Các ngân hàng hé lộ định hướng tín dụng 2026, nuôi động lực tăng trưởng từ hệ sinh thái

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong bối cảnh định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 quanh 15% và siết chặt dòng vốn bất động sản, các nhà băng đang chủ động "xoay trục" danh mục. Trong khi VPBank đặt mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng 35%, Techcombank dự kiến 12%, điểm chung là ưu tiên mảng bán lẻ và khai thác sức mạnh từ hệ sinh thái công ty con, các mảng kinh doanh mới để duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm
Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản “Nén” room tín dụng, thị trường bất động sản đứng trước phép thử mới

Động lực nào cho tăng trưởng tín dụng 2026?

Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15% trong năm 2026, thấp hơn đáng kể so với ước thực hiện năm 2025 (khoảng 19%) và cũng dưới kỳ vọng của thị trường. Cùng với đó, nhà điều hành liên tục phát đi thông điệp kiểm soát chặt dòng vốn vào lĩnh vực bất động sản nhằm bảo đảm chất lượng tín dụng. Đồng thời, nhiều khả năng sẽ thận trọng hơn trong việc áp dụng cơ chế cấp hạn mức tín dụng theo từng quý.

Dù vậy, room tín dụng vẫn được điều hành theo hướng linh hoạt, sẵn sàng điều chỉnh phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thực tế. Trong bối cảnh này, các ngân hàng đang xây dựng mục tiêu tăng trưởng tín dụng và kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hướng cân bằng giữa yêu cầu an toàn hệ thống và nhu cầu mở rộng hoạt động, ưu tiên chất lượng và hiệu quả tăng trưởng.

Trong báo cáo sau buổi gặp gỡ nhà đầu tư của Ngân hàng VPBank chiều ngày 27/1, Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap cho biết ban lãnh đạo VPBank tiếp tục duy trì quan điểm lạc quan về triển vọng năm 2026. Theo đó, ngân hàng định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 35% và lợi nhuận trước thuế hợp nhất tăng khoảng 30% so với cùng kỳ, cao hơn mức dự báo hiện tại của Vietcap (28%), với động lực đến từ ngân hàng mẹ và các công ty con chủ chốt.

Sở dĩ mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao lên tới 35%, VPBank được hỗ trợ một phần từ việc tiếp nhận tái cơ cấu GPBank theo diện chuyển giao bắt buộc. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ cho vay bán lẻ và doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi tỷ trọng cho vay tín chấp được kỳ vọng tăng dần lên khoảng 10 - 11% tổng dư nợ.

"Điều này tiếp tục củng cố luận điểm của chúng tôi rằng VPBank là ngân hàng tăng trưởng quy mô lớn, vận hành theo hệ sinh thái, với chất lượng tài sản được kiểm soát và đòn bẩy lợi nhuận đáng kể từ các công ty con, qua đó, duy trì động lực lợi nhuận mạnh trong bối cảnh 2026 thuận lợi" - Chứng khoán Vietcap đánh giá.

Trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, đồng thời kiểm soát thận trọng dòng vốn vào lĩnh vực bất động sản nhằm đảm bảo chất lượng, đại diện VPBank cho rằng, tác động sẽ ở mức hạn chế, nhờ được phân bổ hạn mức tín dụng ưu đãi và ngân hàng chủ động giảm tỷ trọng cho vay bất động sản xuống khoảng 23%.

Để giảm thiểu tác động, ngân hàng dự kiến dịch chuyển cơ cấu sang các sản phẩm có biên lợi nhuận cao như: cho vay tín chấp và cho vay kinh doanh; đồng thời, tăng cường công tác thu hồi, trong đó ứng dụng trí tuệ nhân tạo thu hồi lãi treo.

Ngân hàng cũng đa dạng hóa cho vay doanh nghiệp sang các lĩnh vực như: năng lượng, hóa chất, y tế, đồng thời chọn lọc cho vay bất động sản theo tiêu chí “3 đúng” gồm: đúng chủ đầu tư, đúng vị trí và đúng phân khúc khách hàng.

Tín dụng 2026 vào guồng chọn lọc: Ngân hàng giảm lệ thuộc bất động sản, nuôi động lực từ hệ sinh thái
Nguồn: Techcombank, VPBank.

Chia sẻ tại buổi gặp gỡ chuyên gia phân tích và nhà đầu tư tổ chức, công bố kết quả kinh doanh năm 2025 vừa qua, ông Alexandre Macaire - Giám đốc Tài chính Techcombank cho biết, mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 của Techcombank phù hợp với hạn mức tăng trưởng tín dụng do Ngân hàng Nhà nước cấp.

Theo ông Alexandre Macaire - Giám đốc Tài chính Techcombank, việc đa dạng hóa danh mục cho vay có thể giúp giảm rủi ro danh mục, trong đó, mục tiêu là giảm dư nợ cho vay bất động sản xuống khoảng 33%. Việc tập trung quá lớn vào bất động sản là khá rủi ro.

"Chúng tôi đã nhận được quota (chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng) là 12%. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng quota cả năm 2026 sẽ khá tốt và sẽ cao hơn nhiều so với 12% vì chất lượng tài sản của cũng như hiệu quả kinh doanh" - ông Alexandre Macaire chia sẻ.

Ngân hàng Techcombank sẽ tiếp tục đa dạng hóa các ngành kinh doanh, đồng thời chuyển dịch một phần lớn vốn sang mảng bán lẻ, thay vì để rủi ro tập trung quá nhiều ở phân khúc khách hàng doanh nghiệp.

Về NIM, Techcombank kỳ vọng duy trì khoảng 3,8%, do có thể xuất hiện một số áp lực khiến NIM bị thu hẹp. Cùng với đó, ngân hàng sẽ tiếp tục tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động, đặc biệt trong các mảng bán lẻ, ngân hàng đầu tư và bảo hiểm.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Vietcap, mức dự báo này thấp hơn so với ước tính, đó là tăng trưởng tín dụng hợp nhất dự kiến đạt 20% và NIM đạt khoảng 4%.

"Theo đánh giá của chúng tôi, Techcombank vẫn sở hữu các lợi thế cạnh tranh nổi trội, bao gồm tỷ lệ CASA thuộc nhóm dẫn đầu ngành và vị thế số 1 trong mảng kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp, qua đó, giúp ngân hàng ứng phó tốt hơn trong bối cảnh nhiều thách thức hiện nay" - Chứng khoán Vietcap đánh giá.

Về tiềm năng tăng trưởng dài hạn, Chứng khoán Vietcap đánh giá cao chiến lược đa dạng hóa danh mục tín dụng của Techcombank, với trọng tâm là các dự án hạ tầng, nơi ngân hàng có thể tận dụng lợi thế từ hệ sinh thái Masterise, cùng với mảng bán lẻ, bao gồm cho vay tín chấp và cho vay hộ kinh doanh.

Nuôi đà tăng trưởng từ hệ sinh thái

Techcombank, VPBank..., cùng nhiều ngân hàng đang phát triển mạnh mô hình hệ sinh thái, trong đó các công ty con đóng vai trò động lực tăng trưởng quan trọng, góp phần mở rộng nguồn thu, gia tăng lợi nhuận trong bối cảnh có nhiều giới hạn tăng trưởng tín dụng.

Tín dụng 2026 vào guồng chọn lọc: Ngân hàng giảm lệ thuộc bất động sản, nuôi động lực từ hệ sinh thái
Các ngân hàng hé lộ định hướng tín dụng 2026, nuôi động lực tăng trưởng từ hệ sinh thái. Ảnh minh họa.

Về kế hoạch kinh doanh năm 2026 các công ty con, theo đại diện VPBank, GPBank đặt trọng tâm năm 2026 vào tăng tốc tăng trưởng, thông qua tối ưu hóa hơn 80 điểm giao dịch (di dời và mở mới), đẩy mạnh bán lẻ và doanh nghiệp nhỏ và vừa trên nền tảng giải pháp số, với kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm 2026 dự kiến tăng hơn gấp đôi so với năm trước.

Trong khi đó, OPES đặt mục tiêu vươn lên nhóm 3 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ lớn nhất thị trường. Đối với FE Credit, dư nợ năm 2025 tăng 4%, và lợi nhuận trước thuế năm 2026 được kỳ vọng tăng gấp đôi so với năm trước.

Bước sang năm 2026, VPBankS đặt mục tiêu tận dụng chi phí vốn thấp từ hệ sinh thái VPBank và Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC), cùng chính sách định giá margin linh hoạt trong bối cảnh lãi suất còn cao, bám sát kế hoạch 5 năm với tốc độ tăng trưởng kép bình quân 32%. Trọng tâm chiến lược gồm tăng 15 - 20% doanh thu từ môi giới và margin (giao dịch ký quỹ), đẩy nhanh mảng ngân hàng đầu tư, mở rộng sản phẩm phái sinh và sản phẩm cấu trúc, phát triển chuỗi giá trị trái phiếu, triển khai WealthTech và nền tảng khách hàng tổ chức.

Với TCBS, ông Nguyễn Xuân Minh - Chủ tịch Hội đồng quản trị TCBS kỳ vọng dư nợ cho vay ký quỹ tiếp tục duy trì vị trí số 1 trên thị trường; hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp sẽ tăng trưởng mạnh, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước dự kiến áp dụng hạn mức tín dụng thận trọng trong năm 2026./.

Bước vào nhiều "sân chơi" mới

Theo ông Nguyễn Xuân Minh - Chủ tịch Hội đồng quản trị TCBS, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép kinh doanh tài sản mã hóa, nhiều khả năng sẽ được cấp phép trong khoảng 3 tháng tới, tùy thuộc vào quyết định của cơ quan quản lý.

Bên cạnh đó, Techcombank và TCBS đang phối hợp chuẩn bị cho hoạt động kinh doanh vàng. Khi được cấp phép, hai đơn vị dự kiến sẽ ra mắt nền tảng “TCB Physical Gold”, có thể ngay trong tháng tới. Mục tiêu là xây dựng danh mục sản phẩm đa dạng, đầy đủ, đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng, qua đó thu hút khách hàng và định vị TCBS là một điểm đến duy nhất cung cấp trọn gói các sản phẩm tài chính - đầu tư.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Ratings vừa công bố kết quả rà soát định kỳ đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HOSE: HDB), trong đó duy trì các mức xếp hạng chủ chốt và nâng Triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Kim TT/AVPL 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▲160K 15,450 ▲160K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▲160K 15,400 ▲160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲160K 16,450 ▲160K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲160K 16,400 ▲160K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲160K 16,380 ▲160K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Hà Nội - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đà Nẵng - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Miền Tây - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Tây Nguyên - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NL 99.90 14,950 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000 ▲150K
Trang sức 99.9 15,790 ▲100K 16,490 ▲100K
Trang sức 99.99 15,800 ▲100K 16,500 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 ▲163K 16,602 ▲16602K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 ▲163K 16,603 ▲16603K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 ▲1625K 1,655 ▲1655K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 ▲1625K 1,656 ▲1656K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 ▲1605K 164 ▲164K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 ▲155876K 162,376 ▲162376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 ▲114262K 123,162 ▲123162K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 ▲102781K 111,681 ▲111681K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 ▲913K 1,002 ▲1002K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 ▲86872K 95,772 ▲95772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 ▲59645K 68,545 ▲68545K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Cập nhật: 06/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18573 18850 19428
CAD 18832 19110 19724
CHF 33142 33528 34174
CNY 0 3824 3915
EUR 30359 30633 31661
GBP 35056 35450 36384
HKD 0 3228 3430
JPY 162 166 172
KRW 0 16 18
NZD 0 15399 15987
SGD 20220 20503 21033
THB 733 796 849
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26145 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,368
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 30,429 30,453 31,736
JPY 162.98 163.27 172.19
GBP 35,207 35,302 36,336
AUD 18,723 18,791 19,405
CAD 19,060 19,121 19,719
CHF 33,382 33,486 34,292
SGD 20,314 20,377 21,069
CNY - 3,793 3,917
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.71 17.43 18.86
THB 776.17 785.76 836.73
NZD 15,293 15,435 15,808
SEK - 2,812 2,897
DKK - 4,072 4,193
NOK - 2,810 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,249.65 - 7,017.37
TWD 756.3 - 911.27
SAR - 6,919.3 7,248.53
KWD - 83,885 88,771
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,290 30,412 31,593
GBP 35,110 35,251 36,263
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,107 33,240 34,183
JPY 163.10 163.75 171.17
AUD 18,663 18,738 19,336
SGD 20,326 20,408 20,992
THB 792 795 830
CAD 19,010 19,086 19,667
NZD 15,335 15,870
KRW 17.30 19.03
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26368
AUD 18763 18863 19788
CAD 19018 19118 20129
CHF 33391 33421 35004
CNY 3804.4 3829.4 3964.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30545 30575 32301
GBP 35362 35412 37173
HKD 0 3355 0
JPY 165.3 165.8 176.31
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15512 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20386 20516 21239
THB 0 762.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 14000000 14000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,368
USD20 26,155 26,205 26,368
USD1 26,155 26,205 26,368
AUD 18,754 18,854 19,963
EUR 30,553 30,553 31,964
CAD 18,957 19,057 20,365
SGD 20,370 20,520 21,075
JPY 163.75 165.25 169.81
GBP 35,118 35,468 36,600
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80