Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tiệm cận đỉnh lịch sử, tăng 2,7% so với đầu năm; tỷ giá tại ngân hàng thương mại tăng tương ứng, trong khi thị trường tự do chỉ tăng 1,8%. Dù chỉ số DXY giảm gần 10% và áp lực tỷ giá khu vực đã hạ nhiệt, song VND vẫn chịu áp lực, cho thấy tác động của nhiều yếu tố khiến diễn biến tỷ giá không còn theo quy luật thông thường.
aa
Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu
Diễn biến tỷ giá USD/VND 1 tháng qua. Đồ họa: TL

Ngày 17/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 24.998 VND/USD, tăng 5 VND so với mức niêm yết của ngày hôm qua, tiến gần đến ngưỡng cao kỷ lục từng ghi nhận ngày 4/6 (25.004 VND/USD) và tăng 663 VND so với đầu năm (tăng 2,7%). Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện được phép dao động trong khoảng từ 23.748 - 26.248 VND/USD.

USD suy yếu, VND lại đi ngược xu hướng phục hồi

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh tăng, ở mức 23.799 - 26.197 VND/USD (mua vào - bán ra). Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD nhích tăng nhẹ. Đơn cử, Vietcombank niêm yết 25.882 - 26.242 VND/USD, tăng 3 VND so với chốt phiên hôm qua; tính chung từ đầu năm tăng 631 VND chiều mua vào (tương ứng tăng 2,5%) và 691 VND chiều bán ra (tăng 2,7%). Còn BIDV niêm yết ở mức 25.887 - 26.247 VND/USD, tăng 5 VND so với phiên hôm qua; mức tăng từ đầu năm đến nay tương tự Vietcombank.

BẤT LỢI KÉP DO LÃI SUẤT THẤP, RỦI RO TỶ GIÁ CAO

"Chẳng hạn, lãi suất gửi kỳ hạn 3 tháng tại Việt Nam chỉ khoảng 3%, trong khi gửi tại Mỹ là 4,2%, cộng thêm rủi ro tỷ giá khoảng 5%, nhà đầu tư có thể đối mặt với lợi nhuận âm nếu nắm giữ VND. Dù nhấc lãi suất liên ngân hàng lên, áp lực tỷ giá vẫn còn do lãi suất dài hạn tại Mỹ chưa có dấu hiệu giảm". Ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup.

Trên thị trường tự do, đồng USD giao dịch ở mức 26.220 - 26.320 VND/USD, không đổi so với phiên hôm qua. Tính chung từ đầu năm đến nay, tỷ giá USD tăng 470 VND hai chiều, chỉ tăng 1,8% và thấp hơn đáng kể so với mức tăng trên thị trường chính thức.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ các đồng tiền chủ chốt, ghi nhận ở mức 98,12 điểm, thấp hơn đầu năm 10,35 điểm, tương ứng giảm 9,5%. Đồng USD vẫn yếu do kỳ vọng tăng trưởng kinh tế của Mỹ yếu hơn và đầu tư nước ngoài vào Mỹ giảm, do thuế quan của Tổng thống Trump; đồng thời, có dấu hiệu cho biết Iran muốn chấm dứt thù địch và khởi động lại các cuộc đàm phán về chương trình hạt nhân của nước này.

Khi nỗi lo suy thoái kinh tế của Mỹ tăng do gia tăng bất ổn chính sách, trong khi triển vọng tăng trưởng của châu Âu cải thiện đã thúc đẩy dòng vốn đổ vào đồng Bảng Anh, tỷ giá GBP/USD đang được hưởng lợi, hiện giao dịch ở mức 1,3575 và đồng Bảng Anh tăng giá cao nhất trong 3 năm trở lại.

Dữ liệu từ một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy áp lực lên tỷ giá đã phần nào giảm bớt. Đơn cử, tỷ giá USD/PHP dù nhích lên mức 56,5 nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức 58 vào đầu năm, cho thấy đồng Peso Philippines đã tăng giá so với đồng USD. Tại Singapore, tỷ giá USD/SGD giảm xuống còn 1,3 và là mức thấp nhất kể từ tháng 9/2024. Trong khi đó, tại Thái Lan, tỷ giá USD/THB hiện ở mức 32,4 cũng phản ánh xu hướng giảm so với đầu năm.

Trong báo cáo dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý II/2025 mới công bố, theo chuyên gia của Ngân hàng UOB Singapore, đồng VND là một trong những đồng tiền suy yếu mạnh nhất trong khu vực kể từ sau thời điểm Mỹ áp thuế đối ứng, trong bối cảnh phần lớn các đồng tiền châu Á phục hồi trong quý II/2025.

Tỷ giá đi ngược quy luậtdo áp lực nội tại gia tăng

Số liệu từ Cục Thống kê cũng cho thấy, thặng dư thương mại 4,67 tỷ USD nhờ xuất khẩu sôi động trong giai đoạn hoãn thuế 90 ngày; vốn FDI giải ngân đạt 8,9 tỷ USD, tăng 7,9% cùng kỳ. Như vậy, theo đánh giá của giới phân tích, dòng USD chủ lực từ nước ngoài vào hỗ trợ cho kinh tế Việt Nam vẫn khá ổn định, song áp lực từ trong nước lại gia tăng.

Trong báo cáo mới công bố, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho biết, trong nước, nguồn cung USD chịu sức ép nhu cầu chào mua tới 250 triệu USD của một cơ quan với các ngân hàng thương mại, nâng tổng lượng USD mua vào từ đầu năm lên gần 1,6 tỷ USD, qua đó phần nào khiến nguồn cung ngoại tệ càng bị thắt chặt. "Tháng 5 là tháng cao điểm nhập khẩu, khiến nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp tăng mạnh" - nhóm phân tích MBS nêu rõ.

Cũng theo quan sát của ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ, trong khi các chỉ số như USD/CNY và DXY trong xu hướng giảm, đồng VND lại giảm giá.

Diễn biến này cho thấy VND đang chịu áp lực riêng biệt, khác với mặt bằng chung của khu vực, cũng không loại trừ khả năng Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá.

Hiện chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam - Mỹ vẫn diễn ra ở cả 3 mặt trận, đó là lãi suất liên ngân hàng qua đêm, lãi suất huy động và lợi suất trái phiếu. Cùng với đó, từ trước năm 2020, Việt Nam có xu hướng vay ròng từ bên ngoài, nhưng xu hướng đã đảo chiều, đặc biệt từ năm 2023 tập trung trả nợ ròng nước ngoài. Nguồn ngoại tệ dùng để trả nợ, chủ yếu được mua từ Ngân hàng Nhà nước hoặc từ các ngân hàng thương mại, với tổng nhu cầu lên đến 2 tỷ USD/năm, cộng thêm nhu cầu từ khối tư nhân. Điều này tạo áp lực gia tăng lên thị trường ngoại hối, đồng thời dẫn đến tâm lý găm giữ USD trong dân cư và doanh nghiệp.

"Chúng ta phải làm quen một điều, tác động từ tỷ giá giờ sẽ đều đặn, thay vì các cú giật mạnh. Áp lực tỷ giá vẫn còn, nhưng không chỉ đến từ các yếu tố giao thương quốc tế liên quan đến quy luật thông thường" - ông Báu nhận định.

Chấp nhận biến động tỷ giá rộng hơn, nhưng dư địa can thiệp dần co hẹp

Theo giới phân tích, chính sách điều hành tỷ giá năm nay có nhiều điểm khác biệt so với các năm trước. Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước chủ động can thiệp bằng cách liên tục điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm, qua đó kéo trần tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại lên cao hơn. Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước thay đổi cách tiếp cận trong điều hành tỷ giá liên ngân hàng khi không còn áp dụng mức giới hạn cứng tại 25.450 VND/USD như trong giai đoạn trước. Từ thời điểm đó, Ngân hàng Nhà nước duy trì cơ chế thả nổi linh hoạt hơn, với mức giá bán USD thường xuyên được niêm yết thấp hơn khoảng 50 VND so với tỷ giá trần mà các ngân hàng được phép giao dịch.

Những động thái này cho thấy định hướng rõ ràng của Ngân hàng Nhà nước trong việc chấp nhận biên độ biến động tỷ giá rộng hơn, nhằm giảm áp lực lên dự trữ ngoại hối quốc gia, sau năm 2024 phải bán ra hơn 9 tỷ USD để bình ổn thị trường. Dữ liệu cho thấy, dự trữ ngoại hối hiện còn dưới 80 tỷ USD, thấp hơn 3 tháng nhập khẩu theo khuyến cáo (tương đương khoảng 100 tỷ USD). Điều này cho thấy dư địa can thiệp đang bị thu hẹp.

Theo nhóm phân tích, tỷ giá dự kiến tiếp tục chịu áp lực. Thứ nhất, do đồng USD giữ vững sức mạnh bởi chính sách bảo hộ thương mại và lãi suất cao tại Mỹ. Thứ hai, các yếu tố bất ổn liên quan đến thuế đối ứng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu, FDI và nguồn cung ngoại tệ của Việt Nam.

"Trong trường hợp hai bên đàm phán thành công để giảm mức thuế sẽ đóng góp đáng kể vào việc ổn định tỷ giá, lãi suất, cũng như củng cố các hoạt động mũi nhọn của nền kinh tế như xuất khẩu, thu hút FDI" - chuyên gia MBS nhận định.

Nhóm nghiên cứu MBS dự báo, tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.000 - 26.400 VND/USD trong quý III/2025, tương ứng với mức tăng từ 2,1 - 4,1% so với đầu năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 5/11: USD đồng loạt giảm, DXY chạm đáy 5 tuần sau bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay 5/11: USD đồng loạt giảm, DXY chạm đáy 5 tuần sau bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/11, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng, xuống 25.623 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, chỉ số DXY mất 0,25% còn 101,29 điểm, sát mốc 101 điểm. Đồng bạc xanh có lúc chạm đáy 5 tuần sau chiến thắng bất ngờ của đảng Dân chủ trong bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ, trong khi giá dầu WTI lùi sát 87 USD/thùng.
Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

Tiếp sức thanh khoản VND dài hơi, Ngân hàng Nhà nước triển khai hoán đổi ngoại tệ quy mô 2 tỷ USD

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước sắp triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ USD - VND kỳ hạn 182 ngày, quy mô tối đa 2 tỷ USD, có thể cung ứng gần 48.800 tỷ đồng cho hệ thống ngân hàng. Đây là kỳ hạn dài nhất từ trước đến nay của nghiệp vụ này, nhằm bổ sung nguồn vốn VND, hỗ trợ thanh khoản và giảm áp lực lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

(TBTCO) - Sáng 4/11, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng, xuống 25.627 đồng; chỉ số DXY giảm 0,5% còn 101,38 điểm. Thị trường ngoại hối biến động trước tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương. Đô la Úc suy yếu dù Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) tăng lãi suất lên 4,85%, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) được dự báo nâng lãi suất lên 4% vào ngày 5/11.
Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 3/11, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng, xuống 25.630 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, trong khi DXY nhích 0,02%, lên 101,8 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ cùng quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương, với dự báo Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ cùng tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Tỷ giá USD hôm nay 2/11: Giá bán USD tại ngân hàng dưới 26.000 đồng, DXY biến động nhẹ trước bầu cử giữa kỳ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay 2/11: Giá bán USD tại ngân hàng dưới 26.000 đồng, DXY biến động nhẹ trước bầu cử giữa kỳ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 2/11, tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng, xuống 25.631 đồng; giá bán USD tại nhiều ngân hàng cùng dưới ngưỡng 26.000 VND/USD. Chỉ số DXY nhích 0,04%, lên 101,93 điểm. Thị trường thận trọng trước cuộc bầu cử giữa kỳ Mỹ ngày 3/11, cùng tín hiệu tích cực từ nỗ lực ngoại giao tại Trung Đông phần nào làm suy yếu nhu cầu nắm giữ USD.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10: "Đảo chiều" bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng, USD biến động trái chiều sau tuần họp lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10: "Đảo chiều" bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng, USD biến động trái chiều sau tuần họp lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tuần qua, từ ngày 26 - 30/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước "đảo chiều" bơm ròng 28.161,7 tỷ đồng qua kênh OMO, khi lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng sát 5%/năm. Trong khi đó, tỷ giá USD phân hóa sau quyết định lãi suất 5 ngân hàng trung ương.
Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

(TBTCO) - Sáng 30/10, tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng, còn 25.637 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,23%, về 101,64 điểm. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu tăng lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn, dù lạm phát Mỹ lên 3,6% trong tháng 9, củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,300 140,300
Hà Nội - PNJ 136,300 140,300
Đà Nẵng - PNJ 136,300 140,300
Miền Tây - PNJ 136,300 140,300
Tây Nguyên - PNJ 136,300 140,300
Đông Nam Bộ - PNJ 136,300 140,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,800 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,800 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,800 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,650 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,650 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,650 14,050
Trang sức 99.9 13,330 13,930
Trang sức 99.99 13,340 13,940
Vàng 99.9 12,750
Vàng 99.99 12,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 138 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 138 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 1,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 138,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 104,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 95,019
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 85,254
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 81,487
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 58,327
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Cập nhật: 08/11/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17027 17297 17886
CAD 17575 17848 18467
CHF 30535 30911 31550
CNY 0 3789 3885
EUR 27881 28096 29178
GBP 33351 33739 34676
HKD 0 3132 3335
JPY 154 158 165
KRW 0 18 20
NZD 0 13876 14463
SGD 19398 19678 20258
THB 678 741 794
USD (1,2) 25323 0 0
USD (5,10,20) 25359 0 0
USD (50,100) 25387 25400 25770
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,395 25,395 25,775
USD(1-2-5) 24,380 - -
USD(10-20) 24,380 - -
EUR 28,083 28,105 29,445
JPY 157.64 157.92 167.53
GBP 33,746 33,837 35,010
AUD 17,327 17,390 18,054
CAD 17,881 17,938 18,605
CHF 30,914 31,010 31,939
SGD 19,568 19,629 20,406
CNY - 3,762 3,907
HKD 3,198 3,208 3,344
KRW 17.35 18.09 19.69
THB 728.06 737.05 789.6
NZD 13,928 14,057 14,475
SEK - 2,556 2,648
DKK - 3,767 3,901
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,889.42 - 6,649.1
TWD 700.88 - 849.32
SAR - 6,698.34 7,058.04
KWD - 80,861 86,063
AED - 6,713 7,235
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,370 25,400 25,780
EUR 28,050 28,191 29,414
GBP 33,715 33,884 34,916
HKD 3,192 3,211 3,329
CHF 30,744 30,898 31,843
JPY 157.26 158.85 166.81
AUD 17,268 17,390 17,982
SGD 19,541 19,718 20,312
THB 732 747 785
CAD 17,838 17,964 18,556
NZD 13,987 14,538
KRW 18.20 20.18
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25400 25400 25760
AUD 17229 17329 18259
CAD 17828 17928 18945
CHF 30857 30887 32469
CNY 3774.9 3799.9 3935
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28138 28168 29893
GBP 33747 33797 35554
HKD 0 3300 0
JPY 158.07 158.57 169.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 13981 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19587 19717 20439
THB 0 707.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,270 25,390 25,750
USD20 25,240 25,390 25,750
USD1 24,335 25,390 26,895
AUD 17,120 17,318 18,510
EUR 27,850 28,003 29,703
CAD 17,705 17,855 19,186
SGD 19,600 19,800 20,384
JPY 157.95 159.95 165.75
GBP 33,565 33,765 34,889
XAU 13,798,000 0 14,102,000
CNY 0 3,751 0
THB 0 743 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/11/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30