Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tiệm cận đỉnh lịch sử, tăng 2,7% so với đầu năm; tỷ giá tại ngân hàng thương mại tăng tương ứng, trong khi thị trường tự do chỉ tăng 1,8%. Dù chỉ số DXY giảm gần 10% và áp lực tỷ giá khu vực đã hạ nhiệt, song VND vẫn chịu áp lực, cho thấy tác động của nhiều yếu tố khiến diễn biến tỷ giá không còn theo quy luật thông thường.
aa
Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu
Diễn biến tỷ giá USD/VND 1 tháng qua. Đồ họa: TL

Ngày 17/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 24.998 VND/USD, tăng 5 VND so với mức niêm yết của ngày hôm qua, tiến gần đến ngưỡng cao kỷ lục từng ghi nhận ngày 4/6 (25.004 VND/USD) và tăng 663 VND so với đầu năm (tăng 2,7%). Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện được phép dao động trong khoảng từ 23.748 - 26.248 VND/USD.

USD suy yếu, VND lại đi ngược xu hướng phục hồi

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh tăng, ở mức 23.799 - 26.197 VND/USD (mua vào - bán ra). Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD nhích tăng nhẹ. Đơn cử, Vietcombank niêm yết 25.882 - 26.242 VND/USD, tăng 3 VND so với chốt phiên hôm qua; tính chung từ đầu năm tăng 631 VND chiều mua vào (tương ứng tăng 2,5%) và 691 VND chiều bán ra (tăng 2,7%). Còn BIDV niêm yết ở mức 25.887 - 26.247 VND/USD, tăng 5 VND so với phiên hôm qua; mức tăng từ đầu năm đến nay tương tự Vietcombank.

BẤT LỢI KÉP DO LÃI SUẤT THẤP, RỦI RO TỶ GIÁ CAO

"Chẳng hạn, lãi suất gửi kỳ hạn 3 tháng tại Việt Nam chỉ khoảng 3%, trong khi gửi tại Mỹ là 4,2%, cộng thêm rủi ro tỷ giá khoảng 5%, nhà đầu tư có thể đối mặt với lợi nhuận âm nếu nắm giữ VND. Dù nhấc lãi suất liên ngân hàng lên, áp lực tỷ giá vẫn còn do lãi suất dài hạn tại Mỹ chưa có dấu hiệu giảm". Ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup.

Trên thị trường tự do, đồng USD giao dịch ở mức 26.220 - 26.320 VND/USD, không đổi so với phiên hôm qua. Tính chung từ đầu năm đến nay, tỷ giá USD tăng 470 VND hai chiều, chỉ tăng 1,8% và thấp hơn đáng kể so với mức tăng trên thị trường chính thức.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ các đồng tiền chủ chốt, ghi nhận ở mức 98,12 điểm, thấp hơn đầu năm 10,35 điểm, tương ứng giảm 9,5%. Đồng USD vẫn yếu do kỳ vọng tăng trưởng kinh tế của Mỹ yếu hơn và đầu tư nước ngoài vào Mỹ giảm, do thuế quan của Tổng thống Trump; đồng thời, có dấu hiệu cho biết Iran muốn chấm dứt thù địch và khởi động lại các cuộc đàm phán về chương trình hạt nhân của nước này.

Khi nỗi lo suy thoái kinh tế của Mỹ tăng do gia tăng bất ổn chính sách, trong khi triển vọng tăng trưởng của châu Âu cải thiện đã thúc đẩy dòng vốn đổ vào đồng Bảng Anh, tỷ giá GBP/USD đang được hưởng lợi, hiện giao dịch ở mức 1,3575 và đồng Bảng Anh tăng giá cao nhất trong 3 năm trở lại.

Dữ liệu từ một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy áp lực lên tỷ giá đã phần nào giảm bớt. Đơn cử, tỷ giá USD/PHP dù nhích lên mức 56,5 nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức 58 vào đầu năm, cho thấy đồng Peso Philippines đã tăng giá so với đồng USD. Tại Singapore, tỷ giá USD/SGD giảm xuống còn 1,3 và là mức thấp nhất kể từ tháng 9/2024. Trong khi đó, tại Thái Lan, tỷ giá USD/THB hiện ở mức 32,4 cũng phản ánh xu hướng giảm so với đầu năm.

Trong báo cáo dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý II/2025 mới công bố, theo chuyên gia của Ngân hàng UOB Singapore, đồng VND là một trong những đồng tiền suy yếu mạnh nhất trong khu vực kể từ sau thời điểm Mỹ áp thuế đối ứng, trong bối cảnh phần lớn các đồng tiền châu Á phục hồi trong quý II/2025.

Tỷ giá đi ngược quy luậtdo áp lực nội tại gia tăng

Số liệu từ Cục Thống kê cũng cho thấy, thặng dư thương mại 4,67 tỷ USD nhờ xuất khẩu sôi động trong giai đoạn hoãn thuế 90 ngày; vốn FDI giải ngân đạt 8,9 tỷ USD, tăng 7,9% cùng kỳ. Như vậy, theo đánh giá của giới phân tích, dòng USD chủ lực từ nước ngoài vào hỗ trợ cho kinh tế Việt Nam vẫn khá ổn định, song áp lực từ trong nước lại gia tăng.

Trong báo cáo mới công bố, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho biết, trong nước, nguồn cung USD chịu sức ép nhu cầu chào mua tới 250 triệu USD của một cơ quan với các ngân hàng thương mại, nâng tổng lượng USD mua vào từ đầu năm lên gần 1,6 tỷ USD, qua đó phần nào khiến nguồn cung ngoại tệ càng bị thắt chặt. "Tháng 5 là tháng cao điểm nhập khẩu, khiến nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp tăng mạnh" - nhóm phân tích MBS nêu rõ.

Cũng theo quan sát của ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ, trong khi các chỉ số như USD/CNY và DXY trong xu hướng giảm, đồng VND lại giảm giá.

Diễn biến này cho thấy VND đang chịu áp lực riêng biệt, khác với mặt bằng chung của khu vực, cũng không loại trừ khả năng Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá.

Hiện chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam - Mỹ vẫn diễn ra ở cả 3 mặt trận, đó là lãi suất liên ngân hàng qua đêm, lãi suất huy động và lợi suất trái phiếu. Cùng với đó, từ trước năm 2020, Việt Nam có xu hướng vay ròng từ bên ngoài, nhưng xu hướng đã đảo chiều, đặc biệt từ năm 2023 tập trung trả nợ ròng nước ngoài. Nguồn ngoại tệ dùng để trả nợ, chủ yếu được mua từ Ngân hàng Nhà nước hoặc từ các ngân hàng thương mại, với tổng nhu cầu lên đến 2 tỷ USD/năm, cộng thêm nhu cầu từ khối tư nhân. Điều này tạo áp lực gia tăng lên thị trường ngoại hối, đồng thời dẫn đến tâm lý găm giữ USD trong dân cư và doanh nghiệp.

"Chúng ta phải làm quen một điều, tác động từ tỷ giá giờ sẽ đều đặn, thay vì các cú giật mạnh. Áp lực tỷ giá vẫn còn, nhưng không chỉ đến từ các yếu tố giao thương quốc tế liên quan đến quy luật thông thường" - ông Báu nhận định.

Chấp nhận biến động tỷ giá rộng hơn, nhưng dư địa can thiệp dần co hẹp

Theo giới phân tích, chính sách điều hành tỷ giá năm nay có nhiều điểm khác biệt so với các năm trước. Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước chủ động can thiệp bằng cách liên tục điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm, qua đó kéo trần tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại lên cao hơn. Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước thay đổi cách tiếp cận trong điều hành tỷ giá liên ngân hàng khi không còn áp dụng mức giới hạn cứng tại 25.450 VND/USD như trong giai đoạn trước. Từ thời điểm đó, Ngân hàng Nhà nước duy trì cơ chế thả nổi linh hoạt hơn, với mức giá bán USD thường xuyên được niêm yết thấp hơn khoảng 50 VND so với tỷ giá trần mà các ngân hàng được phép giao dịch.

Những động thái này cho thấy định hướng rõ ràng của Ngân hàng Nhà nước trong việc chấp nhận biên độ biến động tỷ giá rộng hơn, nhằm giảm áp lực lên dự trữ ngoại hối quốc gia, sau năm 2024 phải bán ra hơn 9 tỷ USD để bình ổn thị trường. Dữ liệu cho thấy, dự trữ ngoại hối hiện còn dưới 80 tỷ USD, thấp hơn 3 tháng nhập khẩu theo khuyến cáo (tương đương khoảng 100 tỷ USD). Điều này cho thấy dư địa can thiệp đang bị thu hẹp.

Theo nhóm phân tích, tỷ giá dự kiến tiếp tục chịu áp lực. Thứ nhất, do đồng USD giữ vững sức mạnh bởi chính sách bảo hộ thương mại và lãi suất cao tại Mỹ. Thứ hai, các yếu tố bất ổn liên quan đến thuế đối ứng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu, FDI và nguồn cung ngoại tệ của Việt Nam.

"Trong trường hợp hai bên đàm phán thành công để giảm mức thuế sẽ đóng góp đáng kể vào việc ổn định tỷ giá, lãi suất, cũng như củng cố các hoạt động mũi nhọn của nền kinh tế như xuất khẩu, thu hút FDI" - chuyên gia MBS nhận định.

Nhóm nghiên cứu MBS dự báo, tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.000 - 26.400 VND/USD trong quý III/2025, tương ứng với mức tăng từ 2,1 - 4,1% so với đầu năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

(TBTCO) - Sáng 17/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.632 đồng, tỷ giá USD tại ngân hàng tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY cũng tăng mạnh 0,73%, lên 100,34 điểm. Fed nâng lãi suất 25 điểm cơ bản lên 3,75% - 4% với tỷ lệ nhất trí 12-0, đánh dấu lần tăng đầu tiên kể từ tháng 7/2023, đồng thời để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách.
Tỷ giá USD hôm nay (16/9): USD phân hóa, Fed có thể “nhập cuộc” sau 25 ngân hàng trung ương tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (16/9): USD phân hóa, Fed có thể “nhập cuộc” sau 25 ngân hàng trung ương tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 16/9, tỷ giá trung tâm tăng 9 đồng lên 25.626 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do đi xuống; còn chỉ số DXY tăng 0,06% lên 99,7 điểm. Thị trường kỳ vọng Fed tăng lãi suất tuần này. Theo BNP Paribas (Pháp), lãi suất toàn cầu đang đi ba hướng, với 25 trong gần 90 ngân hàng trung ương được theo dõi đã tăng lãi suất từ đầu năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 ▲60K 14,510 ▲60K
Trang sức 99.99 13,920 ▲60K 14,520 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲6K 14,552 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲6K 14,553 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1272K 145 ▼1299K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1272K 1,451 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cập nhật: 23/09/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17923 18197 18771
CAD 17917 18192 18810
CHF 30980 31358 32002
CNY 0 3832 3928
EUR 29061 29281 30360
GBP 33799 34188 35124
HKD 0 3182 3384
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14508 15096
SGD 19824 20106 20674
THB 697 760 813
USD (1,2) 25718 0 0
USD (5,10,20) 25757 0 0
USD (50,100) 25785 25799 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,109 29,132 30,514
JPY 160.34 160.63 170.38
GBP 33,977 34,069 35,261
AUD 18,115 18,180 18,874
CAD 18,108 18,166 18,835
CHF 31,235 31,332 32,259
SGD 19,938 20,000 20,793
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.71 18.47 20.1
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,495 14,630 15,070
SEK - 2,591 2,685
DKK - 3,904 4,042
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,958.4 - 6,728.7
TWD 739.4 - 895.83
SAR - 6,802.09 7,165.12
KWD - 82,284 87,558
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,226 29,343 30,542
GBP 34,081 34,218 35,242
HKD 3,249 3,262 3,380
CHF 31,163 31,288 32,234
JPY 161.15 161.80 169.78
AUD 18,171 18,244 18,837
SGD 20,049 20,130 20,721
THB 765 768 806
CAD 18,162 18,235 18,824
NZD 14,629 15,171
KRW 18.41 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 18107 18207 19132
CAD 18105 18205 19216
CHF 31227 31257 32839
CNY 3815.9 3840.9 3976.1
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29259 29289 31015
GBP 34111 34161 35929
HKD 0 3315 0
JPY 161.38 161.88 172.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14621 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19988 20118 20842
THB 0 727.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,716 25,836 26,210
USD20 25,686 25,836 26,210
USD1 25,666 25,836 26,210
AUD 18,188 18,288 19,397
EUR 29,098 29,198 30,864
CAD 18,074 18,174 19,487
SGD 20,082 20,232 20,801
JPY 161.98 163.48 169.08
GBP 34,058 34,208 35,281
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/09/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30