Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/6 ghi nhận diễn biến đáng chú ý khi tỷ giá trung tâm tăng 17 đồng lên 25.048 VND/USD, Ngân hàng Nhà nước tái kích hoạt kênh tín phiếu sau 4 tháng tạm ngưng. Đáng chú ý, 6 tháng đầu năm, nhiều ngoại tệ mạnh đồng loạt leo dốc, trong khi USD bán ra tăng 2,8%, EUR tăng vọt tới 15%, bất chấp chỉ số DXY giảm gần 9%.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6: Tỷ giá vọt đỉnh, lãi suất qua đêm xuống đáy hơn 1 năm Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm

Ngày 27/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.048 VND/USD, đánh dấu phiên giảm thứ ba liên tiếp, tiếp tục hạ 5 đồng so với phiên trước đó. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần và sàn tương ứng được xác định là 26.300 VND/USD và 23.796 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo hiện ở mức 23.846 VND/USD chiều mua vào và 26.250 VND/USD chiều bán ra.

Tỷ giá trung tâm tăng 2,9% nửa đầu năm, các ngoại tệ mạnh đồng loạt leo dốc

Tại các ngân hàng thương mại, chốt phiên ngày 27/6, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.880 VND/USD mua vào và 26.270 VND/USD bán ra, giảm 20 đồng hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD cũng ghi nhận mức giảm nhẹ 5 đồng ở cả hai chiều, xuống còn 25.910 - 26.270 VND/USD, cũng giảm mức tương ứng 20 đồng hai chiều.

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Biến động tỷ giá USD/VND 6 tháng đầu năm 2025. Ảnh: T.L.

EUR, GBP, JPY tăng bứt tốc 11 - 15% nửa đầu năm

Tuần qua (23- 27/6), tỷ giá trung tâm tăng 17 đồng dù có 4 phiên giảm, do cú bật mạnh ngày 24/6. Trong khi đó, tỷ giá USD ngân hàng giảm nhẹ 12 đồng, còn tỷ giá tự do tăng 60 đồng, vượt tỷ giá niêm yết, phản ánh tâm lý thận trọng và nhu cầu ngoại tệ cao. Tính chung 6 tháng đầu năm, tỷ giá trung tâm tăng 713 đồng (2,9%), USD bán ra tại Vietcombank tăng 719 đồng (2,8%), trong khi tỷ giá tự do tăng thấp hơn khoảng 620 đồng (2,4%). Trong khi chỉ số DXY giảm gần 9%, các ngoại tệ mạnh như EUR, GBP, JPY đều tăng mạnh 11 - 15% so với VND.

Tính chung tuần qua 23 - 27/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ghi nhận tới 4/5 phiên giảm, nhưng không bù được mức tăng mạnh 30 đồng vào phiên 24/6 lên đỉnh lịch sử 25.058 VND/USD. Tính trong tuần qua, tỷ giá trung tâm vẫn tăng 17 đồng, dù thấp hơn đáng kể so với 56 đồng của tuần trước.

Còn tính từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm tăng 713 đồng, tương ứng tăng 2,9%.

Trái lại, chốt phiên cuối tuần, tỷ giá USD tại Vietcombank niêm yết ở 25.880 - 26.270 VND/USD, giảm 12 đồng hai chiều; BIDV niêm yết ở 25.910 - 26.270 VND/USD, cũng giảm 12 đồng, đồng loạt hạ nhiệt so với hai tuần trước đó.

Như vậy, trong nửa đầu năm, tỷ giá USD bán ra tại Vietcombank tăng 719 đồng, tăng 2,8%; mua vào tăng 659 đồng, tăng 2,6%.

Đáng chú ý, tỷ giá tự do ghi nhận mức tăng 60 đồng trong tuần, lên mức 26.370 - 26.470 VND/USD, cao hơn tỷ giá ngân hàng. Đây là tín hiệu cần theo dõi sát vì chênh lệch giữa tỷ giá tự do và tỷ giá niêm yết ngân hàng có thể phản ánh tâm lý găm giữ ngoại tệ trong dân cư, hoặc lo ngại về biến động tỷ giá trong ngắn hạn. Tựu trung, tính trong 6 tháng đầu năm, tỷ giá "chợ đen" có mức tăng thấp hơn thị trường chính thức, chỉ tăng 620 đồng, tương ứng tăng 2,4%.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, tiếp đà giảm 1,5% tuần qua, xuống còn 97,27 điểm. Trong nửa đầu năm, chỉ số DXY giảm gần 9%, tương ứng giảm 11,2 điểm bởi tác động của các chính sách thương mại và tài chính của Tổng thống Trump.

Với các ngoại tệ khác, tại Vietcombank, một trong những nhà băng kinh doanh ngoại hối lớn nhất hệ thống, tỷ giá EUR tăng vọt, lên mức 29.764,27 - 31.364,40 VND/EUR, tăng 3.912 đồng chiều mua và 4.073 đồng chiều bán, tương ứng tăng khoảng 15% hai chiều.

Tỷ giá GBP cũng tăng mạnh, lên mức 34.940 - 35.293 VND/GBP, tăng 3.789 đồng chiều mua và 3.923 đồng chiều bán, tương ứng tăng 11,2%. Còn tỷ giá JPY lên mức 174,42 - 185,5 VND/JPY, tức tăng 17,56 đồng chiều mua và 19,38 đồng chiều bán, tức tăng khoảng 11%.

Tái khởi động kênh tín phiếu, lãi suất liên ngân hàng hết “nguội lạnh”

Chứng khoán Vietcombank (VCBS) nhận định rằng, tỷ giá USD trong nước đang có xu hướng tăng, dù chỉ số DXY trên thị trường quốc tế lại điều chỉnh giảm. Diễn biến này cho thấy áp lực lên tỷ giá không xuất phát từ yếu tố bên ngoài, mà chủ yếu bắt nguồn từ diễn biến nội tại của thị trường.

VCBS cũng đánh giá, tâm lý đầu cơ USD vẫn ở mức cao, cả ở nhóm nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức. Điều này phản ánh sự thận trọng trong bối cảnh thị trường chưa có thông tin chính thức về kết quả đàm phán thuế quan giữa Việt Nam và Mỹ.

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Các ngoại tệ mạnh như EUR, GBP, JPY đều tăng mạnh 11 - 15% so với VND. Ảnh: T.L.

Lãi suất qua đêm lên 4,37%, thị trường liên ngân hàng đảo chiều tăng nhiệt

Diễn biến đáng chú ý trên thị trường liên ngân hàng tuần qua 23 - 27/06 cho thấy, lãi suất bật tăng mạnh sau khi giảm sâu xuống đáy hơn 1 năm ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, ngày 26/6, lãi suất qua đêm tăng mạnh 2,54%, lên 4,37%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng mạnh 2,17% lên 4,47%; 2 tuần là 4,47%, tăng 0,6%. Lãi suất 1 tháng cũng tăng lên 4,5%, tức tăng 1,05%; 3 tháng lên 4,97%, tăng 0,46%.

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, để ổn định tỷ giá USD/VND, Ngân hàng Nhà nước nên kết hợp nhiều biện pháp.

Một là, sử dụng dự trữ ngoại hối can thiệp khi thị trường biến động mạnh như năm 2022 Ngân hàng Nhà nước đã bán ngoại tệ can thiệp và thành công giữ mức mất giá VND 8-9%, thấp hơn nhiều nước trong khu vực.

Hai là, duy trì chênh lệch lãi suất VND-USD đủ hấp dẫn. Ví dụ khi Fed tăng mạnh, lãi suất tiền đồng liên ngân hàng cũng cần tăng tương ứng để tránh arbitrage (kinh doanh chênh lệch giá). Điều này Ngân hàng Nhà nước đã làm qua kênh OMO và tín phiếu cuối 2022, đẩy lãi suất VND lên, thu hút VND.

Ba là, điều hành tỷ giá linh hoạt theo thị trường có kiểm soát biên độ, cho phép VND mất giá từ từ thay vì neo cứng, tránh cạn kiệt dự trữ.

Bốn là, kiểm soát dòng vốn ra vào. Trong giai đoạn biến động, có thể áp dụng các biện pháp như hạn chế vay ngoại tệ ngắn hạn, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi ngoại tệ có kỳ hạn, tăng cường thu hút FDI chất lượng (dòng vốn ổn định) và hạn chế dòng vốn nóng đầu cơ. Việt Nam vẫn quản lý tài khoản vốn nhất định, đây là lợi thế để phòng vệ trước biến động nhanh.

Ngoài ra, cần khuyến khích doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ giá (hedging) thông qua phái sinh, giảm áp lực lên thị trường giao ngay.

Trong bối cảnh diễn biến tỷ giá biến động mạnh, trên thị trường mở tuần qua từ 23 - 27/06, sau 1 tuần "im ắng", ở kênh cầm cố, có tới 70.190,93 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7, 14 và 91 ngày, lãi suất 4%. Trong đó, phiên ngày 27/06, có tới 40.365,04 tỷ đồng trúng thầu, cao nhất trong nhiều tháng qua. Tuần qua chỉ có 7.832,58 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, nâng tổng lưu hành trên kênh cầm cố là 90.318,28 tỷ đồng.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước khởi động lại kênh tín phiếu trở lại sau gần 4 tháng tạm dừng. Việc mở lại kênh phát hành tín phiếu cho thấy định hướng hút bớt thanh khoản hệ thống ngân hàng của Nhà điều hành, trong bối cảnh tỷ giá USD/VND đang ở mức cao kỷ lục. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng gần 22.500 tỷ đồng trong 3 phiên 24 - 26/6 thông qua kênh tín phiếu.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước vẫn bơm ròng 39.858,35 tỷ đồng từ thị trường trong tuần qua kênh thị trường mở./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 09/05/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/05/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80