Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Phát tín hiệu “đổi nhịp” điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, nhà điều hành nhấn mạnh mục tiêu kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thay vì mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao, trong bối cảnh áp lực thanh khoản và lãi suất dần gia tăng.
aa

Phát tín hiệu “đổi nhịp” điều hành năm 2026

Tại cuộc họp báo cuối năm của Ngân hàng Nhà nước, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ nhiều lần truyền đi thông điệp điều hành chính sách tiền tệ năm 2026.

Theo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, do phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào thường xuyên biến động và thay đổi, do vậy, việc điều hành chính sách tiền tệ cần bảo đảm tính linh hoạt, nhưng đồng thời phải kiên định về mục tiêu. Trong đó, mục tiêu cốt lõi là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, trên cơ sở đó, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách có điều kiện, theo hướng nhanh và bền vững.

Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản
Nguồn: NHNN, BIDV Research. Đồ họa tư liệu

Thông điệp này cho thấy bước “đổi nhịp” so với năm trước, khi chính sách tiền tệ ưu tiên thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Cũng khác với những đồn đoán về một cuộc "chạy đua" tín dụng lên tới 20% để đạt mức tăng trưởng kinh tế hai con số, nhà điều hành chọn bước đi cẩn trọng hơn.

Ngân hàng Nhà nước dự kiến sẽ ban hành Chỉ thị về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2026, trong đó, hạn mức tăng trưởng tín dụng sẽ được "siết" về mức 15%, sụt giảm đáng kể so với con số ước thực hiện 19% của năm 2025.

Đây chính là thông điệp về sự cân bằng, vừa đủ mạnh mẽ để hỗ trợ tăng trưởng, vừa đủ nghiêm khắc để kiểm soát chất lượng tín dụng, nắn dòng vốn chảy vào "huyết mạch" sản xuất thay vì các lĩnh vực rủi ro.

Nhiều áp lực đẩy tăng lãi suất

Lãi suất có xu hướng nhích lên vừa qua. Thứ nhất, tín dụng tăng cao hơn so với huy động vốn. Thứ hai, các kênh đầu tư khác tương đối hấp dẫn, thể hiện rất rõ ở vàng, ngoại tệ, bất động sản, chứng khoán, tiền mã hóa, kể cả lĩnh vực khởi nghiệp. Chính vì thế, dòng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng không tăng nhanh và mạnh. Bên cạnh đó, yếu tố thời vụ cũng tác động rõ rệt, bởi nhu cầu vốn của nền kinh tế bao giờ cũng lớn và cao hơn. Trong bối cảnh như vậy, hệ thống ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động tiền gửi để hút tiền vào hệ thống.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế Trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng

Theo đó, dự kiến Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Lãnh đạo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cũng thừa nhận, thời gian qua, thanh khoản hệ thống xuất hiện những khó khăn nhất định. Với ngành ngân hàng, một mâu thuẫn xảy ra là khi tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì rất khó duy trì lãi suất thấp trong thời gian dài. Thế nhưng, thời gian qua, ngành ngân hàng đã đạt được điều này, dù điều kiện rất khó khăn.

Dù vậy, vào những tháng cuối năm, khi tiến gần đến dịp Tết, yếu tố mùa vụ làm nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế tăng cao, cộng hưởng với nhiều yếu tố khác khi huy động "đuối sức" so với tín dụng kéo dài, dòng tiền đổ về nhiều kênh đầu tư hấp dẫn hơn, từ đó, tạo áp lực lớn lên thanh khoản của hệ thống.

"Vấn đề thanh khoản sẽ sớm được điều chỉnh trong thời gian tới theo định hướng điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước, nhằm đảm bảo thanh khoản hệ thống được giữ vững, cũng như duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định" - lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ nhấn mạnh.

Áp lực thanh khoản dâng cao

Theo đánh giá của TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế Trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, tín dụng và huy động vốn trong giai đoạn trước 2006 - 2010 gần như song hành với nhau, trong đó, tín dụng tăng trưởng rất cao, lên tới 35%/năm, đẩy lạm phát "bùng" lên mạnh, có những năm lên tới 20%. Sau đó, trong giai đoạn 2011 - 2015, thậm chí huy động vốn còn tăng cao hơn so với tín dụng.

"Tín dụng tăng cao hơn so với huy động vốn khoảng 4 - 5 năm trở về đây. Chính vì thế, thấy rất rõ thanh khoản hệ thống ngân hàng không được dồi dào như trước đây" - ông Lực nhấn mạnh. Bởi tín dụng được tung ra nền kinh tế khá mạnh, trong khi huy động vốn không tăng tương ứng, lệch pha nhau khoảng 3 điểm phần trăm, khiến hệ thống thiếu khoảng 2 triệu tỷ đồng.

Thực tế các biện pháp được Ngân hàng Nhà nước triển khai vào cuối năm trên thị trường mở (OMO), bao gồm việc tăng lãi suất OMO lên mức 4,5%/năm, mở rộng kỳ hạn nghiệp vụ OMO tối đa lên 105 ngày và thực hiện bán USD kỳ hạn để "bơm" thanh khoản cho hệ thống, đều cho thấy ưu tiên định hình mặt bằng lãi suất ngắn hạn, nâng cao khả năng cung ứng thanh khoản có kỳ hạn cho hệ thống ngân hàng và bảo đảm tỷ giá nằm trong tầm kiểm soát.

Trong báo cáo Triển vọng đầu tư 2026, nhóm phân tích Công ty cổ Phần Chứng khoán Rồng Việt cho rằng, thông điệp điều hành xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là linh hoạt hỗ trợ tăng trưởng, nhưng đồng thời phải giữ ổn định.

"Ngân hàng Nhà nước sẽ chưa tăng lãi suất điều hành, ít nhất trong nửa đầu năm 2026. Thay vào đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ linh hoạt điều tiết qua thị trường mở nhằm ứng phó với áp lực tỷ giá và nhu cầu thanh khoản ngắn hạn" - Chứng khoán Rồng Việt dự báo.

Lãi suất sẽ thiết lập mặt bằng mới dưới áp lực thanh khoản

Trong báo cáo mang tựa đề "Kiến thiết nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số" vừa phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho rằng, lãi suất sẽ tạo lập mặt bằng mới trong năm 2026.

Nhóm phân tích Chứng khoán MBS cho biết, lãi suất tiền gửi bật tăng từ tháng 10/2025 trên tất cả các kỳ hạn. Tính đến giữa tháng 12/2025, bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng tư nhân tăng 70 - 100 điểm cơ bản so với đầu năm, lên 5,82%; trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh tăng 50 điểm cơ bản, lên 5,2%. Ở các kỳ hạn ngắn, lãi suất tăng thêm khoảng 80 - 120 điểm cơ bản rải rác nhiều kỳ hạn.

"Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng có thể tiếp tục tăng thêm khoảng 50 điểm cơ bản trong năm 2026" - Chứng khoán MBS nhận định.

Thứ nhất, do nới rộng chênh lệch giữa cho vay và tiền gửi. Theo MBS, nhu cầu vốn của nền kinh tế được dự báo sẽ tăng mạnh 5 năm tới, nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên 40%. Trong khi đó, tiền gửi đang dịch chuyển sang các kênh đầu tư ít thanh khoản như: vàng, USD và bất động sản, khiến tốc độ vòng quay vốn trong nền kinh tế chậm lại.

Thứ hai, chênh lệch về cấu trúc kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Hiện tỷ lệ tiền gửi kỳ hạn ngắn, dưới 6 tháng chiếm 80%, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các kế hoạch đầu tư hạ tầng là rất lớn. Điều này dẫn đến áp lực thiếu hụt nguồn vốn dài hạn.

Thứ ba, chất lượng tài sản chưa được cải thiện rõ rệt, trong khi tỷ lệ bao phủ giảm, cho thấy áp lực trích lập dự phòng của các ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Đây cũng là một yếu tố khiến lãi suất khó giảm trong ngắn hạn.

Chứng khoán Rồng Việt cũng dự báo, lãi suất huy động dự kiến tăng thêm 50 - 100 điểm cơ bản trong năm 2026, khi vòng quay tiền tiếp tục giảm xuống mức quanh 0,6 lần, vì tín dụng chưa lan tỏa đến các lĩnh vực sản xuất và đầu tư.

Cùng với đó, áp lực huy động để đảm bảo tỷ lệ an toàn thanh khoản như: LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi), vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn diễn ra ở một số ngân hàng, dẫn đến cuộc đua cạnh tranh lãi suất nhằm giữ chân khách hàng. Lãi suất cho vay sẽ nhích lên mặt bằng mới theo sau mức tăng lãi suất huy động.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80