Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tiệm cận đỉnh lịch sử, tăng 2,7% so với đầu năm; tỷ giá tại ngân hàng thương mại tăng tương ứng, trong khi thị trường tự do chỉ tăng 1,8%. Dù chỉ số DXY giảm gần 10% và áp lực tỷ giá khu vực đã hạ nhiệt, song VND vẫn chịu áp lực, cho thấy tác động của nhiều yếu tố khiến diễn biến tỷ giá không còn theo quy luật thông thường.
aa
Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu
Diễn biến tỷ giá USD/VND 1 tháng qua. Đồ họa: TL

Ngày 17/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 24.998 VND/USD, tăng 5 VND so với mức niêm yết của ngày hôm qua, tiến gần đến ngưỡng cao kỷ lục từng ghi nhận ngày 4/6 (25.004 VND/USD) và tăng 663 VND so với đầu năm (tăng 2,7%). Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện được phép dao động trong khoảng từ 23.748 - 26.248 VND/USD.

USD suy yếu, VND lại đi ngược xu hướng phục hồi

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh tăng, ở mức 23.799 - 26.197 VND/USD (mua vào - bán ra). Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD nhích tăng nhẹ. Đơn cử, Vietcombank niêm yết 25.882 - 26.242 VND/USD, tăng 3 VND so với chốt phiên hôm qua; tính chung từ đầu năm tăng 631 VND chiều mua vào (tương ứng tăng 2,5%) và 691 VND chiều bán ra (tăng 2,7%). Còn BIDV niêm yết ở mức 25.887 - 26.247 VND/USD, tăng 5 VND so với phiên hôm qua; mức tăng từ đầu năm đến nay tương tự Vietcombank.

BẤT LỢI KÉP DO LÃI SUẤT THẤP, RỦI RO TỶ GIÁ CAO

"Chẳng hạn, lãi suất gửi kỳ hạn 3 tháng tại Việt Nam chỉ khoảng 3%, trong khi gửi tại Mỹ là 4,2%, cộng thêm rủi ro tỷ giá khoảng 5%, nhà đầu tư có thể đối mặt với lợi nhuận âm nếu nắm giữ VND. Dù nhấc lãi suất liên ngân hàng lên, áp lực tỷ giá vẫn còn do lãi suất dài hạn tại Mỹ chưa có dấu hiệu giảm". Ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup.

Trên thị trường tự do, đồng USD giao dịch ở mức 26.220 - 26.320 VND/USD, không đổi so với phiên hôm qua. Tính chung từ đầu năm đến nay, tỷ giá USD tăng 470 VND hai chiều, chỉ tăng 1,8% và thấp hơn đáng kể so với mức tăng trên thị trường chính thức.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ các đồng tiền chủ chốt, ghi nhận ở mức 98,12 điểm, thấp hơn đầu năm 10,35 điểm, tương ứng giảm 9,5%. Đồng USD vẫn yếu do kỳ vọng tăng trưởng kinh tế của Mỹ yếu hơn và đầu tư nước ngoài vào Mỹ giảm, do thuế quan của Tổng thống Trump; đồng thời, có dấu hiệu cho biết Iran muốn chấm dứt thù địch và khởi động lại các cuộc đàm phán về chương trình hạt nhân của nước này.

Khi nỗi lo suy thoái kinh tế của Mỹ tăng do gia tăng bất ổn chính sách, trong khi triển vọng tăng trưởng của châu Âu cải thiện đã thúc đẩy dòng vốn đổ vào đồng Bảng Anh, tỷ giá GBP/USD đang được hưởng lợi, hiện giao dịch ở mức 1,3575 và đồng Bảng Anh tăng giá cao nhất trong 3 năm trở lại.

Dữ liệu từ một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy áp lực lên tỷ giá đã phần nào giảm bớt. Đơn cử, tỷ giá USD/PHP dù nhích lên mức 56,5 nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức 58 vào đầu năm, cho thấy đồng Peso Philippines đã tăng giá so với đồng USD. Tại Singapore, tỷ giá USD/SGD giảm xuống còn 1,3 và là mức thấp nhất kể từ tháng 9/2024. Trong khi đó, tại Thái Lan, tỷ giá USD/THB hiện ở mức 32,4 cũng phản ánh xu hướng giảm so với đầu năm.

Trong báo cáo dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý II/2025 mới công bố, theo chuyên gia của Ngân hàng UOB Singapore, đồng VND là một trong những đồng tiền suy yếu mạnh nhất trong khu vực kể từ sau thời điểm Mỹ áp thuế đối ứng, trong bối cảnh phần lớn các đồng tiền châu Á phục hồi trong quý II/2025.

Tỷ giá đi ngược quy luậtdo áp lực nội tại gia tăng

Số liệu từ Cục Thống kê cũng cho thấy, thặng dư thương mại 4,67 tỷ USD nhờ xuất khẩu sôi động trong giai đoạn hoãn thuế 90 ngày; vốn FDI giải ngân đạt 8,9 tỷ USD, tăng 7,9% cùng kỳ. Như vậy, theo đánh giá của giới phân tích, dòng USD chủ lực từ nước ngoài vào hỗ trợ cho kinh tế Việt Nam vẫn khá ổn định, song áp lực từ trong nước lại gia tăng.

Trong báo cáo mới công bố, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho biết, trong nước, nguồn cung USD chịu sức ép nhu cầu chào mua tới 250 triệu USD của một cơ quan với các ngân hàng thương mại, nâng tổng lượng USD mua vào từ đầu năm lên gần 1,6 tỷ USD, qua đó phần nào khiến nguồn cung ngoại tệ càng bị thắt chặt. "Tháng 5 là tháng cao điểm nhập khẩu, khiến nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp tăng mạnh" - nhóm phân tích MBS nêu rõ.

Cũng theo quan sát của ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ, trong khi các chỉ số như USD/CNY và DXY trong xu hướng giảm, đồng VND lại giảm giá.

Diễn biến này cho thấy VND đang chịu áp lực riêng biệt, khác với mặt bằng chung của khu vực, cũng không loại trừ khả năng Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá.

Hiện chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam - Mỹ vẫn diễn ra ở cả 3 mặt trận, đó là lãi suất liên ngân hàng qua đêm, lãi suất huy động và lợi suất trái phiếu. Cùng với đó, từ trước năm 2020, Việt Nam có xu hướng vay ròng từ bên ngoài, nhưng xu hướng đã đảo chiều, đặc biệt từ năm 2023 tập trung trả nợ ròng nước ngoài. Nguồn ngoại tệ dùng để trả nợ, chủ yếu được mua từ Ngân hàng Nhà nước hoặc từ các ngân hàng thương mại, với tổng nhu cầu lên đến 2 tỷ USD/năm, cộng thêm nhu cầu từ khối tư nhân. Điều này tạo áp lực gia tăng lên thị trường ngoại hối, đồng thời dẫn đến tâm lý găm giữ USD trong dân cư và doanh nghiệp.

"Chúng ta phải làm quen một điều, tác động từ tỷ giá giờ sẽ đều đặn, thay vì các cú giật mạnh. Áp lực tỷ giá vẫn còn, nhưng không chỉ đến từ các yếu tố giao thương quốc tế liên quan đến quy luật thông thường" - ông Báu nhận định.

Chấp nhận biến động tỷ giá rộng hơn, nhưng dư địa can thiệp dần co hẹp

Theo giới phân tích, chính sách điều hành tỷ giá năm nay có nhiều điểm khác biệt so với các năm trước. Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước chủ động can thiệp bằng cách liên tục điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm, qua đó kéo trần tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại lên cao hơn. Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước thay đổi cách tiếp cận trong điều hành tỷ giá liên ngân hàng khi không còn áp dụng mức giới hạn cứng tại 25.450 VND/USD như trong giai đoạn trước. Từ thời điểm đó, Ngân hàng Nhà nước duy trì cơ chế thả nổi linh hoạt hơn, với mức giá bán USD thường xuyên được niêm yết thấp hơn khoảng 50 VND so với tỷ giá trần mà các ngân hàng được phép giao dịch.

Những động thái này cho thấy định hướng rõ ràng của Ngân hàng Nhà nước trong việc chấp nhận biên độ biến động tỷ giá rộng hơn, nhằm giảm áp lực lên dự trữ ngoại hối quốc gia, sau năm 2024 phải bán ra hơn 9 tỷ USD để bình ổn thị trường. Dữ liệu cho thấy, dự trữ ngoại hối hiện còn dưới 80 tỷ USD, thấp hơn 3 tháng nhập khẩu theo khuyến cáo (tương đương khoảng 100 tỷ USD). Điều này cho thấy dư địa can thiệp đang bị thu hẹp.

Theo nhóm phân tích, tỷ giá dự kiến tiếp tục chịu áp lực. Thứ nhất, do đồng USD giữ vững sức mạnh bởi chính sách bảo hộ thương mại và lãi suất cao tại Mỹ. Thứ hai, các yếu tố bất ổn liên quan đến thuế đối ứng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu, FDI và nguồn cung ngoại tệ của Việt Nam.

"Trong trường hợp hai bên đàm phán thành công để giảm mức thuế sẽ đóng góp đáng kể vào việc ổn định tỷ giá, lãi suất, cũng như củng cố các hoạt động mũi nhọn của nền kinh tế như xuất khẩu, thu hút FDI" - chuyên gia MBS nhận định.

Nhóm nghiên cứu MBS dự báo, tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.000 - 26.400 VND/USD trong quý III/2025, tương ứng với mức tăng từ 2,1 - 4,1% so với đầu năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

(TBTCO) - Sáng ngày 6/5, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm về 26.620 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,28 điểm khi Mỹ sẽ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu thương mại qua Hormuz để chờ tiến triển đàm phán với Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.112 đồng sau kỳ nghỉ lễ, tỷ giá USD tự do lùi 60 đồng. DXY đầu tuần quanh 98,17 điểm, trong bối cảnh USD chịu áp lực trước khả năng Nhật Bản can thiệp tỷ giá, tuần này, thị trường tập trung vào đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm Mỹ.
Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 2/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng do kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Còn DXY chốt tuần ở 98,23 điểm, tăng 0,17% sau nhịp giảm dưới 98 điểm, song vẫn thấp hơn 0,72% so với tuần trước. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu hạ nhiệt xung đột Mỹ - Iran và ước tính Nhật Bản dùng 34,5 tỷ USD hỗ trợ đồng yên, song triển vọng vẫn tích cực nhờ lập trường chính sách của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng trong kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ 10 đồng còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lên 98,17 điểm, USD tăng so với nhiều đồng tiền nhưng vẫn thấp hơn phiên trước. Đáng chú ý, Nhật Bản can thiệp tỷ giá khiến tỷ giá USD/JPY giảm gần 3% trong một phiên, song sức mạnh USD vẫn duy trì do áp lực từ giá dầu và rủi ro địa chính trị.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 29/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.113 đồng, kéo biên độ giao dịch USD tại ngân hàng lên 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD, trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. DXY lùi về 98,6 điểm, giá dầu hạ nhiệt sau thông tin UAE rời OPEC nhưng vẫn nhạy cảm trước rủi ro địa chính trị, khi WB cảnh báo giá năng lượng có thể tăng 24% trong năm 2026, kéo theo áp lực lạm phát gia tăng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 09/05/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/05/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80