Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Phát tín hiệu “đổi nhịp” điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, nhà điều hành nhấn mạnh mục tiêu kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thay vì mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao, trong bối cảnh áp lực thanh khoản và lãi suất dần gia tăng.
aa

Phát tín hiệu “đổi nhịp” điều hành năm 2026

Tại cuộc họp báo cuối năm của Ngân hàng Nhà nước, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ nhiều lần truyền đi thông điệp điều hành chính sách tiền tệ năm 2026.

Theo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, do phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào thường xuyên biến động và thay đổi, do vậy, việc điều hành chính sách tiền tệ cần bảo đảm tính linh hoạt, nhưng đồng thời phải kiên định về mục tiêu. Trong đó, mục tiêu cốt lõi là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, trên cơ sở đó, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách có điều kiện, theo hướng nhanh và bền vững.

Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản
Nguồn: NHNN, BIDV Research. Đồ họa tư liệu

Thông điệp này cho thấy bước “đổi nhịp” so với năm trước, khi chính sách tiền tệ ưu tiên thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Cũng khác với những đồn đoán về một cuộc "chạy đua" tín dụng lên tới 20% để đạt mức tăng trưởng kinh tế hai con số, nhà điều hành chọn bước đi cẩn trọng hơn.

Ngân hàng Nhà nước dự kiến sẽ ban hành Chỉ thị về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2026, trong đó, hạn mức tăng trưởng tín dụng sẽ được "siết" về mức 15%, sụt giảm đáng kể so với con số ước thực hiện 19% của năm 2025.

Đây chính là thông điệp về sự cân bằng, vừa đủ mạnh mẽ để hỗ trợ tăng trưởng, vừa đủ nghiêm khắc để kiểm soát chất lượng tín dụng, nắn dòng vốn chảy vào "huyết mạch" sản xuất thay vì các lĩnh vực rủi ro.

Nhiều áp lực đẩy tăng lãi suất

Lãi suất có xu hướng nhích lên vừa qua. Thứ nhất, tín dụng tăng cao hơn so với huy động vốn. Thứ hai, các kênh đầu tư khác tương đối hấp dẫn, thể hiện rất rõ ở vàng, ngoại tệ, bất động sản, chứng khoán, tiền mã hóa, kể cả lĩnh vực khởi nghiệp. Chính vì thế, dòng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng không tăng nhanh và mạnh. Bên cạnh đó, yếu tố thời vụ cũng tác động rõ rệt, bởi nhu cầu vốn của nền kinh tế bao giờ cũng lớn và cao hơn. Trong bối cảnh như vậy, hệ thống ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động tiền gửi để hút tiền vào hệ thống.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế Trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng

Theo đó, dự kiến Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Lãnh đạo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cũng thừa nhận, thời gian qua, thanh khoản hệ thống xuất hiện những khó khăn nhất định. Với ngành ngân hàng, một mâu thuẫn xảy ra là khi tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì rất khó duy trì lãi suất thấp trong thời gian dài. Thế nhưng, thời gian qua, ngành ngân hàng đã đạt được điều này, dù điều kiện rất khó khăn.

Dù vậy, vào những tháng cuối năm, khi tiến gần đến dịp Tết, yếu tố mùa vụ làm nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế tăng cao, cộng hưởng với nhiều yếu tố khác khi huy động "đuối sức" so với tín dụng kéo dài, dòng tiền đổ về nhiều kênh đầu tư hấp dẫn hơn, từ đó, tạo áp lực lớn lên thanh khoản của hệ thống.

"Vấn đề thanh khoản sẽ sớm được điều chỉnh trong thời gian tới theo định hướng điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước, nhằm đảm bảo thanh khoản hệ thống được giữ vững, cũng như duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh.

Áp lực thanh khoản dâng cao

Theo đánh giá của TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế Trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, tín dụng và huy động vốn trong giai đoạn trước 2006 - 2010 gần như song hành với nhau, trong đó, tín dụng tăng trưởng rất cao, lên tới 35%/năm, đẩy lạm phát "bùng" lên mạnh, có những năm lên tới 20%. Sau đó, trong giai đoạn 2011 - 2015, thậm chí huy động vốn còn tăng cao hơn so với tín dụng.

"Tín dụng tăng cao hơn so với huy động vốn khoảng 4 - 5 năm trở về đây. Chính vì thế, thấy rất rõ thanh khoản hệ thống ngân hàng không được dồi dào như trước đây" - ông Lực nhấn mạnh. Bởi tín dụng được tung ra nền kinh tế khá mạnh, trong khi huy động vốn không tăng tương ứng, lệch pha nhau khoảng 3 điểm phần trăm, khiến hệ thống thiếu khoảng 2 triệu tỷ đồng.

Thực tế các biện pháp được Ngân hàng Nhà nước triển khai vào cuối năm trên thị trường mở (OMO), bao gồm việc tăng lãi suất OMO lên mức 4,5%/năm, mở rộng kỳ hạn nghiệp vụ OMO tối đa lên 105 ngày và thực hiện bán USD kỳ hạn để "bơm" thanh khoản cho hệ thống, đều cho thấy ưu tiên định hình mặt bằng lãi suất ngắn hạn, nâng cao khả năng cung ứng thanh khoản có kỳ hạn cho hệ thống ngân hàng và bảo đảm tỷ giá nằm trong tầm kiểm soát.

Trong báo cáo Triển vọng đầu tư 2026, nhóm phân tích Công ty cổ Phần Chứng khoán Rồng Việt cho rằng, thông điệp điều hành xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là linh hoạt hỗ trợ tăng trưởng, nhưng đồng thời phải giữ ổn định.

"Ngân hàng Nhà nước sẽ chưa tăng lãi suất điều hành, ít nhất trong nửa đầu năm 2026. Thay vào đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ linh hoạt điều tiết qua thị trường mở nhằm ứng phó với áp lực tỷ giá và nhu cầu thanh khoản ngắn hạn" - Chứng khoán Rồng Việt dự báo.

Lãi suất sẽ thiết lập mặt bằng mới dưới áp lực thanh khoản

Trong báo cáo mang tựa đề "Kiến thiết nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số" vừa phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho rằng, lãi suất sẽ tạo lập mặt bằng mới trong năm 2026.

Nhóm phân tích Chứng khoán MBS cho biết, lãi suất tiền gửi bật tăng từ tháng 10/2025 trên tất cả các kỳ hạn. Tính đến giữa tháng 12/2025, bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân tăng 70 - 100 điểm cơ bản so với đầu năm, lên 5,82%; trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh tăng 50 điểm cơ bản, lên 5,2%. Ở các kỳ hạn ngắn, lãi suất tăng thêm khoảng 80 - 120 điểm cơ bản rải rác nhiều kỳ hạn.

"Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng có thể tiếp tục tăng thêm khoảng 50 điểm cơ bản trong năm 2026" - Chứng khoán MBS nhận định.

Thứ nhất, do nới rộng chênh lệch giữa cho vay và tiền gửi. Theo MBS, nhu cầu vốn của nền kinh tế được dự báo sẽ tăng mạnh 5 năm tới, nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên 40%. Trong khi đó, tiền gửi đang dịch chuyển sang các kênh đầu tư ít thanh khoản như: vàng, USD và bất động sản, khiến tốc độ vòng quay vốn trong nền kinh tế chậm lại.

Thứ hai, chênh lệch về cấu trúc kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Hiện tỷ lệ tiền gửi kỳ hạn ngắn, dưới 6 tháng chiếm 80%, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các kế hoạch đầu tư hạ tầng là rất lớn. Điều này dẫn đến áp lực thiếu hụt nguồn vốn dài hạn.

Thứ ba, chất lượng tài sản chưa được cải thiện rõ rệt, trong khi tỷ lệ bao phủ giảm, cho thấy áp lực trích lập dự phòng của các ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Đây cũng là một yếu tố khiến lãi suất khó giảm trong ngắn hạn.

Chứng khoán Rồng Việt cũng dự báo, lãi suất huy động dự kiến tăng thêm 50 - 100 điểm cơ bản trong năm 2026, khi vòng quay tiền tiếp tục giảm xuống mức quanh 0,6 lần, vì tín dụng chưa lan tỏa đến các lĩnh vực sản xuất và đầu tư.

Cùng với đó, áp lực huy động để đảm bảo tỷ lệ an toàn thanh khoản như: LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi), vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn diễn ra ở một số ngân hàng, dẫn đến cuộc đua cạnh tranh lãi suất nhằm giữ chân khách hàng. Lãi suất cho vay sẽ nhích lên mặt bằng mới theo sau mức tăng lãi suất huy động.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80