Top những ngân hàng "bơm" vốn mạnh nhất hệ thống nửa đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tính đến cuối quý II/2025, dư nợ cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết cùng Agribank đạt 14,94 triệu tỷ đồng, bứt tăng 10% so với cuối năm 2024. Trong đó, nhóm “Big 4” nắm hơn 50% thị phần, trong khi khối tư nhân tăng tốc với nhiều gói tín dụng đặc thù cho từng nhóm khách hàng, hưởng ứng các nghị quyết mới.
aa
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Thống kê cho thấy, tính đến cuối quý II/2025, dư nợ cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết cùng Agribank đạt khoảng 14,94 triệu tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2024, tương đương mức tăng hơn 1,36 triệu tỷ đồng. Kết quả này cho thấy tín dụng tiếp tục đóng vai trò động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh lãi suất duy trì ở mức thấp.

Ngân hàng quốc doanh áp đảo dư nợ cho vay

Tính đến cuối quý II/2025, nhóm ngân hàng dẫn đầu về dư nợ cho vay khách hàng tiếp tục là các “ông lớn” quốc doanh. Theo đó, BIDV giữ vị trí đầu bảng với hơn 2,18 triệu tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 14,6% trong tổng dư nợ nhóm các ngân hàng được khảo sát. VietinBank đứng thứ hai với gần 1,9 triệu tỷ đồng, tiếp đến là Agribank đạt 1,85 triệu tỷ đồng và Vietcombank với hơn 1,55 triệu tỷ đồng.

Ngân hàng quốc doanh áp đảo dư nợ cho vay
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

"Big 4" nắm hơn 50% dư nợ cho vay toàn ngành

Nhóm 4 "ông lớn" ngân hàng quốc doanh ghi nhận tổng dư nợ cho vay gần 7,5 triệu tỷ đồng tính đến cuối quý II/2025, chiếm khoảng 50,1% tổng dư nợ của toàn bộ các ngân hàng trong danh sách khảo sát.

Trong nhóm "Big 4" toàn ngành, VietinBank dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng 10,3%, Agribank 10,2%, Vietcombank 7,4% và BIDV 6%.

Sở dĩ các ngân hàng quốc doanh duy trì vị thế dẫn đầu về dư nợ cho vay trong hệ thống, theo ông Lê Hoài Ân - Chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng, thực tế cho thấy, các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn lớn thường có xu hướng lựa chọn vay các ngân hàng quốc doanh. Ngay cả doanh nghiệp FDI khi vào Việt Nam cũng ưu tiên sử dụng ngân hàng bản địa, hoặc lựa chọn vay các ngân hàng quốc doanh của Việt Nam, thay vì các ngân hàng tư nhân, bởi thương hiệu mạnh, quy mô đủ lớn và đều nằm trong nhóm 100 ngân hàng hàng đầu châu Á.

"Cho vay với lãi suất thấp và nhiều lợi thế đặc thù cho phép ngân hàng quốc doanh được “chọn” khách hàng tốt để cho vay" - ông Ân cho biết.

Chưa kể các ngân hàng này áp dụng mức lãi suất cho vay thấp hơn khoảng 1 - 2%/năm so với ngân hàng cổ phần. Đây là lợi thế cạnh tranh lớn, giúp danh mục cho vay của nhóm ngân hàng này duy trì chất lượng cao và ổn định. Điều đó cũng giúp "Big 4" thường duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp hơn so với nhiều ngân hàng khác.

Do đó, biên lãi thuần (NIM) của các ngân hàng quốc doanh thường thấp hơn, song danh mục cho vay lại bền vững. Để cải thiện NIM, theo ông Ân, thay vì cho vay các "món lớn" như trước đây, các ngân hàng chuyển hướng mạnh sang bán lẻ, có nơi tăng tỷ trọng từ trên 20% lên 40%. Trong đó, chuyển động sớm hơn là Vietcombank, còn VietinBank hay BIDV cũng đang cố gắng cải thiện về chất lượng dịch vụ phục vụ cho cá nhân.

Bắt nhịp thị trường, ngân hàng tư nhân tung nhiều gói vay đặc thù

Trong nhóm ngân hàng tư nhân nằm trong top 10 về dư nợ cho vay, MB dẫn đầu với gần 880 nghìn tỷ đồng, tiếp đến là VPBank đạt 829,1 nghìn tỷ đồng. Techcombank tiếp nối trong khối này với 710,3 nghìn tỷ đồng, còn ACB ghi nhận 633,7 nghìn tỷ đồng.

Top những ngân hàng
Top những ngân hàng "bơm" vốn mạnh nhất hệ thống nửa đầu năm. Ảnh minh hoạ.

SHB và Sacombank bám sát nhau với lần lượt 594,6 nghìn tỷ đồng và 588 nghìn tỷ đồng, nhờ SHB tăng 14,4%, vượt Sacombank để lên vị trí thứ 9, còn Sacombank xuống hạng 10. Sự dịch chuyển này cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn của SHB giúp ngân hàng cải thiện vị trí trong bảng xếp hạng, dù phần lớn các ngân hàng tư nhân lớn vẫn giữ nguyên thứ hạng so với cuối năm trước.

Còn so sánh về tốc độ tăng trưởng trong toàn nhóm khảo sát, có 15/28 nhà băng tăng cao hơn mức tăng bình quân 10%. Trong số đó, một số ngân hàng bứt phá mạnh mẽ gồm NCB dẫn đầu với 22%; VPBank là ngân hàng quy mô lớn cũng có tăng trưởng ấn tượng 19,7%; ABBank tăng 16%... Ngược lại, Saigonbank là trường hợp duy nhất giảm dư nợ 7,2%, cho thấy định hướng thu hẹp hoặc tái cơ cấu danh mục cho vay.

Trong khối ngân hàng tư nhân lớn trong top 10 kể trên, các ngân hàng như: VPBank, Techcombank, MB và SHB duy trì tốc độ mạnh tăng hai chữ số, trong đó VPBank tăng trưởng cao nhất lên tới 19,7%, phản ánh chiến lược mở rộng thị phần tín dụng quyết liệt.

Còn lại hai ngân hàng tư nhân lớn là ACB và Sacombank cũng duy trì đà tăng khả quan khoảng 9%.

Đại diện NCB cho biết, so với kế hoạch năm 2025 được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông thường niên cuối tháng 3, dư nợ cho vay khách hàng sau 6 tháng đã đạt 90,4% chỉ tiêu. Ngân hàng tập trung đẩy mạnh giải ngân cho các khách hàng có điểm tín dụng cao, hồ sơ minh bạch, đồng thời ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong quy trình tín dụng, mang đến trải nghiệm nhanh gọn, đơn giản và thuận tiện cho khách hàng.

Còn theo đại diện VPBank, kết quả tăng trưởng tín dụng có sự đóng góp từ cả ngân hàng mẹ và các công ty con. Trong đó, GPBank ghi nhận tín dụng cốt lõi tăng 3%, trong khi FE Credit cũng khởi sắc rõ nét với tổng doanh số giải ngân tăng 19% so với cùng kỳ và tín dụng cốt lõi tăng 5,5%. Cùng với đó, hưởng ứng Nghị quyết 68-NQ/TW về thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, phân khúc chiến lược là khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 20% nhờ triển khai hiệu quả các chương trình cho vay theo từng vùng, ngành nghề và lĩnh vực ưu tiên.

Chung nhịp với xu hướng này, theo đại diện ACB, dư nợ tín dụng ngân hàng tăng 9,1% so với đầu năm, với cơ cấu cân bằng giữa khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau khi Nghị quyết 68-NQ/TW ban hành, ngân hàng tung gói 40.000 tỷ đồng ưu đãi lãi suất, một nửa cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, nửa còn lại cho doanh nghiệp lớn đầu tư hạ tầng và công nghệ. Nhờ đó, giúp tín dụng doanh nghiệp tăng 10,7% quý II.

ACB cũng mở rộng sang 5 triệu hộ kinh doanh và triển khai gói “Ngôi nhà đầu tiên” cho khách trẻ, giải ngân gần 4.000 tỷ đồng sau 4 tháng, đáp ứng đúng nhu cầu, đúng thời điểm cho người trẻ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietBank dự kiến chào bán gần 296,15 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tỷ lệ 25%, dự kiến huy động hơn 2.961 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cấp tín dụng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 14%, lên gần 120.000 tỷ đồng cuối quý II/2026.
Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,900
Hà Nội - PNJ 140,300 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,900
Miền Tây - PNJ 140,300 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,450
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,760 14,360
Trang sức 99.99 13,770 14,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 16/08/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18841
CAD 18301 18577 19205
CHF 31497 31877 32523
CNY 0 3830 3940
EUR 29598 29819 30911
GBP 34560 34952 35905
HKD 0 3200 3403
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15684
SGD 19887 20169 20753
THB 704 767 821
USD (1,2) 25873 0 0
USD (5,10,20) 25913 0 0
USD (50,100) 25941 25975 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,562 29,586 30,985
JPY 159.47 159.76 169.42
GBP 34,638 34,732 35,931
AUD 18,119 18,184 18,877
CAD 18,443 18,502 19,184
CHF 31,692 31,791 32,730
SGD 19,988 20,050 20,834
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 16.97 17.7 19.27
THB 750.33 759.6 813.27
NZD 14,993 15,132 15,585
SEK - 2,691 2,786
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,711 2,806
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,976.7 - 6,745.55
TWD 736.75 - 892.53
SAR - 6,838.18 7,203.01
KWD - 82,726 88,021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18139 18239 19164
CAD 18468 18568 19582
CHF 31745 31775 33356
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29750 29780 31502
GBP 34849 34899 36652
HKD 0 3355 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20055 20185 20906
THB 0 733.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14030000 14030000 14330000
SBJ 12500000 12500000 14330000
Cập nhật: 16/08/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80