Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/6 ghi nhận diễn biến đáng chú ý khi tỷ giá trung tâm tăng 17 đồng lên 25.048 VND/USD, Ngân hàng Nhà nước tái kích hoạt kênh tín phiếu sau 4 tháng tạm ngưng. Đáng chú ý, 6 tháng đầu năm, nhiều ngoại tệ mạnh đồng loạt leo dốc, trong khi USD bán ra tăng 2,8%, EUR tăng vọt tới 15%, bất chấp chỉ số DXY giảm gần 9%.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6: Tỷ giá vọt đỉnh, lãi suất qua đêm xuống đáy hơn 1 năm Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm

Ngày 27/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.048 VND/USD, đánh dấu phiên giảm thứ ba liên tiếp, tiếp tục hạ 5 đồng so với phiên trước đó. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần và sàn tương ứng được xác định là 26.300 VND/USD và 23.796 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo hiện ở mức 23.846 VND/USD chiều mua vào và 26.250 VND/USD chiều bán ra.

Tỷ giá trung tâm tăng 2,9% nửa đầu năm, các ngoại tệ mạnh đồng loạt leo dốc

Tại các ngân hàng thương mại, chốt phiên ngày 27/6, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.880 VND/USD mua vào và 26.270 VND/USD bán ra, giảm 20 đồng hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD cũng ghi nhận mức giảm nhẹ 5 đồng ở cả hai chiều, xuống còn 25.910 - 26.270 VND/USD, cũng giảm mức tương ứng 20 đồng hai chiều.

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Biến động tỷ giá USD/VND 6 tháng đầu năm 2025. Ảnh: T.L.

EUR, GBP, JPY tăng bứt tốc 11 - 15% nửa đầu năm

Tuần qua (23- 27/6), tỷ giá trung tâm tăng 17 đồng dù có 4 phiên giảm, do cú bật mạnh ngày 24/6. Trong khi đó, tỷ giá USD ngân hàng giảm nhẹ 12 đồng, còn tỷ giá tự do tăng 60 đồng, vượt tỷ giá niêm yết, phản ánh tâm lý thận trọng và nhu cầu ngoại tệ cao. Tính chung 6 tháng đầu năm, tỷ giá trung tâm tăng 713 đồng (2,9%), USD bán ra tại Vietcombank tăng 719 đồng (2,8%), trong khi tỷ giá tự do tăng thấp hơn khoảng 620 đồng (2,4%). Trong khi chỉ số DXY giảm gần 9%, các ngoại tệ mạnh như EUR, GBP, JPY đều tăng mạnh 11 - 15% so với VND.

Tính chung tuần qua 23 - 27/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ghi nhận tới 4/5 phiên giảm, nhưng không bù được mức tăng mạnh 30 đồng vào phiên 24/6 lên đỉnh lịch sử 25.058 VND/USD. Tính trong tuần qua, tỷ giá trung tâm vẫn tăng 17 đồng, dù thấp hơn đáng kể so với 56 đồng của tuần trước.

Còn tính từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm tăng 713 đồng, tương ứng tăng 2,9%.

Trái lại, chốt phiên cuối tuần, tỷ giá USD tại Vietcombank niêm yết ở 25.880 - 26.270 VND/USD, giảm 12 đồng hai chiều; BIDV niêm yết ở 25.910 - 26.270 VND/USD, cũng giảm 12 đồng, đồng loạt hạ nhiệt so với hai tuần trước đó.

Như vậy, trong nửa đầu năm, tỷ giá USD bán ra tại Vietcombank tăng 719 đồng, tăng 2,8%; mua vào tăng 659 đồng, tăng 2,6%.

Đáng chú ý, tỷ giá tự do ghi nhận mức tăng 60 đồng trong tuần, lên mức 26.370 - 26.470 VND/USD, cao hơn tỷ giá ngân hàng. Đây là tín hiệu cần theo dõi sát vì chênh lệch giữa tỷ giá tự do và tỷ giá niêm yết ngân hàng có thể phản ánh tâm lý găm giữ ngoại tệ trong dân cư, hoặc lo ngại về biến động tỷ giá trong ngắn hạn. Tựu trung, tính trong 6 tháng đầu năm, tỷ giá "chợ đen" có mức tăng thấp hơn thị trường chính thức, chỉ tăng 620 đồng, tương ứng tăng 2,4%.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, tiếp đà giảm 1,5% tuần qua, xuống còn 97,27 điểm. Trong nửa đầu năm, chỉ số DXY giảm gần 9%, tương ứng giảm 11,2 điểm bởi tác động của các chính sách thương mại và tài chính của Tổng thống Trump.

Với các ngoại tệ khác, tại Vietcombank, một trong những nhà băng kinh doanh ngoại hối lớn nhất hệ thống, tỷ giá EUR tăng vọt, lên mức 29.764,27 - 31.364,40 VND/EUR, tăng 3.912 đồng chiều mua và 4.073 đồng chiều bán, tương ứng tăng khoảng 15% hai chiều.

Tỷ giá GBP cũng tăng mạnh, lên mức 34.940 - 35.293 VND/GBP, tăng 3.789 đồng chiều mua và 3.923 đồng chiều bán, tương ứng tăng 11,2%. Còn tỷ giá JPY lên mức 174,42 - 185,5 VND/JPY, tức tăng 17,56 đồng chiều mua và 19,38 đồng chiều bán, tức tăng khoảng 11%.

Tái khởi động kênh tín phiếu, lãi suất liên ngân hàng hết “nguội lạnh”

Chứng khoán Vietcombank (VCBS) nhận định rằng, tỷ giá USD trong nước đang có xu hướng tăng, dù chỉ số DXY trên thị trường quốc tế lại điều chỉnh giảm. Diễn biến này cho thấy áp lực lên tỷ giá không xuất phát từ yếu tố bên ngoài, mà chủ yếu bắt nguồn từ diễn biến nội tại của thị trường.

VCBS cũng đánh giá, tâm lý đầu cơ USD vẫn ở mức cao, cả ở nhóm nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức. Điều này phản ánh sự thận trọng trong bối cảnh thị trường chưa có thông tin chính thức về kết quả đàm phán thuế quan giữa Việt Nam và Mỹ.

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Các ngoại tệ mạnh như EUR, GBP, JPY đều tăng mạnh 11 - 15% so với VND. Ảnh: T.L.

Lãi suất qua đêm lên 4,37%, thị trường liên ngân hàng đảo chiều tăng nhiệt

Diễn biến đáng chú ý trên thị trường liên ngân hàng tuần qua 23 - 27/06 cho thấy, lãi suất bật tăng mạnh sau khi giảm sâu xuống đáy hơn 1 năm ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, ngày 26/6, lãi suất qua đêm tăng mạnh 2,54%, lên 4,37%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng mạnh 2,17% lên 4,47%; 2 tuần là 4,47%, tăng 0,6%. Lãi suất 1 tháng cũng tăng lên 4,5%, tức tăng 1,05%; 3 tháng lên 4,97%, tăng 0,46%.

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, để ổn định tỷ giá USD/VND, Ngân hàng Nhà nước nên kết hợp nhiều biện pháp.

Một là, sử dụng dự trữ ngoại hối can thiệp khi thị trường biến động mạnh như năm 2022 Ngân hàng Nhà nước đã bán ngoại tệ can thiệp và thành công giữ mức mất giá VND 8-9%, thấp hơn nhiều nước trong khu vực.

Hai là, duy trì chênh lệch lãi suất VND-USD đủ hấp dẫn. Ví dụ khi Fed tăng mạnh, lãi suất tiền đồng liên ngân hàng cũng cần tăng tương ứng để tránh arbitrage (kinh doanh chênh lệch giá). Điều này Ngân hàng Nhà nước đã làm qua kênh OMO và tín phiếu cuối 2022, đẩy lãi suất VND lên, thu hút VND.

Ba là, điều hành tỷ giá linh hoạt theo thị trường có kiểm soát biên độ, cho phép VND mất giá từ từ thay vì neo cứng, tránh cạn kiệt dự trữ.

Bốn là, kiểm soát dòng vốn ra vào. Trong giai đoạn biến động, có thể áp dụng các biện pháp như hạn chế vay ngoại tệ ngắn hạn, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi ngoại tệ có kỳ hạn, tăng cường thu hút FDI chất lượng (dòng vốn ổn định) và hạn chế dòng vốn nóng đầu cơ. Việt Nam vẫn quản lý tài khoản vốn nhất định, đây là lợi thế để phòng vệ trước biến động nhanh.

Ngoài ra, cần khuyến khích doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ giá (hedging) thông qua phái sinh, giảm áp lực lên thị trường giao ngay.

Trong bối cảnh diễn biến tỷ giá biến động mạnh, trên thị trường mở tuần qua từ 23 - 27/06, sau 1 tuần "im ắng", ở kênh cầm cố, có tới 70.190,93 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7, 14 và 91 ngày, lãi suất 4%. Trong đó, phiên ngày 27/06, có tới 40.365,04 tỷ đồng trúng thầu, cao nhất trong nhiều tháng qua. Tuần qua chỉ có 7.832,58 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, nâng tổng lưu hành trên kênh cầm cố là 90.318,28 tỷ đồng.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước khởi động lại kênh tín phiếu trở lại sau gần 4 tháng tạm dừng. Việc mở lại kênh phát hành tín phiếu cho thấy định hướng hút bớt thanh khoản hệ thống ngân hàng của Nhà điều hành, trong bối cảnh tỷ giá USD/VND đang ở mức cao kỷ lục. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng gần 22.500 tỷ đồng trong 3 phiên 24 - 26/6 thông qua kênh tín phiếu.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước vẫn bơm ròng 39.858,35 tỷ đồng từ thị trường trong tuần qua kênh thị trường mở./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 7/11: Giá vàng thế giới giảm, trong nước mất tới 2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 7/11: Giá vàng thế giới giảm, trong nước mất tới 2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 16 USD/ounce, còn 4.072 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,5 đến 2 triệu đồng/lượng.
SHB hợp tác cùng Bệnh viện Bạch Mai, kết nối nguồn lực tài chính và y tế

SHB hợp tác cùng Bệnh viện Bạch Mai, kết nối nguồn lực tài chính và y tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) và Bệnh viện Bạch Mai ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, hướng tới ứng dụng các giải pháp tài chính và công nghệ vào quản trị bệnh viện, thanh toán viện phí, nâng cao trải nghiệm người bệnh, đồng thời phối hợp triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Phát huy vai trò bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới trong bảo đảm an toàn giao thông

Phát huy vai trò bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới trong bảo đảm an toàn giao thông

(TBTCO) - Đơn giản hóa thủ tục bồi thường, tăng cường liên thông dữ liệu và đổi mới truyền thông..., là những giải pháp được đề xuất tại Hội thảo khoa học cấp Bộ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, tổ chức mới đây tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.
Tỷ giá USD hôm nay 5/11: USD đồng loạt giảm, DXY chạm đáy 5 tuần sau bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay 5/11: USD đồng loạt giảm, DXY chạm đáy 5 tuần sau bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/11, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng, xuống 25.623 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, chỉ số DXY mất 0,25% còn 101,29 điểm, sát mốc 101 điểm. Đồng bạc xanh có lúc chạm đáy 5 tuần sau chiến thắng bất ngờ của đảng Dân chủ trong bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ, trong khi giá dầu WTI lùi sát 87 USD/thùng.
Đề xuất cắt giảm 5 điều kiện kinh doanh với doanh nghiệp môi giới, chậm trả tiền bảo hiểm sẽ bị phạt

Đề xuất cắt giảm 5 điều kiện kinh doanh với doanh nghiệp môi giới, chậm trả tiền bảo hiểm sẽ bị phạt

Bộ Tài chính đề xuất bãi bỏ một số quy định xử phạt không còn phù hợp; bổ sung chế tài đối với nhiều hành vi như: chậm trả tiền bảo hiểm, vi phạm thời hạn bồi thường, cung cấp bảo hiểm trực tuyến... Đồng thời, dự kiến cắt giảm, đơn giản hóa 5 điều kiện kinh doanh và một thủ tục hành chính với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 5/11: Vàng thế giới vượt 4.000 USD, trong nước tăng mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 5/11: Vàng thế giới vượt 4.000 USD, trong nước tăng mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 130 USD/ounce, vượt mốc 4.000 USD, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi lên.
Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

(TBTCO) - Sau cuộc đua lãi suất, tiền gửi tại 28 ngân hàng niêm yết tăng tốc qua từng quý, đạt hơn 14,38 triệu tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 10,56%, dần thu hẹp khoảng cách với tăng trưởng tín dụng. Khi lãi suất huy động buộc phải hạ nhiệt, việc phát hành giấy tờ có giá, đặc biệt chứng chỉ tiền gửi với lãi suất hấp dẫn giúp "giữ chân" dòng tiền.
Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước sắp triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ USD - VND kỳ hạn 182 ngày, quy mô tối đa 2 tỷ USD, có thể cung ứng gần 48.800 tỷ đồng cho hệ thống ngân hàng. Đây là kỳ hạn dài nhất từ trước đến nay của nghiệp vụ này, nhằm bổ sung nguồn vốn VND, hỗ trợ thanh khoản và giảm áp lực lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,300 140,300
Hà Nội - PNJ 136,300 140,300
Đà Nẵng - PNJ 136,300 140,300
Miền Tây - PNJ 136,300 140,300
Tây Nguyên - PNJ 136,300 140,300
Đông Nam Bộ - PNJ 136,300 140,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,800 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,800 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,800 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,650 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,650 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,650 14,050
Trang sức 99.9 13,330 13,930
Trang sức 99.99 13,340 13,940
Vàng 99.9 12,750
Vàng 99.99 12,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 138 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 138 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 1,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 138,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 104,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 95,019
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 85,254
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 81,487
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 58,327
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Cập nhật: 08/11/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17027 17297 17886
CAD 17575 17848 18467
CHF 30535 30911 31550
CNY 0 3789 3885
EUR 27881 28096 29178
GBP 33351 33739 34676
HKD 0 3132 3335
JPY 154 158 165
KRW 0 18 20
NZD 0 13876 14463
SGD 19398 19678 20258
THB 678 741 794
USD (1,2) 25323 0 0
USD (5,10,20) 25359 0 0
USD (50,100) 25387 25400 25770
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,395 25,395 25,775
USD(1-2-5) 24,380 - -
USD(10-20) 24,380 - -
EUR 28,083 28,105 29,445
JPY 157.64 157.92 167.53
GBP 33,746 33,837 35,010
AUD 17,327 17,390 18,054
CAD 17,881 17,938 18,605
CHF 30,914 31,010 31,939
SGD 19,568 19,629 20,406
CNY - 3,762 3,907
HKD 3,198 3,208 3,344
KRW 17.35 18.09 19.69
THB 728.06 737.05 789.6
NZD 13,928 14,057 14,475
SEK - 2,556 2,648
DKK - 3,767 3,901
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,889.42 - 6,649.1
TWD 700.88 - 849.32
SAR - 6,698.34 7,058.04
KWD - 80,861 86,063
AED - 6,713 7,235
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,370 25,400 25,780
EUR 28,050 28,191 29,414
GBP 33,715 33,884 34,916
HKD 3,192 3,211 3,329
CHF 30,744 30,898 31,843
JPY 157.26 158.85 166.81
AUD 17,268 17,390 17,982
SGD 19,541 19,718 20,312
THB 732 747 785
CAD 17,838 17,964 18,556
NZD 13,987 14,538
KRW 18.20 20.18
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25400 25400 25760
AUD 17229 17329 18259
CAD 17828 17928 18945
CHF 30857 30887 32469
CNY 3774.9 3799.9 3935
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28138 28168 29893
GBP 33747 33797 35554
HKD 0 3300 0
JPY 158.07 158.57 169.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 13981 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19587 19717 20439
THB 0 707.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,270 25,390 25,750
USD20 25,240 25,390 25,750
USD1 24,335 25,390 26,895
AUD 17,120 17,318 18,510
EUR 27,850 28,003 29,703
CAD 17,705 17,855 19,186
SGD 19,600 19,800 20,384
JPY 157.95 159.95 165.75
GBP 33,565 33,765 34,889
XAU 13,798,000 0 14,102,000
CNY 0 3,751 0
THB 0 743 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/11/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30