Phát tín hiệu “đổi nhịp” điều hành năm 2026
Tại cuộc họp báo cuối năm của Ngân hàng Nhà nước, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ nhiều lần truyền đi thông điệp điều hành chính sách tiền tệ năm 2026.
Theo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, do phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào thường xuyên biến động và thay đổi, do vậy, việc điều hành chính sách tiền tệ cần bảo đảm tính linh hoạt, nhưng đồng thời phải kiên định về mục tiêu. Trong đó, mục tiêu cốt lõi là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, trên cơ sở đó, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách có điều kiện, theo hướng nhanh và bền vững.
![]() |
| Nguồn: NHNN, BIDV Research. Đồ họa tư liệu |
Thông điệp này cho thấy bước “đổi nhịp” so với năm trước, khi chính sách tiền tệ ưu tiên thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Cũng khác với những đồn đoán về một cuộc "chạy đua" tín dụng lên tới 20% để đạt mức tăng trưởng kinh tế hai con số, nhà điều hành chọn bước đi cẩn trọng hơn.
Ngân hàng Nhà nước dự kiến sẽ ban hành Chỉ thị về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2026, trong đó, hạn mức tăng trưởng tín dụng sẽ được "siết" về mức 15%, sụt giảm đáng kể so với con số ước thực hiện 19% của năm 2025.
Đây chính là thông điệp về sự cân bằng, vừa đủ mạnh mẽ để hỗ trợ tăng trưởng, vừa đủ nghiêm khắc để kiểm soát chất lượng tín dụng, nắn dòng vốn chảy vào "huyết mạch" sản xuất thay vì các lĩnh vực rủi ro.
Nhiều áp lực đẩy tăng lãi suấtLãi suất có xu hướng nhích lên vừa qua. Thứ nhất, tín dụng tăng cao hơn so với huy động vốn. Thứ hai, các kênh đầu tư khác tương đối hấp dẫn, thể hiện rất rõ ở vàng, ngoại tệ, bất động sản, chứng khoán, tiền mã hóa, kể cả lĩnh vực khởi nghiệp. Chính vì thế, dòng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng không tăng nhanh và mạnh. Bên cạnh đó, yếu tố thời vụ cũng tác động rõ rệt, bởi nhu cầu vốn của nền kinh tế bao giờ cũng lớn và cao hơn. Trong bối cảnh như vậy, hệ thống ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động tiền gửi để hút tiền vào hệ thống. TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế Trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng |
Theo đó, dự kiến Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Lãnh đạo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cũng thừa nhận, thời gian qua, thanh khoản hệ thống xuất hiện những khó khăn nhất định. Với ngành ngân hàng, một mâu thuẫn xảy ra là khi tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì rất khó duy trì lãi suất thấp trong thời gian dài. Thế nhưng, thời gian qua, ngành ngân hàng đã đạt được điều này, dù điều kiện rất khó khăn.
Dù vậy, vào những tháng cuối năm, khi tiến gần đến dịp Tết, yếu tố mùa vụ làm nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế tăng cao, cộng hưởng với nhiều yếu tố khác khi huy động "đuối sức" so với tín dụng kéo dài, dòng tiền đổ về nhiều kênh đầu tư hấp dẫn hơn, từ đó, tạo áp lực lớn lên thanh khoản của hệ thống.
"Vấn đề thanh khoản sẽ sớm được điều chỉnh trong thời gian tới theo định hướng điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước, nhằm đảm bảo thanh khoản hệ thống được giữ vững, cũng như duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh.
Áp lực thanh khoản dâng cao
Theo đánh giá của TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế Trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, tín dụng và huy động vốn trong giai đoạn trước 2006 - 2010 gần như song hành với nhau, trong đó, tín dụng tăng trưởng rất cao, lên tới 35%/năm, đẩy lạm phát "bùng" lên mạnh, có những năm lên tới 20%. Sau đó, trong giai đoạn 2011 - 2015, thậm chí huy động vốn còn tăng cao hơn so với tín dụng.
"Tín dụng tăng cao hơn so với huy động vốn khoảng 4 - 5 năm trở về đây. Chính vì thế, thấy rất rõ thanh khoản hệ thống ngân hàng không được dồi dào như trước đây" - ông Lực nhấn mạnh. Bởi tín dụng được tung ra nền kinh tế khá mạnh, trong khi huy động vốn không tăng tương ứng, lệch pha nhau khoảng 3 điểm phần trăm, khiến hệ thống thiếu khoảng 2 triệu tỷ đồng.
Thực tế các biện pháp được Ngân hàng Nhà nước triển khai vào cuối năm trên thị trường mở (OMO), bao gồm việc tăng lãi suất OMO lên mức 4,5%/năm, mở rộng kỳ hạn nghiệp vụ OMO tối đa lên 105 ngày và thực hiện bán USD kỳ hạn để "bơm" thanh khoản cho hệ thống, đều cho thấy ưu tiên định hình mặt bằng lãi suất ngắn hạn, nâng cao khả năng cung ứng thanh khoản có kỳ hạn cho hệ thống ngân hàng và bảo đảm tỷ giá nằm trong tầm kiểm soát.
Trong báo cáo Triển vọng đầu tư 2026, nhóm phân tích Công ty cổ Phần Chứng khoán Rồng Việt cho rằng, thông điệp điều hành xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là linh hoạt hỗ trợ tăng trưởng, nhưng đồng thời phải giữ ổn định.
"Ngân hàng Nhà nước sẽ chưa tăng lãi suất điều hành, ít nhất trong nửa đầu năm 2026. Thay vào đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ linh hoạt điều tiết qua thị trường mở nhằm ứng phó với áp lực tỷ giá và nhu cầu thanh khoản ngắn hạn" - Chứng khoán Rồng Việt dự báo.
Lãi suất sẽ thiết lập mặt bằng mới dưới áp lực thanh khoảnTrong báo cáo mang tựa đề "Kiến thiết nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số" vừa phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho rằng, lãi suất sẽ tạo lập mặt bằng mới trong năm 2026. Nhóm phân tích Chứng khoán MBS cho biết, lãi suất tiền gửi bật tăng từ tháng 10/2025 trên tất cả các kỳ hạn. Tính đến giữa tháng 12/2025, bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân tăng 70 - 100 điểm cơ bản so với đầu năm, lên 5,82%; trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh tăng 50 điểm cơ bản, lên 5,2%. Ở các kỳ hạn ngắn, lãi suất tăng thêm khoảng 80 - 120 điểm cơ bản rải rác nhiều kỳ hạn. "Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng có thể tiếp tục tăng thêm khoảng 50 điểm cơ bản trong năm 2026" - Chứng khoán MBS nhận định. Thứ nhất, do nới rộng chênh lệch giữa cho vay và tiền gửi. Theo MBS, nhu cầu vốn của nền kinh tế được dự báo sẽ tăng mạnh 5 năm tới, nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên 40%. Trong khi đó, tiền gửi đang dịch chuyển sang các kênh đầu tư ít thanh khoản như: vàng, USD và bất động sản, khiến tốc độ vòng quay vốn trong nền kinh tế chậm lại. Thứ hai, chênh lệch về cấu trúc kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Hiện tỷ lệ tiền gửi kỳ hạn ngắn, dưới 6 tháng chiếm 80%, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các kế hoạch đầu tư hạ tầng là rất lớn. Điều này dẫn đến áp lực thiếu hụt nguồn vốn dài hạn. Thứ ba, chất lượng tài sản chưa được cải thiện rõ rệt, trong khi tỷ lệ bao phủ giảm, cho thấy áp lực trích lập dự phòng của các ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Đây cũng là một yếu tố khiến lãi suất khó giảm trong ngắn hạn. Chứng khoán Rồng Việt cũng dự báo, lãi suất huy động dự kiến tăng thêm 50 - 100 điểm cơ bản trong năm 2026, khi vòng quay tiền tiếp tục giảm xuống mức quanh 0,6 lần, vì tín dụng chưa lan tỏa đến các lĩnh vực sản xuất và đầu tư. Cùng với đó, áp lực huy động để đảm bảo tỷ lệ an toàn thanh khoản như: LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi), vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn diễn ra ở một số ngân hàng, dẫn đến cuộc đua cạnh tranh lãi suất nhằm giữ chân khách hàng. Lãi suất cho vay sẽ nhích lên mặt bằng mới theo sau mức tăng lãi suất huy động. |

