cực cuối năm

Nhóm phân tích VCBS dự báo VND có thể giảm giá tương đối so với đồng USD, với mức biến động hợp lý khoảng 4 - 5% cho cả năm 2025. Vào thời điểm cuối năm, VCBS kỳ vọng thị trường ngoại hối sẽ tích cực hơn nhờ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất và căng thẳng thương mại hạ nhiệt so với giai đoạn trước, từ đó, khuyến khích dòng vốn đầu tư quay trở lại Việt Nam thay vì duy trì tâm lý thận trọng.

Nhóm phân tích VCBS chỉ rõ, diễn biến mất giá của đồng Việt Nam từ đầu năm đến nay chủ yếu xuất phát từ ba nguyên nhân.

Thứ nhất, chính sách tiền tệ nới lỏng cùng với mặt bằng lãi suất thấp được duy trì để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng của Chính phủ.

Thứ hai, rủi ro về thuế quan vẫn hiện hữu, làm gia tăng nhu cầu dự trữ ngoại tệ. Sau đàm phán, Mỹ áp thuế 20% đối với hàng hóa Việt Nam, mức này thấp hơn so với 46% công bố trước đó, song thị trường vẫn lo ngại nguy cơ áp thuế 40% đối với hàng trung chuyển khi chưa có định nghĩa rõ ràng.

Thứ ba, giá vàng tăng mạnh gây áp lực gián tiếp lên tỷ giá, cùng với sự mạnh lên của các đồng tiền quốc tế khác, khiến tâm lý nắm giữ ngoại tệ gia tăng.

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8: Tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh
Nguồn: VCBS.

Cũng theo nhận định từ VPBankS, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục đi lên, nhiều khả năng do chịu áp lực từ nhu cầu USD trong thương mại và dòng vốn ngoại. VND tiếp tục chịu áp lực mất giá so với đồng USD, xuất phát từ nhiều yếu tố như: bất ổn kinh tế và chính trị toàn cầu gia tăng, nhu cầu nhập khẩu theo mùa tăng cao, dòng vốn FDI giải ngân chậm và rủi ro thâm hụt cán cân thương mại ngày càng lớn.

Tuy nhiên, VPBankS kỳ vọng áp lực này sẽ dần hạ nhiệt trong các tháng tới khi DXY tiếp tục xu hướng giảm, trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9.

"Chúng tôi khuyến nghị theo dõi chặt chẽ diễn biến cung - cầu USD, song song với những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước" - VPBankS nhấn mạnh.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 11 - 15/8, ở kênh cầm cố, có 59.476,82 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 91 ngày; có tới 79.894,49 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Hiện Ngân hàng Nhà nước vẫn dừng chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 20.417,67 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 196.041,98 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, không còn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường.

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận xu hướng giảm mạnh ở hầu hết các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống có phần cải thiện so với tuần trước.

Cụ thể, kỳ hạn qua đêm giảm sâu 2,1%, từ mức 6,25% cuối tuần trước xuống còn 4,15% vào ngày 13/8. Kỳ hạn 1 tuần giảm 1,69%, còn 4,42%; kỳ hạn 2 tuần giảm 1,87%, xuống 4,41%. Kỳ hạn 1 tháng chỉ giảm nhẹ 0,58%, còn 4,93%, trong khi kỳ hạn 3 tháng gần như đi ngang, giảm 0,02%, duy trì ở mức 5,66%. Đà hạ nhiệt mạnh nhất tập trung ở nhóm kỳ hạn ngắn cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng đã giảm đáng kể./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80