Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/8: Tỷ giá EUR và GBP tăng mạnh, lãi suất liên ngân hàng vọt lên 6,6%

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/8 cho thấy, tỷ giá USD/VND hạ nhiệt với tỷ giá trung tâm giảm 21 đồng sau 3/5 phiên đi xuống, trong khi EUR và GBP dẫn đầu đà tăng lên tới 650 đồng. Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 7.354 tỷ đồng, song lãi suất liên ngân hàng vẫn ở mức cao, kỳ hạn qua đêm chạm 6,6%.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/7: Tỷ giá trung tâm giảm sau 5 tuần, dồn lực bơm thanh khoản Tỷ giá chịu áp lực, Ngân hàng Nhà nước cân nhắc dừng giảm lãi suất

Ngày 8/8, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.228 VND/USD, giảm 11 đồng so với phiên trước đó. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại hiện được phép giao dịch USD trong khoảng từ 23.967 - 26.489 VND/USD. Còn tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo cũng giảm xuống tương ứng còn 24.017 VND/USD ở chiều mua vào và 26.439 VND/USD ở chiều bán ra.

EUR và GBP dẫn đầu đà tăng tới 650 đồng, USD chỉ biến động nhẹ

Trong khi đó, giá bán USD tại nhiều ngân hàng thương mại lớn không đổi hoặc giảm nhẹ so với phiên trước. Trên thị trường tự do, tỷ giá "chợ đen" giữ nguyên, dao động quanh 26.420 - 26.480 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/8: Tỷ giá EUR và GBP tăng mạnh, lãi suất liên ngân hàng vọt lên 6,6%
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/8: Tỷ giá EUR và GBP tăng mạnh, lãi suất liên ngân hàng vọt lên 6,6% - Ảnh: T.L.

Tính chung tuần qua 4 - 8/8, diễn biến tỷ giá USD/VND ghi nhận xu hướng giảm nhẹ ở cả kênh chính thức lẫn tự do, với biên độ dao động hẹp hơn đáng kể so với tuần trước. Theo đó, trên thị trường chính thức, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm tổng cộng 21 đồng, với 3/5 phiên điều chỉnh giảm, đảo chiều so với mức tăng mạnh tuần trước (tăng 85 đồng).

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD chỉ nhích nhẹ. Đơn cử, USD chỉ biến động nhẹ khi Vietcombank lên 26.010 - 26.400 VND/USD, tăng 10 đồng ở cả hai chiều; BIDV lên 26.044 - 26.404 VND/USD, tăng 14 đồng ở cả hai chiều mua - bán.

Trên thị trường tự do, giá bán USD ở mức ổn định, chỉ nhích 30 đồng so với cuối tuần trước, lên 26.420 - 26.480 VND/USD hai chiều mua - bán.

Tỷ giá trung tâm hạ nhiệt

Tuần từ ngày 4 - 8/8, tỷ giá USD/VND biến động nhẹ ở cả kênh chính thức và tự do, với biên độ thu hẹp so với tuần trước. Đáng kể, tỷ giá trung tâm giảm 21 đồng, với 3/5 phiên giảm, đảo chiều so với mức tăng mạnh 85 đồng tuần trước. Chỉ số DXY quốc tế hạ nhiệt, lùi về dưới 100 điểm. Trong khi đó, tỷ giá EUR và GBP tăng mạnh.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, đã hạ nhiệt trong tuần qua, lùi về khoảng 98,26 điểm, tiếp tục nằm sâu dưới ngưỡng 100 điểm sau tuần tăng mạnh trước đó.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR ghi nhận mức tăng mạnh nhất tuần. Đơn cử, tại Vietcombank niêm yết ở mức lên 29.779,8 - 31.350 VND/EUR, tương ứng tăng 619 - 651,8 đồng hai chiều; còn BIDV lên 30.110 - 31.346 VND/EUR, tương ứng tăng 559 - 584 đồng.

Tỷ giá GBP cũng tăng mạnh, Vietcombank đạt 34.322,4 - 35.779,6 VND/GBP và BIDV đạt 34.783 - 35.745 VND/GBP, với mức tăng dao động 580 - 642 đồng.

Còn tỷ giá JPY hầu như đi ngang, chỉ tăng nhẹ lên 171,9 - 182,8 VND/JPY tại Vietcombank và 174,7 - 182,4 VND/JPY tại BIDV, mức biến động 3,8 - 4,1 đồng.

Áp lực tỷ giá vẫn còn, dù nhiều nhân tố giúp hạ nhiệt

Trong báo cáo mới phát hành, Công ty Chứng khoán MB (MBS) nhận định, đà tăng của tỷ giá liên ngân hàng đã chậm lại vừa qua. Điều này phần nào được hỗ trợ bởi việc chênh lệch lãi suất VND-USD được thu hẹp trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm liên tục neo ở mức cao. Ngoài ra, tỷ giá cũng được hỗ trợ bởi hoạt động xuất khẩu sôi động với mức thặng dư thương mại tích cực.

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/8: Tỷ giá EUR và GBP tăng mạnh, lãi suất liên ngân hàng vọt lên 6,6%
Ảnh: T.L.

Theo Cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu trong tháng 7 ước tính đạt 42,27 tỷ USD, cán cân thương mại thặng dư 2,27 tỷ USD. Ngoài ra, Kho bạc Nhà nước cũng ngừng chào mua USD từ các ngân hàng thương mại. Nhờ đó, việc này giúp giảm bớt áp lực lên nguồn cung ngoại tệ.

Tuy nhiên, nhóm phân tích MBS cho rằng, tỷ giá vẫn duy trì đà tăng do còn nhiều áp lực. "Mặc dù đồng USD được dự báo sẽ duy trì đà giảm về cuối năm khi Fed được dự đoán sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất, chúng tôi tin rằng các áp lực nội tại sẽ là yếu tố chính góp phần vào đà tăng của tỷ giá" - MBS đánh giá.

Bởi chênh lệch lãi suất USD-VND vẫn tiếp diễn cho dù FED cắt giảm lãi suất xuống 4%. Cùng với đó, nhu cầu nhập khẩu lớn hơn khi mức thuế 0% được áp dụng hàng hóa từ Mỹ. Ngược lại, xuất khẩu nói chung sẽ chậm lại, dẫn đến thặng dư thương mại bị thu hẹp. Dòng vốn FDI sẽ chậm lại chờ đợi các thông tin rõ ràng hơn về thuế quan. Ngoài ra, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới trong bối cảnh giá vàng tăng.

"Chúng tôi dự báo tỷ giá trung bình năm 2025 sẽ dao động trong khoảng 26.600 - 26.750 VND/USD, phản ánh mức tăng 4,5 - 5% so với đầu năm" - nhóm phân tích từ MBS dự đoán.

Còn theo nhận định của Công ty cổ phần Chứng khoán Tiên Phong (TPS), áp lực tỷ giá dự báo sẽ giảm trong nửa cuối năm do Fed sẽ có đợt giảm lãi suất, cũng như xu hướng của đồng USD là giảm trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, FDI sẽ hồi phục trở lại; khách du lịch quốc tế tăng mạnh mang lại nguồn cung ngoại hối; xuất khẩu có thể hồi phục trở lại do kết quả đàm phán khả thi.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 4 - 8/8, ở kênh cầm cố, có 125.479,72 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 91 ngày; có tới 118.125,18 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Hiện Ngân hàng Nhà nước vẫn dừng chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 7.354,54 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 216,459.65 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, không còn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường.

Dù Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hỗ trợ thanh khoản, song lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao. Lãi suất liên ngân hàng ghi nhận xu hướng tăng mạnh ở hầu hết các kỳ hạn, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống gia tăng đáng kể.

Đáng chú ý, kỳ hạn qua đêm bật tăng mạnh nhất, cộng thêm 1,24 điểm phần trăm (đpt) lên 6,6% trong phiên 7/8, phản ánh nhu cầu thanh khoản tức thời tăng cao. Các kỳ hạn ngắn khác cũng đồng loạt đi lên: 1 tuần tăng 0,54 đpt lên 5,89%, 2 tuần tăng 0,81 đpt lên 5,88%, 1 tháng tăng 0,99 đpt lên 5,5%. Riêng kỳ hạn 3 tháng gần như đi ngang, chỉ tăng nhẹ 0,03 đpt lên 5,49%, cho thấy áp lực chủ yếu tập trung ở các kỳ hạn ngắn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30