Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tiệm cận đỉnh lịch sử, tăng 2,7% so với đầu năm; tỷ giá tại ngân hàng thương mại tăng tương ứng, trong khi thị trường tự do chỉ tăng 1,8%. Dù chỉ số DXY giảm gần 10% và áp lực tỷ giá khu vực đã hạ nhiệt, song VND vẫn chịu áp lực, cho thấy tác động của nhiều yếu tố khiến diễn biến tỷ giá không còn theo quy luật thông thường.
aa
Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu
Diễn biến tỷ giá USD/VND 1 tháng qua. Đồ họa: TL

Ngày 17/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 24.998 VND/USD, tăng 5 VND so với mức niêm yết của ngày hôm qua, tiến gần đến ngưỡng cao kỷ lục từng ghi nhận ngày 4/6 (25.004 VND/USD) và tăng 663 VND so với đầu năm (tăng 2,7%). Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện được phép dao động trong khoảng từ 23.748 - 26.248 VND/USD.

USD suy yếu, VND lại đi ngược xu hướng phục hồi

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh tăng, ở mức 23.799 - 26.197 VND/USD (mua vào - bán ra). Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD nhích tăng nhẹ. Đơn cử, Vietcombank niêm yết 25.882 - 26.242 VND/USD, tăng 3 VND so với chốt phiên hôm qua; tính chung từ đầu năm tăng 631 VND chiều mua vào (tương ứng tăng 2,5%) và 691 VND chiều bán ra (tăng 2,7%). Còn BIDV niêm yết ở mức 25.887 - 26.247 VND/USD, tăng 5 VND so với phiên hôm qua; mức tăng từ đầu năm đến nay tương tự Vietcombank.

BẤT LỢI KÉP DO LÃI SUẤT THẤP, RỦI RO TỶ GIÁ CAO

"Chẳng hạn, lãi suất gửi kỳ hạn 3 tháng tại Việt Nam chỉ khoảng 3%, trong khi gửi tại Mỹ là 4,2%, cộng thêm rủi ro tỷ giá khoảng 5%, nhà đầu tư có thể đối mặt với lợi nhuận âm nếu nắm giữ VND. Dù nhấc lãi suất liên ngân hàng lên, áp lực tỷ giá vẫn còn do lãi suất dài hạn tại Mỹ chưa có dấu hiệu giảm". Ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup.

Trên thị trường tự do, đồng USD giao dịch ở mức 26.220 - 26.320 VND/USD, không đổi so với phiên hôm qua. Tính chung từ đầu năm đến nay, tỷ giá USD tăng 470 VND hai chiều, chỉ tăng 1,8% và thấp hơn đáng kể so với mức tăng trên thị trường chính thức.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ các đồng tiền chủ chốt, ghi nhận ở mức 98,12 điểm, thấp hơn đầu năm 10,35 điểm, tương ứng giảm 9,5%. Đồng USD vẫn yếu do kỳ vọng tăng trưởng kinh tế của Mỹ yếu hơn và đầu tư nước ngoài vào Mỹ giảm, do thuế quan của Tổng thống Trump; đồng thời, có dấu hiệu cho biết Iran muốn chấm dứt thù địch và khởi động lại các cuộc đàm phán về chương trình hạt nhân của nước này.

Khi nỗi lo suy thoái kinh tế của Mỹ tăng do gia tăng bất ổn chính sách, trong khi triển vọng tăng trưởng của châu Âu cải thiện đã thúc đẩy dòng vốn đổ vào đồng Bảng Anh, tỷ giá GBP/USD đang được hưởng lợi, hiện giao dịch ở mức 1,3575 và đồng Bảng Anh tăng giá cao nhất trong 3 năm trở lại.

Dữ liệu từ một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy áp lực lên tỷ giá đã phần nào giảm bớt. Đơn cử, tỷ giá USD/PHP dù nhích lên mức 56,5 nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức 58 vào đầu năm, cho thấy đồng Peso Philippines đã tăng giá so với đồng USD. Tại Singapore, tỷ giá USD/SGD giảm xuống còn 1,3 và là mức thấp nhất kể từ tháng 9/2024. Trong khi đó, tại Thái Lan, tỷ giá USD/THB hiện ở mức 32,4 cũng phản ánh xu hướng giảm so với đầu năm.

Trong báo cáo dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý II/2025 mới công bố, theo chuyên gia của Ngân hàng UOB Singapore, đồng VND là một trong những đồng tiền suy yếu mạnh nhất trong khu vực kể từ sau thời điểm Mỹ áp thuế đối ứng, trong bối cảnh phần lớn các đồng tiền châu Á phục hồi trong quý II/2025.

Tỷ giá đi ngược quy luậtdo áp lực nội tại gia tăng

Số liệu từ Cục Thống kê cũng cho thấy, thặng dư thương mại 4,67 tỷ USD nhờ xuất khẩu sôi động trong giai đoạn hoãn thuế 90 ngày; vốn FDI giải ngân đạt 8,9 tỷ USD, tăng 7,9% cùng kỳ. Như vậy, theo đánh giá của giới phân tích, dòng USD chủ lực từ nước ngoài vào hỗ trợ cho kinh tế Việt Nam vẫn khá ổn định, song áp lực từ trong nước lại gia tăng.

Trong báo cáo mới công bố, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho biết, trong nước, nguồn cung USD chịu sức ép nhu cầu chào mua tới 250 triệu USD của một cơ quan với các ngân hàng thương mại, nâng tổng lượng USD mua vào từ đầu năm lên gần 1,6 tỷ USD, qua đó phần nào khiến nguồn cung ngoại tệ càng bị thắt chặt. "Tháng 5 là tháng cao điểm nhập khẩu, khiến nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp tăng mạnh" - nhóm phân tích MBS nêu rõ.

Cũng theo quan sát của ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ, trong khi các chỉ số như USD/CNY và DXY trong xu hướng giảm, đồng VND lại giảm giá.

Diễn biến này cho thấy VND đang chịu áp lực riêng biệt, khác với mặt bằng chung của khu vực, cũng không loại trừ khả năng Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá.

Hiện chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam - Mỹ vẫn diễn ra ở cả 3 mặt trận, đó là lãi suất liên ngân hàng qua đêm, lãi suất huy động và lợi suất trái phiếu. Cùng với đó, từ trước năm 2020, Việt Nam có xu hướng vay ròng từ bên ngoài, nhưng xu hướng đã đảo chiều, đặc biệt từ năm 2023 tập trung trả nợ ròng nước ngoài. Nguồn ngoại tệ dùng để trả nợ, chủ yếu được mua từ Ngân hàng Nhà nước hoặc từ các ngân hàng thương mại, với tổng nhu cầu lên đến 2 tỷ USD/năm, cộng thêm nhu cầu từ khối tư nhân. Điều này tạo áp lực gia tăng lên thị trường ngoại hối, đồng thời dẫn đến tâm lý găm giữ USD trong dân cư và doanh nghiệp.

"Chúng ta phải làm quen một điều, tác động từ tỷ giá giờ sẽ đều đặn, thay vì các cú giật mạnh. Áp lực tỷ giá vẫn còn, nhưng không chỉ đến từ các yếu tố giao thương quốc tế liên quan đến quy luật thông thường" - ông Báu nhận định.

Chấp nhận biến động tỷ giá rộng hơn, nhưng dư địa can thiệp dần co hẹp

Theo giới phân tích, chính sách điều hành tỷ giá năm nay có nhiều điểm khác biệt so với các năm trước. Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước chủ động can thiệp bằng cách liên tục điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm, qua đó kéo trần tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại lên cao hơn. Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước thay đổi cách tiếp cận trong điều hành tỷ giá liên ngân hàng khi không còn áp dụng mức giới hạn cứng tại 25.450 VND/USD như trong giai đoạn trước. Từ thời điểm đó, Ngân hàng Nhà nước duy trì cơ chế thả nổi linh hoạt hơn, với mức giá bán USD thường xuyên được niêm yết thấp hơn khoảng 50 VND so với tỷ giá trần mà các ngân hàng được phép giao dịch.

Những động thái này cho thấy định hướng rõ ràng của Ngân hàng Nhà nước trong việc chấp nhận biên độ biến động tỷ giá rộng hơn, nhằm giảm áp lực lên dự trữ ngoại hối quốc gia, sau năm 2024 phải bán ra hơn 9 tỷ USD để bình ổn thị trường. Dữ liệu cho thấy, dự trữ ngoại hối hiện còn dưới 80 tỷ USD, thấp hơn 3 tháng nhập khẩu theo khuyến cáo (tương đương khoảng 100 tỷ USD). Điều này cho thấy dư địa can thiệp đang bị thu hẹp.

Theo nhóm phân tích, tỷ giá dự kiến tiếp tục chịu áp lực. Thứ nhất, do đồng USD giữ vững sức mạnh bởi chính sách bảo hộ thương mại và lãi suất cao tại Mỹ. Thứ hai, các yếu tố bất ổn liên quan đến thuế đối ứng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu, FDI và nguồn cung ngoại tệ của Việt Nam.

"Trong trường hợp hai bên đàm phán thành công để giảm mức thuế sẽ đóng góp đáng kể vào việc ổn định tỷ giá, lãi suất, cũng như củng cố các hoạt động mũi nhọn của nền kinh tế như xuất khẩu, thu hút FDI" - chuyên gia MBS nhận định.

Nhóm nghiên cứu MBS dự báo, tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.000 - 26.400 VND/USD trong quý III/2025, tương ứng với mức tăng từ 2,1 - 4,1% so với đầu năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Tỷ giá USD hôm nay (16/6): Tỷ giá trung tâm đứng yên, DXY suy yếu trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (16/6): Tỷ giá trung tâm đứng yên, DXY suy yếu trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 16/6, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.165 đồng; trong khi tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.300 - 26.320 VND/USD, thấp hơn tỷ giá ngân hàng. Chỉ số DXY ở mức 99,63 điểm khi đồng USD suy yếu, giữa lúc thị trường chờ cuộc họp của Fed và đón nhận thông tin Mỹ - Iran hướng tới chấm dứt xung đột.
Tỷ giá USD hôm nay (15/6): Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, DXY suy yếu sau tín hiệu kết thúc xung đột Mỹ - Iran gần 4 tháng

Tỷ giá USD hôm nay (15/6): Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, DXY suy yếu sau tín hiệu kết thúc xung đột Mỹ - Iran gần 4 tháng

(TBTCO) - Sáng 15/6, tỷ giá trung tâm công bố ở mức 25.165 đồng, tăng 10 đồng so với cuối tuần trước. Trong khi đó, tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.300 - 26.320 VND/USD, tăng 50 - 60 đồng hai chiều. DXY suy yếu hiện ở mức 99,57 điểm, giảm 0,18%, sau thông tin Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận nhằm chấm dứt xung đột kéo dài gần 4 tháng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17745 18018 18595
CAD 18019 18294 18913
CHF 31839 32220 32876
CNY 0 3838 3932
EUR 29376 29596 30680
GBP 33989 34379 35327
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14652 15240
SGD 19778 20060 20629
THB 708 771 825
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,448
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,581 29,605 30,943
JPY 158.49 158.78 167.98
GBP 34,232 34,325 35,426
AUD 17,979 18,044 18,680
CAD 18,225 18,284 18,913
CHF 32,164 32,264 33,133
SGD 19,920 19,982 20,719
CNY - 3,811 3,947
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.76 16.44 17.84
THB 756.9 766.25 817.94
NZD 14,652 14,788 15,193
SEK - 2,684 2,772
DKK - 3,958 4,087
NOK - 2,657 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,940.34 - 6,690.03
TWD 750.56 - 907.1
SAR - 6,898.04 7,248.34
KWD - 83,341 88,465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,448
EUR 29,513 29,632 30,813
GBP 34,234 34,371 35,383
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 31,999 32,128 33,022
JPY 158.78 159.42 167.22
AUD 18,045 18,117 18,707
SGD 19,998 20,078 20,657
THB 779 782 816
CAD 18,251 18,324 18,884
NZD 0 14,761 15,293
KRW 0 16.41 17.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26132 26132 26448
AUD 17956 18056 18982
CAD 18204 18304 19318
CHF 32079 32109 33695
CNY 3819.7 3844.7 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29572 29602 31327
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3355 0
JPY 159.56 160.06 170.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14777 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20798
THB 0 739 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,448
USD20 26,151 26,201 26,448
USD1 26,151 26,201 26,448
AUD 18,077 18,177 19,285
EUR 29,780 29,780 31,188
CAD 18,184 18,284 19,588
SGD 20,044 20,194 20,757
JPY 159.91 161.41 165.97
GBP 34,257 34,607 35,703
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80