Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm BSH: Mục tiêu lợi nhuận tăng gần 50%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bảo hiểm BSH thông qua kế hoạch kinh doanh 2025 với mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 46,5%, tiếp tục đẩy mạnh tái cấu trúc và chuyển đổi số nâng cao hiệu quả kinh doanh. Lãnh đạo BSH nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tái cấu trúc, xây dựng lại nền móng vững chắc, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, ổn định trong dài hạn.
aa
Đại diện BSH chia sẻ về chuyển đổi số và những cơ hội kinh doanh mới BSH tái cấu trúc năm 2025, đặt mục tiêu tăng lợi nhuận trong thế doanh thu co hẹp Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Ngày 28/4, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Sài Gòn - Hà Nội (BSH - mã Ck: BHI) tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 tại Hà Nội, với sự tham dự của các cổ đông và người được ủy quyền, đại diện cho 97,2% vốn cổ phần của BSH.

Kỳ vọng lợi nhuận tăng 46,5%, tối ưu hiệu quả kinh doanh

Đại hội thông qua báo cáo kết quả kinh doanh năm 2024, kế hoạch năm 2025 và phương án phân phối lợi nhuận. Năm 2025, BSH thay đổi chiến lược kinh doanh theo hướng trở thành doanh nghiệp bảo hiểm tinh gọn, tập trung vào hiệu quả.

Trong báo cáo trình đại hội, Chủ tịch Hội đồng Quản trị BSH Kim Kang Wook đánh giá, nền kinh tế toàn cầu năm 2025 tiếp tục đối mặt nhiều thách thức, trong khi thị trường bảo hiểm phi nhân thọ chịu sức ép cạnh tranh gay gắt. Xu hướng M&A giữa các công ty bảo hiểm sẽ gia tăng và sự tham gia mạnh mẽ từ các ngân hàng và tập đoàn lớn như Techcombank, Vingroup.

Năm 2025, BSH đặt kế hoạch đạt doanh thu bảo hiểm gốc 1.745 tỷ đồng, doanh thu nhận tái bảo hiểm dự kiến tăng gần 4 lần, đạt 449 tỷ đồng. Nhờ chiến lược cơ cấu lại hoạt động, lợi nhuận sau thuế năm 2025 kỳ vọng đạt 13,1 tỷ đồng, tăng 46,5% so với 2024 (8,92 tỷ đồng). Biên lợi nhuận của công ty theo đó sẽ được cải thiện rõ rệt.

Trong bối cảnh đó, BSH xác định chiến lược tập trung khai thác các nghiệp vụ hiệu quả, tái cấu trúc mô hình tổ chức theo hướng tinh gọn, minh bạch.

Về phân phối lợi nhuận, năm 2024, BSH ghi nhận lợi nhuận hợp nhất sau thuế đã kiểm toán đạt 10,1 tỷ đồng; lợi nhuận luỹ kế để lại đạt 197 tỷ đồng. Sau khi thực hiện trích lập các quỹ theo quy định, tổng lợi nhuận để lại của BSH là 207,4 tỷ đồng. Hiện tại, Tổng công ty chưa có kế hoạch chia cổ tức cho cổ đông.

Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm BSH:
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Năm 2024, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tích cực, bất chấp những ảnh hưởng nặng nề từ thiên tai. Trong bức tranh chung đó, Bảo hiểm BSH thể hiện rõ bản lĩnh của một doanh nghiệp vững vàng trước biến động. Kết thúc năm 2024, tổng tài sản BSH đạt 4.972 tỷ đồng, tăng trưởng 11% so với năm 2023, vốn chủ sở hữu của BSH ghi nhận mức tăng ổn định, củng cố năng lực tài chính và khả năng phát triển dài hạn.

Cũng trong năm, BSH thành lập 3 chi nhánh thành viên mới, nâng tổng số đơn vị lên 54, con số lớn nhất từ trước tới nay. Doanh thu bảo hiểm gốc đạt 3.131 tỷ đồng, hoàn thành 101,8% kế hoạch đề ra. Trong đó, nghiệp vụ bảo hiểm con người ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất 22,2%, hoàn thành 128% kế hoạch năm, lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính ghi nhận tăng trưởng tốt, hoàn thành 121,5% chỉ tiêu. Dựa trên kết quả đạt được, BSH giữ vững vị trí top 9 doanh nghiệp có quy mô lớn nhất thị trường.

BSH tái cấu trúc toàn diện với sự hỗ trợ từ DBI

Tại Đại hội, các cổ đông ghi nhận những kết quả tài chính tích cực mà BSH đạt được trong năm 2024, đồng thời thể hiện sự quan tâm đến định hướng phát triển dài hạn của Tổng công ty.

Theo đó, cổ đông quan tâm đến kế hoạch kinh doanh khác biệt năm 2025 của BSH, trong đó định hướng giảm doanh thu bảo hiểm gốc để tập trung nhiều hơn vào chất lượng lợi nhuận, và cải thiện lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thay chỉ dựa vào lợi nhuận hoạt động tài chính. Các cổ đông đánh giá cao sự thay đổi chiến lược này, đồng thời thể hiện sự tin tưởng vào sự thành công của BSH.

Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm BSH:
Toàn cảnh Đại hội đồng cổ đông Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Sài Gòn - Hà Nội (BSH). Ảnh: BSH.

Ngoài ra, các cổ đông cũng quan tâm đến sự tham gia của DB Insurance với vai trò cổ đông chiến lược trong việc mang lại nhiều giá trị gia tăng cho BSH ra sao thông qua việc chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản trị, năng lực đàm phán tái bảo hiểm và cải thiện năng lực cạnh tranh những năm tới.

Trả lời cổ đông, ông Đỗ Đăng Khang - Phó Tổng Giám đốc thường trực Bảo hiểm BSH cho biết, năm 2025, BSH sẽ tiếp tục triển khai quyết liệt hơn những giải pháp đã khởi động từ năm 2024 nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, cải thiện lợi nhuận.

Gia cố nền tảng thay vì theo đuổi tăng trưởng ngắn hạn

"Giữa bối cảnh kinh tế có nhiều biến động, BSH tiếp tục lộ trình tái cấu trúc sâu rộng, tập trung vào việc gia cố nền tảng vận hành và quản trị thay vì theo đuổi tăng trưởng ngắn hạn. Bằng cách chủ động nhận diện và khắc phục các điểm nghẽn nội tại, doanh nghiệp kỳ vọng tăng cường sức chống chịu, tối ưu hóa hiệu suất và nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của thị trường" - ông Đỗ Đăng Khang - Phó Tổng Giám đốc thường trực Bảo hiểm BSH nhấn mạnh.

Theo đó, năm 2025, BSH sẽ tiếp tục rà soát, mạnh mẽ cắt giảm, điều chỉnh các sản phẩm kém hiệu quả, tập trung vào các sản phẩm có biên lợi nhuận tốt nhằm kéo tỷ lệ kết hợp (combined ratio) xuống thấp hơn, kiểm soát chi phí, quy trình bồi thường, từ đó, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm tốt hơn.

Một trọng tâm là Tổng công ty sẽ thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ trong toàn hệ thống. “Việc số hóa quy trình làm việc giải phóng đội ngũ nhân sự khỏi các tác vụ lặp lại, tập trung vào những công việc có khả năng gia tăng giá trị, qua đó tối ưu chi phí vận hành, nâng cao hiệu suất cũng như góp phần cải thiện lợi nhuận của BSH trong năm 2025 và các năm tiếp theo”- ông Khang nhấn mạnh.

Cũng theo ông Oh Ji Won - Thành viên Hội đồng Quản trị của BSH, Đại hội cổ đông năm 2025 đánh dấu tròn một năm DB Insurance hoàn tất việc mua lại 75% cổ phần của BSH, chính thức tham gia điều hành Tổng công ty. Từ năm 2024 - 2025 và trong những năm tiếp theo, DBI có kế hoạch áp dụng phương thức quản trị tiên tiến, kinh nghiệm và kiến thức để triển khai tại BSH, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động cho Tổng công ty./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80