BSH tái cấu trúc năm 2025, đặt mục tiêu tăng lợi nhuận trong thế doanh thu co hẹp

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, Bảo hiểm BSH chọn lối đi nghịch chiều khi đặt kế hoạch giảm doanh thu bảo hiểm gốc 44% xuống còn 1.745 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận sau thuế dự kiến tăng mức tương ứng 46,5% đạt 13,1 tỷ đồng. Tổng công ty sẽ tập trung tái cấu trúc mô hình tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu quả; đồng thời, tập trung tối ưu hóa chi phí và đầu tư công nghệ để nâng cao trải nghiệm khách hàng cũng như khả năng cạnh tranh.
aa
BSH và DB Insurance về “chung một nhà” – cột mốc để phát triển với tầm thế cao hơn Đại diện BSH chia sẻ về chuyển đổi số và những cơ hội kinh doanh mới Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Sài Gòn - Hà Nội (BSH - mã Ck: BHI) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 28/4 tới đây tại Hà Nội. Đại hội dự kiến thông qua báo cáo kết quả kinh doanh năm 2024 và Kế hoạch kinh doanh năm 2025; phương án phân phối lợi nhuận năm 2024.

Tái cấu trúc, tập trung vào các nghiệp vụ bảo hiểm mang lại hiệu quả

Trong năm 2025, BSH đặt kế hoạch kinh doanh với nhiều điểm điều chỉnh đáng chú ý so với kết quả thực hiện năm 2024, thể hiện định hướng tái cơ cấu hoạt động, tập trung vào hiệu quả và tối ưu hóa lợi nhuận.

Tái cơ cấu doanh thu, đưa lợi nhuận tăng gần 50%

Theo định hướng kế hoạch kinh doanh năm 2025 trình Đại hội, doanh thu bảo hiểm gốc của BSH dự kiến giảm mạnh từ 3.131 tỷ đồng xuống còn 1.745,1 tỷ đồng, tương đương mức giảm 44,2%. Ngược lại, doanh thu từ hoạt động nhận tái bảo hiểm được đặt mục tiêu tăng gần gấp 4 lần, lên 449 tỷ đồng. Điểm sáng đáng chú ý là lợi nhuận sau thuế năm 2025 dự kiến đạt hơn 13 tỷ đồng, tăng 46,5% so với mức thực hiện năm 2024 (8,92 tỷ đồng), kéo theo biên lợi nhuận cải thiện rõ rệt.

Tại báo cáo về kết quả hoạt động năm 2024 và định hướng năm 2025, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Kim Kang Wook cho rằng, năm 2025, nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức cùng khó khăn hiện tại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ do sự cạnh tranh chưa hạ nhiệt từ một số doanh nghiệp bảo hiểm với mục tiêu chiếm lĩnh thị phần để nâng và giữ hạng.

“Xu hướng M&A (mua bán & sáp nhập) giữa các công ty bảo hiểm sẽ tiếp tục diễn ra nhằm mở rộng thị phần. Một số ngân hàng và tập đoàn lớn có thể tham gia thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, tương tự như cách Techcombank và Vingroup đã làm với bảo hiểm nhân thọ dự kiến sẽ tạo nên sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước” - ông Kim Kang Wook nhìn nhận.

BSH tái cấu trúc năm 2025, tăng lợi nhuận trong thế doanh thu co hẹp
Nguồn: BSH.

Với vai trò là quản trị và định hướng chiến lược, năm 2025, Hội đồng Quản trị BSH dự kiến tập trung khai thác vào các nghiệp vụ bảo hiểm mang lại hiệu quả và lợi nhuận cho tổng công ty. Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh tái cấu trúc mô hình tổ chức BSH theo hướng tinh gọn, hiệu quả và minh bạch. Đầu tư ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu hóa chi phí, minh bạch hóa quá trình kinh doanh, giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng, nhờ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của BSH.

Tại báo cáo định hướng kế hoạch kinh doanh năm 2025, ông Đoàn Kiên - Tổng Giám đốc Bảo hiểm BSH cho biết, Tổng công ty sẽ tận dụng hệ sinh thái T&T thông qua việc tái cấu trúc mô hình kinh doanh giữa BSH và T&T nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác, mở rộng khai thác với các đối tác chiến lược, các khách hàng doanh nghiệp có quan hệ với T&T.

Năm 2025, BSH tập trung khai thác khách hàng Hàn Quốc thông qua hợp tác đồng bảo hiểm với các tập đoàn lớn như LG và Samsung, phát triển kênh kinh doanh trực tiếp, triển khai mô hình đại lý Inhouse, đồng thời mở rộng các dịch vụ khai thác dành cho các doanh nghiệp Trung Quốc.

Về phương án phân phối lợi nhuận năm 2024, theo tờ trình của Hội đồng Quản trị, lợi nhuận sau thuế theo báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán năm 2024 của tổng công ty đạt 10,1 tỷ đồng. Sau khi trích các quỹ, cộng dồn lợi nhuận để lại chưa phân phối của BSH qua các năm 207,4 tỷ đồng. Công ty chưa có kế hoạch chia cổ tức cho cổ đông.

Giữ nhịp tăng trưởng, nhưng thách thức về kinh doanh cốt lõi và thứ hạng

Năm 2024 được đánh giá là năm đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do các vấn đề rủi ro pháp lý vẫn chưa được giải quyết triệt, cơn bão số 3 - Yagi gây thiệt hại nặng nề để ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các doanh nghiệp phi nhân thọ.

Cũng trong năm 2024, “ông lớn” Bảo hiểm Hàn Quốc DBI chính thức trở thành cổ đông chiến lược nước ngoài chiếm 75% vốn điều lệ của BSH. Với việc kết hợp kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm và hệ thống công nghệ tiên tiến của DBI vào hoạt động kinh doanh, kỳ vọng sẽ đưa BSH trở thành công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu tại thị trường Việt Nam.

BSH tái cấu trúc năm 2025, tăng lợi nhuận trong thế doanh thu co hẹp
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Duy trì top 10 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng

Bứt phá trước thách thức bằng sự nỗ lực và những giải pháp kinh doanh chủ động, sáng tạo, BSH vẫn đạt được những kết quả tích cực và toàn diện trọng năm 2024 khi tổng tài sản tăng trưởng 22%, vốn chủ sở hữu tăng 1%, tổng quỹ dự phòng nghiệp vụ tăng 2%, tiếp tục giữ vũng vị trí Top 10 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

Trong tờ trình đại hội, Tổng công ty cho biết, năm 2024, BSH ghi nhận doanh thu bảo hiểm gốc đạt 3.131 tỷ đồng, tăng trưởng 4,9% và hoàn thành 101,8% kế hoạch năm.

Tuy nhiên, lợi nhuận hoạt động bảo hiểm tiếp tục âm và thậm chí còn tăng mức lỗ lên 215,8 tỷ đồng (so với âm 187,8 tỷ đồng năm 2023), tương đương mức suy giảm 14,9%.

Trái lại, lợi nhuận hoạt động tài chính đạt 224,3 tỷ đồng, hoàn thành 120,6% kế hoạch năm, trong đó, lợi nhuận đến từ đầu tư chứng khoán là 26,5 tỷ đồng, lợi nhuận từ đầu tư tiền gửi là 180,2 tỷ đồng. Đây là nguồn đóng góp quan trọng, giúp bù đắp lỗ từ hoạt động bảo hiểm và duy trì kết quả kinh doanh chung.

Tựu trung, lợi nhuận trước thuế của BSH đạt 11 tỷ đồng, tăng trưởng 37,3% so với năm 2023. Đây là kết quả đáng ghi nhận, cho thấy năng lực điều hành tài chính và quản lý dòng tiền hiệu quả, dù hoạt động kinh doanh cốt lõi vẫn còn nhiều thách thức.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, tại báo cáo kết quả kinh doanh năm 2024, định hướng kế hoạch kinh doanh năm 2025, ông Đoàn Kiên cũng chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế về kênh phân phối khi số lượng các ngân hàng ký kết hợp tác với BSH thấp chỉ 6 ngân hàng; doanh thu nhóm nghiệp vụ tài sản kỹ thuật - hàng hoá khai thác qua ngân hàng thấp chỉ 5,8%. Số lượng đơn vị khai thác qua kênh môi giới ít, đạt 8/52 đơn vị. Cùng với đó, kênh khai thác không đa dạng, chủ yếu khai thác qua kênh bán lẻ trực tiếp, chiếm 44,1% doanh thu.

Hiện thị phần của BSH đang bị cạnh tranh gay gắt bởi những doanh nghiệp bảo hiểm như: Opes, ABIC, GIC, đặc biệt Opes và ABIC được sự hậu thuẫn rất lớn từ ngân hàng mẹ là VPBank và Agribank./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17742 18015 18591
CAD 18512 18789 19406
CHF 32581 32965 33609
CNY 0 3470 3830
EUR 29794 30066 31094
GBP 34338 34729 35663
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15512
SGD 19981 20263 20791
THB 718 782 835
USD (1,2) 26082 0 0
USD (5,10,20) 26123 0 0
USD (50,100) 26151 26171 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80