Bảo hiểm BSH mở rộng đầu tư tại Lào, tăng tốc tái cấu trúc trong nước

Ánh Tuyết
Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Sài Gòn - Hà Nội (BSH) dự kiến rót khoảng 13,5 tỷ đồng vào công ty con tại Lào trong năm 2026. Dù chưa công bố kế hoạch kinh doanh, BSH dự kiến tiếp tục tái cấu trúc theo hướng tinh gọn, số hóa.
aa
Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm BSH: Mục tiêu lợi nhuận tăng gần 50% Người dân vùng lũ không điện, không sóng, Bảo hiểm BSH tăng tốc hỗ trợ khách hàng Đầu tư tài chính "gánh" bảo hiểm phi nhân thọ

Rót thêm 13,5 tỷ đồng vào công ty con tại Lào khi quy mô tăng mạnh

Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Sài Gòn - Hà Nội (BSH - mã Ck: BHI) vừa ban hành Nghị quyết về việc góp vốn bổ sung cho công ty con tại Lào.

Theo đó, Hội đồng Quản trị BSH thông qua kế hoạch góp thêm gần 11 triệu LAK (tương đương 513.983 USD - khoảng 13,53 tỷ đồng) vào Công ty TNHH Bảo hiểm Champa (Champa Insurance Co., Ltd), có trụ sở tại Thủ đô Vientiane (Lào). Khoản vốn này được thực hiện bằng USD thông qua chuyển khoản ngân hàng từ nguồn vốn chủ sở hữu, dự kiến triển khai trong năm 2026.

Bảo hiểm BSH mở rộng đầu tư tại Lào, tăng tốc tái cấu trúc trong nước
Bảo hiểm BSH mở rộng đầu tư tại Lào, tăng tốc tái cấu trúc trong nước. Ảnh minh họa.

Được biết, BSH Lào chính thức đi vào hoạt động năm 2017 dưới sự hợp tác của của công ty mẹ BSH (nắm giữ 80% vốn) và Công ty TNHH Phát triển công nghệ S-TECH (cổ đông phía Lào, chiếm 20% vốn). Công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm, hoạt động đầu tư tài chính và các hoạt động khác.

Tại thị trường Lào, công ty con của BSH ghi nhận sự mở rộng rõ nét về quy mô hoạt động. Tổng tài sản của BSH Lào đạt 51,1 tỷ LAK (khoảng 63 tỷ đồng) cuối năm 2024, tăng 34,56%; theo báo cáo hợp nhất năm 2025 tiếp tục tăng lên 138 tỷ đồng.

Doanh thu thuần bảo hiểm của BSH Lào đạt 20,5 tỷ LAK cuối năm 2024 (25 tỷ đồng), gần gấp đôi cùng kỳ; năm 2025, tăng lên 36,4 tỷ đồng, cho thấy nguồn thu tăng trưởng tích cực. Dù vậy, năm 2024, hoạt động bảo hiểm cốt lõi của BSH Lào vẫn ghi nhận âm 5,2 tỷ LAK (6,5 tỷ đồng). Điểm sáng đến từ hoạt động tài chính khi lợi nhuận tăng 41% lên 1,5 tỷ LAK (1,8 tỷ đồng), góp phần hỗ trợ kết quả chung.

Về lợi nhuận trước thuế, BSH Lào đạt 242 triệu LAK (khoảng 300 triệu đồng) năm 2024. Tuy nhiên, sang năm 2025 lại lỗ trước thuế khoảng 1,6 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí vận hành vẫn ở mức cao trong giai đoạn đầu tư và mở rộng.

Doanh thu phí giảm, song lãi trước thuế tăng 88,8% nhờ tái cấu trúc

Về kết quả kinh doanh hợp nhất, năm 2025, BSH đạt phí bảo hiểm gốc 2.578,4 tỷ đồng; giảm 598,1 tỷ đồng (giảm 18,8% cùng kỳ), mức sụt giảm chủ yếu ghi nhận vào quý IV/2025, khi doanh nghiệp đang tái cấu trúc mạnh mẽ. Dù vậy, so với kế hoạch Đại hội đồng cổ đông đặt ra, BSH vẫn vượt gần 50% mục tiêu (1.745 tỷ đồng).

"Để tập trung vào hiệu quả, BSH đã cơ cấu lại danh mục sản phẩm nghiệp vụ, dẫn tới quy mô doanh thu giảm" - lãnh đạo BSH giải trình kết quả kinh doanh.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Với mảng tái bảo hiểm, phí nhận tái bảo hiểm cũng giảm 30 tỷ đồng (giảm 29,1); ở chiều ngược lại, phí nhượng tái bảo hiểm tăng 22,7% lên trên 850 tỷ đồng, cho thấy BSH gia tăng chuyển giao rủi ro nhằm kiểm soát tổn thất. Kết hợp các yếu tố này, doanh thu phí bảo hiểm thuần giảm 17,2%, còn 2.195 tỷ đồng, nhưng kết quả kinh doanh lại cải thiện rõ rệt.

Đảo chiều lợi nhuận mảng bảo hiểm

Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm của BSH năm 2025 đạt gần 28 tỷ đồng, đánh dấu bước chuyển biến tích cực sau nhiều năm liên tục ghi nhận âm sâu. Dù lợi nhuận từ hoạt động tài chính giảm còn hơn 184 tỷ đồng, nguồn thu này vẫn giữ vai trò quan trọng, góp phần duy trì lợi nhuận chung của BSH.

Ở chiều ngược lại, tổng chi trực tiếp hoạt động kinh doanh bảo hiểm của BSH giảm mạnh 430 tỷ đồng (giảm 14,7%), còn hơn 2.500 tỷ đồng, giúp biên lợi nhuận cải thiện; dù chi bồi thường bảo hiểm gốc nhích tăng 7% lên trên 1.400 tỷ đồng.

Tính chung năm 2025, lợi nhuận trước thuế của BSH đạt 23,6 tỷ đồng, tăng mạnh 88,8% so với năm 2024, chủ yếu đến từ sự cải thiện rõ rệt trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm cốt lõi, phản ánh hiệu quả rõ nét của việc kiểm soát chi phí và tái cấu trúc.

Tại thời điểm cuối năm 2025, tổng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn của BSH đạt trên 2.270 tỷ đồng, giảm 22% (tương ứng giảm 666 tỷ đồng), chủ yếu do thu hẹp danh mục đầu tư dài hạn.

Trong nhiều lần đề cập gần đây, lãnh đạo BSH cho biết, định hướng chiến lược trung và dài hạn của BSH là trở thành doanh nghiệp bảo hiểm có quy mô vừa và nhỏ, nhưng hoạt động hiệu quả; đồng thời, xây dựng mô hình doanh nghiệp bảo hiểm “tinh gọn” về tổ chức, nhân sự và quy trình vận hành nhằm nâng cao hiệu suất và khả năng cạnh tranh./.

Năm vừa qua, BSH cũng kiện toàn ban lãnh đạo, cam kết nỗ lực xây dựng doanh nghiệp theo định hướng tinh gọn, hiện đại, uy tín và phát triển bền vững.

Liên quan đến kế hoạch Đại hội đồng cổ đông, BSH chốt ngày đăng ký cuối cùng để lập danh sách cổ đông có quyền tham dự đại hội thường niên năm 2026 vào ngày 27/3 tới đây, thời gian tổ chức dự kiến trong tháng 4/2026. Đại hội sẽ xem xét, thông qua các nội dung quan trọng như báo cáo kết quả hoạt động năm 2025, kế hoạch kinh doanh năm 2026 của Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát và Ban Điều hành, báo cáo tài chính năm 2025 đã kiểm toán, phương án phân phối lợi nhuận cùng các vấn đề khác thuộc thẩm quyền.../.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80