Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/6 ghi nhận diễn biến đáng chú ý khi tỷ giá trung tâm tăng 17 đồng lên 25.048 VND/USD, Ngân hàng Nhà nước tái kích hoạt kênh tín phiếu sau 4 tháng tạm ngưng. Đáng chú ý, 6 tháng đầu năm, nhiều ngoại tệ mạnh đồng loạt leo dốc, trong khi USD bán ra tăng 2,8%, EUR tăng vọt tới 15%, bất chấp chỉ số DXY giảm gần 9%.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6: Tỷ giá vọt đỉnh, lãi suất qua đêm xuống đáy hơn 1 năm Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm

Ngày 27/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.048 VND/USD, đánh dấu phiên giảm thứ ba liên tiếp, tiếp tục hạ 5 đồng so với phiên trước đó. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần và sàn tương ứng được xác định là 26.300 VND/USD và 23.796 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo hiện ở mức 23.846 VND/USD chiều mua vào và 26.250 VND/USD chiều bán ra.

Tỷ giá trung tâm tăng 2,9% nửa đầu năm, các ngoại tệ mạnh đồng loạt leo dốc

Tại các ngân hàng thương mại, chốt phiên ngày 27/6, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.880 VND/USD mua vào và 26.270 VND/USD bán ra, giảm 20 đồng hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD cũng ghi nhận mức giảm nhẹ 5 đồng ở cả hai chiều, xuống còn 25.910 - 26.270 VND/USD, cũng giảm mức tương ứng 20 đồng hai chiều.

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Biến động tỷ giá USD/VND 6 tháng đầu năm 2025. Ảnh: T.L.

EUR, GBP, JPY tăng bứt tốc 11 - 15% nửa đầu năm

Tuần qua (23- 27/6), tỷ giá trung tâm tăng 17 đồng dù có 4 phiên giảm, do cú bật mạnh ngày 24/6. Trong khi đó, tỷ giá USD ngân hàng giảm nhẹ 12 đồng, còn tỷ giá tự do tăng 60 đồng, vượt tỷ giá niêm yết, phản ánh tâm lý thận trọng và nhu cầu ngoại tệ cao. Tính chung 6 tháng đầu năm, tỷ giá trung tâm tăng 713 đồng (2,9%), USD bán ra tại Vietcombank tăng 719 đồng (2,8%), trong khi tỷ giá tự do tăng thấp hơn khoảng 620 đồng (2,4%). Trong khi chỉ số DXY giảm gần 9%, các ngoại tệ mạnh như EUR, GBP, JPY đều tăng mạnh 11 - 15% so với VND.

Tính chung tuần qua 23 - 27/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ghi nhận tới 4/5 phiên giảm, nhưng không bù được mức tăng mạnh 30 đồng vào phiên 24/6 lên đỉnh lịch sử 25.058 VND/USD. Tính trong tuần qua, tỷ giá trung tâm vẫn tăng 17 đồng, dù thấp hơn đáng kể so với 56 đồng của tuần trước.

Còn tính từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm tăng 713 đồng, tương ứng tăng 2,9%.

Trái lại, chốt phiên cuối tuần, tỷ giá USD tại Vietcombank niêm yết ở 25.880 - 26.270 VND/USD, giảm 12 đồng hai chiều; BIDV niêm yết ở 25.910 - 26.270 VND/USD, cũng giảm 12 đồng, đồng loạt hạ nhiệt so với hai tuần trước đó.

Như vậy, trong nửa đầu năm, tỷ giá USD bán ra tại Vietcombank tăng 719 đồng, tăng 2,8%; mua vào tăng 659 đồng, tăng 2,6%.

Đáng chú ý, tỷ giá tự do ghi nhận mức tăng 60 đồng trong tuần, lên mức 26.370 - 26.470 VND/USD, cao hơn tỷ giá ngân hàng. Đây là tín hiệu cần theo dõi sát vì chênh lệch giữa tỷ giá tự do và tỷ giá niêm yết ngân hàng có thể phản ánh tâm lý găm giữ ngoại tệ trong dân cư, hoặc lo ngại về biến động tỷ giá trong ngắn hạn. Tựu trung, tính trong 6 tháng đầu năm, tỷ giá "chợ đen" có mức tăng thấp hơn thị trường chính thức, chỉ tăng 620 đồng, tương ứng tăng 2,4%.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, tiếp đà giảm 1,5% tuần qua, xuống còn 97,27 điểm. Trong nửa đầu năm, chỉ số DXY giảm gần 9%, tương ứng giảm 11,2 điểm bởi tác động của các chính sách thương mại và tài chính của Tổng thống Trump.

Với các ngoại tệ khác, tại Vietcombank, một trong những nhà băng kinh doanh ngoại hối lớn nhất hệ thống, tỷ giá EUR tăng vọt, lên mức 29.764,27 - 31.364,40 VND/EUR, tăng 3.912 đồng chiều mua và 4.073 đồng chiều bán, tương ứng tăng khoảng 15% hai chiều.

Tỷ giá GBP cũng tăng mạnh, lên mức 34.940 - 35.293 VND/GBP, tăng 3.789 đồng chiều mua và 3.923 đồng chiều bán, tương ứng tăng 11,2%. Còn tỷ giá JPY lên mức 174,42 - 185,5 VND/JPY, tức tăng 17,56 đồng chiều mua và 19,38 đồng chiều bán, tức tăng khoảng 11%.

Tái khởi động kênh tín phiếu, lãi suất liên ngân hàng hết “nguội lạnh”

Chứng khoán Vietcombank (VCBS) nhận định rằng, tỷ giá USD trong nước đang có xu hướng tăng, dù chỉ số DXY trên thị trường quốc tế lại điều chỉnh giảm. Diễn biến này cho thấy áp lực lên tỷ giá không xuất phát từ yếu tố bên ngoài, mà chủ yếu bắt nguồn từ diễn biến nội tại của thị trường.

VCBS cũng đánh giá, tâm lý đầu cơ USD vẫn ở mức cao, cả ở nhóm nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức. Điều này phản ánh sự thận trọng trong bối cảnh thị trường chưa có thông tin chính thức về kết quả đàm phán thuế quan giữa Việt Nam và Mỹ.

Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Các ngoại tệ mạnh như EUR, GBP, JPY đều tăng mạnh 11 - 15% so với VND. Ảnh: T.L.

Lãi suất qua đêm lên 4,37%, thị trường liên ngân hàng đảo chiều tăng nhiệt

Diễn biến đáng chú ý trên thị trường liên ngân hàng tuần qua 23 - 27/06 cho thấy, lãi suất bật tăng mạnh sau khi giảm sâu xuống đáy hơn 1 năm ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, ngày 26/6, lãi suất qua đêm tăng mạnh 2,54%, lên 4,37%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng mạnh 2,17% lên 4,47%; 2 tuần là 4,47%, tăng 0,6%. Lãi suất 1 tháng cũng tăng lên 4,5%, tức tăng 1,05%; 3 tháng lên 4,97%, tăng 0,46%.

Theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, để ổn định tỷ giá USD/VND, Ngân hàng Nhà nước nên kết hợp nhiều biện pháp.

Một là, sử dụng dự trữ ngoại hối can thiệp khi thị trường biến động mạnh như năm 2022 Ngân hàng Nhà nước đã bán ngoại tệ can thiệp và thành công giữ mức mất giá VND 8-9%, thấp hơn nhiều nước trong khu vực.

Hai là, duy trì chênh lệch lãi suất VND-USD đủ hấp dẫn. Ví dụ khi Fed tăng mạnh, lãi suất tiền đồng liên ngân hàng cũng cần tăng tương ứng để tránh arbitrage (kinh doanh chênh lệch giá). Điều này Ngân hàng Nhà nước đã làm qua kênh OMO và tín phiếu cuối 2022, đẩy lãi suất VND lên, thu hút VND.

Ba là, điều hành tỷ giá linh hoạt theo thị trường có kiểm soát biên độ, cho phép VND mất giá từ từ thay vì neo cứng, tránh cạn kiệt dự trữ.

Bốn là, kiểm soát dòng vốn ra vào. Trong giai đoạn biến động, có thể áp dụng các biện pháp như hạn chế vay ngoại tệ ngắn hạn, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi ngoại tệ có kỳ hạn, tăng cường thu hút FDI chất lượng (dòng vốn ổn định) và hạn chế dòng vốn nóng đầu cơ. Việt Nam vẫn quản lý tài khoản vốn nhất định, đây là lợi thế để phòng vệ trước biến động nhanh.

Ngoài ra, cần khuyến khích doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ giá (hedging) thông qua phái sinh, giảm áp lực lên thị trường giao ngay.

Trong bối cảnh diễn biến tỷ giá biến động mạnh, trên thị trường mở tuần qua từ 23 - 27/06, sau 1 tuần "im ắng", ở kênh cầm cố, có tới 70.190,93 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7, 14 và 91 ngày, lãi suất 4%. Trong đó, phiên ngày 27/06, có tới 40.365,04 tỷ đồng trúng thầu, cao nhất trong nhiều tháng qua. Tuần qua chỉ có 7.832,58 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, nâng tổng lưu hành trên kênh cầm cố là 90.318,28 tỷ đồng.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước khởi động lại kênh tín phiếu trở lại sau gần 4 tháng tạm dừng. Việc mở lại kênh phát hành tín phiếu cho thấy định hướng hút bớt thanh khoản hệ thống ngân hàng của Nhà điều hành, trong bối cảnh tỷ giá USD/VND đang ở mức cao kỷ lục. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng gần 22.500 tỷ đồng trong 3 phiên 24 - 26/6 thông qua kênh tín phiếu.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước vẫn bơm ròng 39.858,35 tỷ đồng từ thị trường trong tuần qua kênh thị trường mở./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Eximbank tiếp tục hoàn thiện cơ cấu quản trị theo Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030

Eximbank tiếp tục hoàn thiện cơ cấu quản trị theo Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông của Eximbank, phiên họp bất thường ngày 14/10/2026 đã thông qua việc bầu bổ sung thành viên Hội đồng Quản trị, tiếp tục triển khai lộ trình hoàn thiện Khung quản trị doanh nghiệp của Ngân hàng và điều chỉnh quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài.
Hợp tác chiến lược bảo hiểm PVI – SAVICO: Nâng tầm trải nghiệm khách hàng, cộng hưởng sức mạnh kinh doanh

Hợp tác chiến lược bảo hiểm PVI – SAVICO: Nâng tầm trải nghiệm khách hàng, cộng hưởng sức mạnh kinh doanh

(TBTCO) - Tổng công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) và Công ty Cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Sài Gòn (SAVICO) vừa chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược. Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong việc kết nối chuyên sâu giữa giải pháp bảo hiểm tài chính với hệ thống phân phối và dịch vụ sửa chữa ô tô quy mô hàng đầu Việt Nam, mang đến giá trị toàn diện cho cả người dùng ô tô lẫn hệ thống showroom, đại lý và gara.
Từ tích lũy đến quản trị tài sản: Cần đa dạng hóa danh mục đầu tư

Từ tích lũy đến quản trị tài sản: Cần đa dạng hóa danh mục đầu tư

(TBTCO) - Khi quy mô tài sản gia tăng, câu hỏi của nhà đầu tư không còn đơn thuần là “đầu tư vào đâu để có lợi suất cao”, mà chuyển dần sang bài toán lớn hơn: làm thế nào phân bổ tài sản hợp lý, cân bằng giữa kỳ vọng tăng trưởng, dòng tiền và khả năng chấp nhận rủi ro. Trong chiến lược đó, trái phiếu là một trong những lựa chọn có thể được cân nhắc để đa dạng hóa danh mục.
Eximbank được Citibank trao giải STP Award 2025, ghi nhận chất lượng thanh toán quốc tế

Eximbank được Citibank trao giải STP Award 2025, ghi nhận chất lượng thanh toán quốc tế

(TBTCO) - Ngày 13/10/2026, tại TP. Hồ Chí Minh, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) được Citibank trao giải thưởng STP Award 2025 (USD Payments Straight Through Processing Excellence Award), ghi nhận chất lượng xử lý thanh toán quốc tế bằng đồng USD trong năm 2025, với tỷ lệ xử lý tự động xuyên suốt đạt hơn 99,43%.
HDBank dành 2.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, lãi suất chỉ từ 7,8%/năm đến hết quý I/2027

HDBank dành 2.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, lãi suất chỉ từ 7,8%/năm đến hết quý I/2027

(TBTCO) - HDBank triển khai chương trình “Tiếp sức vốn vay - Nâng tầm doanh nghiệp do Phụ nữ làm chủ” với hạn mức 2.000 tỷ đồng, lãi suất từ 7,8%/năm, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh.
Thị trường carbon tạo nguồn thu tỷ USD, doanh nghiệp có thêm lợi thế vay vốn ngân hàng

Thị trường carbon tạo nguồn thu tỷ USD, doanh nghiệp có thêm lợi thế vay vốn ngân hàng

Thống kê từ WB cho thấy, các công cụ định giá carbon tạo nguồn thu hơn 107 tỷ USD toàn cầu năm qua. Không chỉ thúc đẩy giảm phát thải, doanh thu từ tín chỉ carbon còn có thể bổ sung nguồn trả nợ cho ngân hàng, song để hiện thực hóa tiềm năng này, cần hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế định giá và thúc đẩy thương mại hóa tín chỉ carbon.
Xây dựng dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm trong kinh doanh xổ số, bổ sung hành vi rửa tiền

Xây dựng dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm trong kinh doanh xổ số, bổ sung hành vi rửa tiền

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong kinh doanh xổ số, với mức phạt tối đa 200 triệu đồng đối với tổ chức, 100 triệu đồng đối với cá nhân. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định xử phạt các hành vi vi phạm về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Doanh nghiệp không ngại chuyển đổi xanh, thị trường carbon mở thêm động lực

Doanh nghiệp không ngại chuyển đổi xanh, thị trường carbon mở thêm động lực

(TBTCO) - Theo ADB, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đầu tư bổ sung cho ứng phó biến đổi khí hậu và giảm phát thải đến năm 2040. Dù nhu cầu vốn lớn, còn nhiều rào cản, doanh nghiệp vẫn sẵn sàng đầu tư công nghệ xanh. Để khơi thông nguồn lực, cần đa dạng kênh huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng, trong đó có phát triển thị trường carbon.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,800 142,800
Hà Nội - PNJ 139,800 142,800
Đà Nẵng - PNJ 139,800 142,800
Miền Tây - PNJ 139,800 142,800
Tây Nguyên - PNJ 139,800 142,800
Đông Nam Bộ - PNJ 139,800 142,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,030 14,330
Miếng SJC Nghệ An 14,030 14,330
Miếng SJC Thái Bình 14,030 14,330
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▼30K 14,300 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▼30K 14,300 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▼30K 14,300 ▼30K
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,580 ▼30K 14,180 ▼30K
Trang sức 99.99 13,590 ▼30K 14,190 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,403 14,332
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,403 14,333
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,398 1,428
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,398 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,373 1,418
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,396 140,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,711 106,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,784 96,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,857 86,657
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,028 82,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,487 59,287
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Cập nhật: 15/10/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17474 17747 18319
CAD 17696 17970 18586
CHF 30597 30973 31612
CNY 0 3825 3921
EUR 28430 28647 29720
GBP 33495 33883 34810
HKD 0 3168 3370
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14249 14833
SGD 19652 19934 20500
THB 687 751 803
USD (1,2) 25624 0 0
USD (5,10,20) 25662 0 0
USD (50,100) 25690 25704 26068
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,700 25,700 26,080
USD(1-2-5) 24,672 - -
USD(10-20) 24,672 - -
EUR 28,495 28,518 29,874
JPY 159.73 160.02 169.7
GBP 33,678 33,769 34,950
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,891 17,948 18,613
CHF 30,862 30,958 31,883
SGD 19,776 19,837 20,616
CNY - 3,794 3,940
HKD 3,232 3,242 3,378
KRW 17.7 18.46 20.09
THB 735.92 745.01 797.51
NZD 14,245 14,377 14,812
SEK - 2,555 2,647
DKK - 3,822 3,958
NOK - 2,683 2,778
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,928.04 - 6,691.5
TWD 722.85 - 875.81
SAR - 6,775.54 7,141.94
KWD - 81,752 86,997
AED - 6,794 7,321
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,690 25,720 26,100
EUR 28,452 28,595 29,821
GBP 33,662 33,831 34,862
HKD 3,228 3,247 3,364
CHF 30,687 30,841 31,787
JPY 159.46 161.07 169.05
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,760 19,939 20,532
THB 740 755 793
CAD 17,897 17,987 18,585
NZD 14,293 14,848
KRW 18.53 20.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25710 26080
AUD 17670 17770 18696
CAD 17879 17979 18993
CHF 30769 30799 32380
CNY 3809 3834 3969.2
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28547 28577 30300
GBP 33777 33827 35588
HKD 0 3315 0
JPY 160.59 161.09 171.61
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14317 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19800 19930 20652
THB 0 715.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,594 25,714 26,000
USD20 25,564 25,714 26,000
USD1 24,360 25,714 26,000
AUD 17,702 17,802 18,910
EUR 28,389 28,489 30,153
CAD 17,813 17,913 19,221
SGD 19,890 20,040 20,594
JPY 161.15 162.65 168.17
GBP 33,673 33,823 34,898
XAU 14,028,000 0 14,332,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/10/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30