Các ngân hàng hé lộ định hướng tín dụng 2026, nuôi động lực tăng trưởng từ hệ sinh thái

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong bối cảnh định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 quanh 15% và siết chặt dòng vốn bất động sản, các nhà băng đang chủ động "xoay trục" danh mục. Trong khi VPBank đặt mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng 35%, Techcombank dự kiến 12%, điểm chung là ưu tiên mảng bán lẻ và khai thác sức mạnh từ hệ sinh thái công ty con, các mảng kinh doanh mới để duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm
Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản “Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới

Động lực nào cho tăng trưởng tín dụng 2026?

Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15% trong năm 2026, thấp hơn đáng kể so với ước thực hiện năm 2025 (khoảng 19%) và cũng dưới kỳ vọng của thị trường. Cùng với đó, nhà điều hành liên tục phát đi thông điệp kiểm soát chặt dòng vốn vào lĩnh vực bất động sản nhằm bảo đảm chất lượng tín dụng. Đồng thời, nhiều khả năng sẽ thận trọng hơn trong việc áp dụng cơ chế cấp hạn mức tín dụng theo từng quý.

Dù vậy, room tín dụng vẫn được điều hành theo hướng linh hoạt, sẵn sàng điều chỉnh phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thực tế. Trong bối cảnh này, các ngân hàng đang xây dựng mục tiêu tăng trưởng tín dụng và kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hướng cân bằng giữa yêu cầu an toàn hệ thống và nhu cầu mở rộng hoạt động, ưu tiên chất lượng và hiệu quả tăng trưởng.

Trong báo cáo sau buổi gặp gỡ nhà đầu tư của Ngân hàng VPBank chiều ngày 27/1, Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap cho biết ban lãnh đạo VPBank tiếp tục duy trì quan điểm lạc quan về triển vọng năm 2026. Theo đó, ngân hàng định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 35% và lợi nhuận trước thuế hợp nhất tăng khoảng 30% so với cùng kỳ, cao hơn mức dự báo hiện tại của Vietcap (28%), với động lực đến từ ngân hàng mẹ và các công ty con chủ chốt.

Sở dĩ mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao lên tới 35%, VPBank được hỗ trợ một phần từ việc tiếp nhận tái cơ cấu GPBank theo diện chuyển giao bắt buộc. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ cho vay bán lẻ và doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi tỷ trọng cho vay tín chấp được kỳ vọng tăng dần lên khoảng 10 - 11% tổng dư nợ.

"Điều này tiếp tục củng cố luận điểm của chúng tôi rằng VPBank là ngân hàng tăng trưởng quy mô lớn, vận hành theo hệ sinh thái, với chất lượng tài sản được kiểm soát và đòn bẩy lợi nhuận đáng kể từ các công ty con, qua đó, duy trì động lực lợi nhuận mạnh trong bối cảnh 2026 thuận lợi" - Chứng khoán Vietcap đánh giá.

Trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, đồng thời kiểm soát thận trọng dòng vốn vào lĩnh vực bất động sản nhằm đảm bảo chất lượng, đại diện VPBank cho rằng, tác động sẽ ở mức hạn chế, nhờ được phân bổ hạn mức tín dụng ưu đãi và ngân hàng chủ động giảm tỷ trọng cho vay bất động sản xuống khoảng 23%.

Để giảm thiểu tác động, ngân hàng dự kiến dịch chuyển cơ cấu sang các sản phẩm có biên lợi nhuận cao như: cho vay tín chấp và cho vay kinh doanh; đồng thời, tăng cường công tác thu hồi, trong đó ứng dụng trí tuệ nhân tạo thu hồi lãi treo.

Ngân hàng cũng đa dạng hóa cho vay doanh nghiệp sang các lĩnh vực như: năng lượng, hóa chất, y tế, đồng thời chọn lọc cho vay bất động sản theo tiêu chí “3 đúng” gồm: đúng chủ đầu tư, đúng vị trí và đúng phân khúc khách hàng.

Tín dụng 2026 vào guồng chọn lọc: Ngân hàng giảm lệ thuộc bất động sản, nuôi động lực từ hệ sinh thái
Nguồn: Techcombank, VPBank.

Chia sẻ tại buổi gặp gỡ chuyên gia phân tích và nhà đầu tư tổ chức, công bố kết quả kinh doanh năm 2025 vừa qua, ông Alexandre Macaire - Giám đốc Tài chính Techcombank cho biết, mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 của Techcombank phù hợp với hạn mức tăng trưởng tín dụng do Ngân hàng Nhà nước cấp.

Theo ông Alexandre Macaire - Giám đốc Tài chính Techcombank, việc đa dạng hóa danh mục cho vay có thể giúp giảm rủi ro danh mục, trong đó, mục tiêu là giảm dư nợ cho vay bất động sản xuống khoảng 33%. Việc tập trung quá lớn vào bất động sản là khá rủi ro.

"Chúng tôi đã nhận được quota (chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng) là 12%. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng quota cả năm 2026 sẽ khá tốt và sẽ cao hơn nhiều so với 12% vì chất lượng tài sản của cũng như hiệu quả kinh doanh" - ông Alexandre Macaire chia sẻ.

Ngân hàng Techcombank sẽ tiếp tục đa dạng hóa các ngành kinh doanh, đồng thời chuyển dịch một phần lớn vốn sang mảng bán lẻ, thay vì để rủi ro tập trung quá nhiều ở phân khúc khách hàng doanh nghiệp.

Về NIM, Techcombank kỳ vọng duy trì khoảng 3,8%, do có thể xuất hiện một số áp lực khiến NIM bị thu hẹp. Cùng với đó, ngân hàng sẽ tiếp tục tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động, đặc biệt trong các mảng bán lẻ, ngân hàng đầu tư và bảo hiểm.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Vietcap, mức dự báo này thấp hơn so với ước tính, đó là tăng trưởng tín dụng hợp nhất dự kiến đạt 20% và NIM đạt khoảng 4%.

"Theo đánh giá của chúng tôi, Techcombank vẫn sở hữu các lợi thế cạnh tranh nổi trội, bao gồm tỷ lệ CASA thuộc nhóm dẫn đầu ngành và vị thế số 1 trong mảng kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp, qua đó, giúp ngân hàng ứng phó tốt hơn trong bối cảnh nhiều thách thức hiện nay" - Chứng khoán Vietcap đánh giá.

Về tiềm năng tăng trưởng dài hạn, Chứng khoán Vietcap đánh giá cao chiến lược đa dạng hóa danh mục tín dụng của Techcombank, với trọng tâm là các dự án hạ tầng, nơi ngân hàng có thể tận dụng lợi thế từ hệ sinh thái Masterise, cùng với mảng bán lẻ, bao gồm cho vay tín chấp và cho vay hộ kinh doanh.

Nuôi đà tăng trưởng từ hệ sinh thái

Techcombank, VPBank..., cùng nhiều ngân hàng đang phát triển mạnh mô hình hệ sinh thái, trong đó các công ty con đóng vai trò động lực tăng trưởng quan trọng, góp phần mở rộng nguồn thu, gia tăng lợi nhuận trong bối cảnh có nhiều giới hạn tăng trưởng tín dụng.

Tín dụng 2026 vào guồng chọn lọc: Ngân hàng giảm lệ thuộc bất động sản, nuôi động lực từ hệ sinh thái
Các ngân hàng hé lộ định hướng tín dụng 2026, nuôi động lực tăng trưởng từ hệ sinh thái. Ảnh minh họa.

Về kế hoạch kinh doanh năm 2026 các công ty con, theo đại diện VPBank, GPBank đặt trọng tâm năm 2026 vào tăng tốc tăng trưởng, thông qua tối ưu hóa hơn 80 điểm giao dịch (di dời và mở mới), đẩy mạnh bán lẻ và doanh nghiệp nhỏ và vừa trên nền tảng giải pháp số, với kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm 2026 dự kiến tăng hơn gấp đôi so với năm trước.

Trong khi đó, OPES đặt mục tiêu vươn lên nhóm 3 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ lớn nhất thị trường. Đối với FE Credit, dư nợ năm 2025 tăng 4%, và lợi nhuận trước thuế năm 2026 được kỳ vọng tăng gấp đôi so với năm trước.

Bước sang năm 2026, VPBankS đặt mục tiêu tận dụng chi phí vốn thấp từ hệ sinh thái VPBank và Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC), cùng chính sách định giá margin linh hoạt trong bối cảnh lãi suất còn cao, bám sát kế hoạch 5 năm với tốc độ tăng trưởng kép bình quân 32%. Trọng tâm chiến lược gồm tăng 15 - 20% doanh thu từ môi giới và margin (giao dịch ký quỹ), đẩy nhanh mảng ngân hàng đầu tư, mở rộng sản phẩm phái sinh và sản phẩm cấu trúc, phát triển chuỗi giá trị trái phiếu, triển khai WealthTech và nền tảng khách hàng tổ chức.

Với TCBS, ông Nguyễn Xuân Minh - Chủ tịch Hội đồng quản trị TCBS kỳ vọng dư nợ cho vay ký quỹ tiếp tục duy trì vị trí số 1 trên thị trường; hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp sẽ tăng trưởng mạnh, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước dự kiến áp dụng hạn mức tín dụng thận trọng trong năm 2026./.

Bước vào nhiều "sân chơi" mới

Theo ông Nguyễn Xuân Minh - Chủ tịch Hội đồng quản trị TCBS, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép kinh doanh tài sản mã hóa, nhiều khả năng sẽ được cấp phép trong khoảng 3 tháng tới, tùy thuộc vào quyết định của cơ quan quản lý.

Bên cạnh đó, Techcombank và TCBS đang phối hợp chuẩn bị cho hoạt động kinh doanh vàng. Khi được cấp phép, hai đơn vị dự kiến sẽ ra mắt nền tảng “TCB Physical Gold”, có thể ngay trong tháng tới. Mục tiêu là xây dựng danh mục sản phẩm đa dạng, đầy đủ, đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng, qua đó thu hút khách hàng và định vị TCBS là một điểm đến duy nhất cung cấp trọn gói các sản phẩm tài chính - đầu tư.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17813 18087 18661
CAD 18148 18424 19040
CHF 31764 32145 32782
CNY 0 3837 3929
EUR 29363 29584 30658
GBP 34375 34767 35692
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14970 15557
SGD 19788 20070 20646
THB 697 760 813
USD (1,2) 25992 0 0
USD (5,10,20) 26033 0 0
USD (50,100) 26062 26076 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26060 26060 26494
AUD 17996 18096 19026
CAD 18332 18432 19446
CHF 32012 32042 33620
CNY 3817.3 3842.3 3977.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29546 29576 31301
GBP 34671 34721 36477
HKD 0 3355 0
JPY 158.29 158.79 169.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15079 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19947 20077 20805
THB 0 726 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80