Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/6 ghi nhận diễn biến đáng chú ý khi tỷ giá trung tâm tăng 17 đồng lên 25.048 VND/USD, Ngân hàng Nhà nước tái kích hoạt kênh tín phiếu sau 4 tháng tạm ngưng. Đáng chú ý, 6 tháng đầu năm, nhiều ngoại tệ mạnh đồng loạt leo dốc, trong khi USD bán ra tăng 2,8%, EUR tăng vọt tới 15%, bất chấp chỉ số DXY giảm gần 9%.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6: Tỷ giá vọt đỉnh, lãi suất qua đêm xuống đáy hơn 1 năm Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm

Ngày 27/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.048 VND/USD, đánh dấu phiên giảm thứ ba liên tiếp, tiếp tục hạ 5 đồng so với phiên trước đó. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần và sàn tương ứng được xác định là 26.300 VND/USD và 23.796 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo hiện ở mức 23.846 VND/USD chiều mua vào và 26.250 VND/USD chiều bán ra.

Tỷ giá trung tâm tăng 2,9% nửa đầu năm, các ngoại tệ mạnh đồng loạt leo dốc

Tại các ngân hàng thương mại, chốt phiên ngày 27/6, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.880 VND/USD mua vào và 26.270 VND/USD bán ra, giảm 20 đồng hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD cũng ghi nhận mức giảm nhẹ 5 đồng ở cả hai chiều, xuống còn 25.910 - 26.270 VND/USD, cũng giảm mức tương ứng 20 đồng hai chiều.

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Biến động tỷ giá USD/VND 6 tháng đầu năm 2025. Ảnh: T.L.

EUR, GBP, JPY tăng bứt tốc 11 - 15% nửa đầu năm

Tuần qua (23- 27/6), tỷ giá trung tâm tăng 17 đồng dù có 4 phiên giảm, do cú bật mạnh ngày 24/6. Trong khi đó, tỷ giá USD ngân hàng giảm nhẹ 12 đồng, còn tỷ giá tự do tăng 60 đồng, vượt tỷ giá niêm yết, phản ánh tâm lý thận trọng và nhu cầu ngoại tệ cao. Tính chung 6 tháng đầu năm, tỷ giá trung tâm tăng 713 đồng (2,9%), USD bán ra tại Vietcombank tăng 719 đồng (2,8%), trong khi tỷ giá tự do tăng thấp hơn khoảng 620 đồng (2,4%). Trong khi chỉ số DXY giảm gần 9%, các ngoại tệ mạnh như EUR, GBP, JPY đều tăng mạnh 11 - 15% so với VND.

Tính chung tuần qua 23 - 27/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ghi nhận tới 4/5 phiên giảm, nhưng không bù được mức tăng mạnh 30 đồng vào phiên 24/6 lên đỉnh lịch sử 25.058 VND/USD. Tính trong tuần qua, tỷ giá trung tâm vẫn tăng 17 đồng, dù thấp hơn đáng kể so với 56 đồng của tuần trước.

Còn tính từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm tăng 713 đồng, tương ứng tăng 2,9%.

Trái lại, chốt phiên cuối tuần, tỷ giá USD tại Vietcombank niêm yết ở 25.880 - 26.270 VND/USD, giảm 12 đồng hai chiều; BIDV niêm yết ở 25.910 - 26.270 VND/USD, cũng giảm 12 đồng, đồng loạt hạ nhiệt so với hai tuần trước đó.

Như vậy, trong nửa đầu năm, tỷ giá USD bán ra tại Vietcombank tăng 719 đồng, tăng 2,8%; mua vào tăng 659 đồng, tăng 2,6%.

Đáng chú ý, tỷ giá tự do ghi nhận mức tăng 60 đồng trong tuần, lên mức 26.370 - 26.470 VND/USD, cao hơn tỷ giá ngân hàng. Đây là tín hiệu cần theo dõi sát vì chênh lệch giữa tỷ giá tự do và tỷ giá niêm yết ngân hàng có thể phản ánh tâm lý găm giữ ngoại tệ trong dân cư, hoặc lo ngại về biến động tỷ giá trong ngắn hạn. Tựu trung, tính trong 6 tháng đầu năm, tỷ giá "chợ đen" có mức tăng thấp hơn thị trường chính thức, chỉ tăng 620 đồng, tương ứng tăng 2,4%.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, tiếp đà giảm 1,5% tuần qua, xuống còn 97,27 điểm. Trong nửa đầu năm, chỉ số DXY giảm gần 9%, tương ứng giảm 11,2 điểm bởi tác động của các chính sách thương mại và tài chính của Tổng thống Trump.

Với các ngoại tệ khác, tại Vietcombank, một trong những nhà băng kinh doanh ngoại hối lớn nhất hệ thống, tỷ giá EUR tăng vọt, lên mức 29.764,27 - 31.364,40 VND/EUR, tăng 3.912 đồng chiều mua và 4.073 đồng chiều bán, tương ứng tăng khoảng 15% hai chiều.

Tỷ giá GBP cũng tăng mạnh, lên mức 34.940 - 35.293 VND/GBP, tăng 3.789 đồng chiều mua và 3.923 đồng chiều bán, tương ứng tăng 11,2%. Còn tỷ giá JPY lên mức 174,42 - 185,5 VND/JPY, tức tăng 17,56 đồng chiều mua và 19,38 đồng chiều bán, tức tăng khoảng 11%.

Tái khởi động kênh tín phiếu, lãi suất liên ngân hàng hết “nguội lạnh”

Chứng khoán Vietcombank (VCBS) nhận định rằng, tỷ giá USD trong nước đang có xu hướng tăng, dù chỉ số DXY trên thị trường quốc tế lại điều chỉnh giảm. Diễn biến này cho thấy áp lực lên tỷ giá không xuất phát từ yếu tố bên ngoài, mà chủ yếu bắt nguồn từ diễn biến nội tại của thị trường.

VCBS cũng đánh giá, tâm lý đầu cơ USD vẫn ở mức cao, cả ở nhóm nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức. Điều này phản ánh sự thận trọng trong bối cảnh thị trường chưa có thông tin chính thức về kết quả đàm phán thuế quan giữa Việt Nam và Mỹ.

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Các ngoại tệ mạnh như EUR, GBP, JPY đều tăng mạnh 11 - 15% so với VND. Ảnh: T.L.

Lãi suất qua đêm lên 4,37%, thị trường liên ngân hàng đảo chiều tăng nhiệt

Diễn biến đáng chú ý trên thị trường liên ngân hàng tuần qua 23 - 27/06 cho thấy, lãi suất bật tăng mạnh sau khi giảm sâu xuống đáy hơn 1 năm ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, ngày 26/6, lãi suất qua đêm tăng mạnh 2,54%, lên 4,37%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng mạnh 2,17% lên 4,47%; 2 tuần là 4,47%, tăng 0,6%. Lãi suất 1 tháng cũng tăng lên 4,5%, tức tăng 1,05%; 3 tháng lên 4,97%, tăng 0,46%.

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, để ổn định tỷ giá USD/VND, Ngân hàng Nhà nước nên kết hợp nhiều biện pháp.

Một là, sử dụng dự trữ ngoại hối can thiệp khi thị trường biến động mạnh như năm 2022 Ngân hàng Nhà nước đã bán ngoại tệ can thiệp và thành công giữ mức mất giá VND 8-9%, thấp hơn nhiều nước trong khu vực.

Hai là, duy trì chênh lệch lãi suất VND-USD đủ hấp dẫn. Ví dụ khi Fed tăng mạnh, lãi suất tiền đồng liên ngân hàng cũng cần tăng tương ứng để tránh arbitrage (kinh doanh chênh lệch giá). Điều này Ngân hàng Nhà nước đã làm qua kênh OMO và tín phiếu cuối 2022, đẩy lãi suất VND lên, thu hút VND.

Ba là, điều hành tỷ giá linh hoạt theo thị trường có kiểm soát biên độ, cho phép VND mất giá từ từ thay vì neo cứng, tránh cạn kiệt dự trữ.

Bốn là, kiểm soát dòng vốn ra vào. Trong giai đoạn biến động, có thể áp dụng các biện pháp như hạn chế vay ngoại tệ ngắn hạn, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi ngoại tệ có kỳ hạn, tăng cường thu hút FDI chất lượng (dòng vốn ổn định) và hạn chế dòng vốn nóng đầu cơ. Việt Nam vẫn quản lý tài khoản vốn nhất định, đây là lợi thế để phòng vệ trước biến động nhanh.

Ngoài ra, cần khuyến khích doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ giá (hedging) thông qua phái sinh, giảm áp lực lên thị trường giao ngay.

Trong bối cảnh diễn biến tỷ giá biến động mạnh, trên thị trường mở tuần qua từ 23 - 27/06, sau 1 tuần "im ắng", ở kênh cầm cố, có tới 70.190,93 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7, 14 và 91 ngày, lãi suất 4%. Trong đó, phiên ngày 27/06, có tới 40.365,04 tỷ đồng trúng thầu, cao nhất trong nhiều tháng qua. Tuần qua chỉ có 7.832,58 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, nâng tổng lưu hành trên kênh cầm cố là 90.318,28 tỷ đồng.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước khởi động lại kênh tín phiếu trở lại sau gần 4 tháng tạm dừng. Việc mở lại kênh phát hành tín phiếu cho thấy định hướng hút bớt thanh khoản hệ thống ngân hàng của Nhà điều hành, trong bối cảnh tỷ giá USD/VND đang ở mức cao kỷ lục. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng gần 22.500 tỷ đồng trong 3 phiên 24 - 26/6 thông qua kênh tín phiếu.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước vẫn bơm ròng 39.858,35 tỷ đồng từ thị trường trong tuần qua kênh thị trường mở./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

(TBTCO) - Khoảng 2 triệu người tại Việt Nam đang có việc làm thông qua các nền tảng số, nhưng chỉ khoảng 1/5 lao động được khảo sát tham gia bảo hiểm xã hội. Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách theo hướng linh hoạt, phù hợp hơn với đặc điểm việc làm và thu nhập của lao động nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Ngày 21/9/2026, VietinBank và Finviet đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược (MOU - Memorandum of Understanding) nhằm xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh tại Việt Nam.
VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 ▲60K 14,510 ▲60K
Trang sức 99.99 13,920 ▲60K 14,520 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲6K 14,552 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲6K 14,553 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1272K 145 ▼1299K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1272K 1,451 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cập nhật: 23/09/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17922 18196 18772
CAD 17922 18197 18814
CHF 30980 31358 31999
CNY 0 3833 3929
EUR 29078 29298 30375
GBP 33815 34204 35135
HKD 0 3182 3384
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14511 15098
SGD 19824 20106 20682
THB 698 761 814
USD (1,2) 25724 0 0
USD (5,10,20) 25763 0 0
USD (50,100) 25791 25805 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,168 29,191 30,576
JPY 160.55 160.84 170.56
GBP 34,045 34,137 35,320
AUD 18,142 18,208 18,899
CAD 18,133 18,191 18,864
CHF 31,283 31,380 32,315
SGD 19,970 20,032 20,820
CNY - 3,807 3,952
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.73 18.49 20.11
THB 747.44 756.67 809.94
NZD 14,523 14,658 15,092
SEK - 2,595 2,688
DKK - 3,912 4,050
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,972.65 - 6,741.38
TWD 741.22 - 898.01
SAR - 6,810 7,173.33
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,226 29,343 30,542
GBP 34,081 34,218 35,242
HKD 3,249 3,262 3,380
CHF 31,163 31,288 32,234
JPY 161.15 161.80 169.78
AUD 18,171 18,244 18,837
SGD 20,049 20,130 20,721
THB 765 768 806
CAD 18,162 18,235 18,824
NZD 14,629 15,171
KRW 18.41 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 18107 18207 19132
CAD 18105 18205 19216
CHF 31227 31257 32839
CNY 3815.9 3840.9 3976.1
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29259 29289 31015
GBP 34111 34161 35929
HKD 0 3315 0
JPY 161.38 161.88 172.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14621 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19988 20118 20842
THB 0 727.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,716 25,836 26,210
USD20 25,686 25,836 26,210
USD1 25,666 25,836 26,210
AUD 18,188 18,288 19,397
EUR 29,098 29,198 30,864
CAD 18,074 18,174 19,487
SGD 20,082 20,232 20,801
JPY 161.98 163.48 169.08
GBP 34,058 34,208 35,281
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/09/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30