Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tiệm cận đỉnh lịch sử, tăng 2,7% so với đầu năm; tỷ giá tại ngân hàng thương mại tăng tương ứng, trong khi thị trường tự do chỉ tăng 1,8%. Dù chỉ số DXY giảm gần 10% và áp lực tỷ giá khu vực đã hạ nhiệt, song VND vẫn chịu áp lực, cho thấy tác động của nhiều yếu tố khiến diễn biến tỷ giá không còn theo quy luật thông thường.
aa
Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu
Diễn biến tỷ giá USD/VND 1 tháng qua. Đồ họa: TL

Ngày 17/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 24.998 VND/USD, tăng 5 VND so với mức niêm yết của ngày hôm qua, tiến gần đến ngưỡng cao kỷ lục từng ghi nhận ngày 4/6 (25.004 VND/USD) và tăng 663 VND so với đầu năm (tăng 2,7%). Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện được phép dao động trong khoảng từ 23.748 - 26.248 VND/USD.

USD suy yếu, VND lại đi ngược xu hướng phục hồi

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh tăng, ở mức 23.799 - 26.197 VND/USD (mua vào - bán ra). Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD nhích tăng nhẹ. Đơn cử, Vietcombank niêm yết 25.882 - 26.242 VND/USD, tăng 3 VND so với chốt phiên hôm qua; tính chung từ đầu năm tăng 631 VND chiều mua vào (tương ứng tăng 2,5%) và 691 VND chiều bán ra (tăng 2,7%). Còn BIDV niêm yết ở mức 25.887 - 26.247 VND/USD, tăng 5 VND so với phiên hôm qua; mức tăng từ đầu năm đến nay tương tự Vietcombank.

BẤT LỢI KÉP DO LÃI SUẤT THẤP, RỦI RO TỶ GIÁ CAO

"Chẳng hạn, lãi suất gửi kỳ hạn 3 tháng tại Việt Nam chỉ khoảng 3%, trong khi gửi tại Mỹ là 4,2%, cộng thêm rủi ro tỷ giá khoảng 5%, nhà đầu tư có thể đối mặt với lợi nhuận âm nếu nắm giữ VND. Dù nhấc lãi suất liên ngân hàng lên, áp lực tỷ giá vẫn còn do lãi suất dài hạn tại Mỹ chưa có dấu hiệu giảm". Ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup.

Trên thị trường tự do, đồng USD giao dịch ở mức 26.220 - 26.320 VND/USD, không đổi so với phiên hôm qua. Tính chung từ đầu năm đến nay, tỷ giá USD tăng 470 VND hai chiều, chỉ tăng 1,8% và thấp hơn đáng kể so với mức tăng trên thị trường chính thức.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ các đồng tiền chủ chốt, ghi nhận ở mức 98,12 điểm, thấp hơn đầu năm 10,35 điểm, tương ứng giảm 9,5%. Đồng USD vẫn yếu do kỳ vọng tăng trưởng kinh tế của Mỹ yếu hơn và đầu tư nước ngoài vào Mỹ giảm, do thuế quan của Tổng thống Trump; đồng thời, có dấu hiệu cho biết Iran muốn chấm dứt thù địch và khởi động lại các cuộc đàm phán về chương trình hạt nhân của nước này.

Khi nỗi lo suy thoái kinh tế của Mỹ tăng do gia tăng bất ổn chính sách, trong khi triển vọng tăng trưởng của châu Âu cải thiện đã thúc đẩy dòng vốn đổ vào đồng Bảng Anh, tỷ giá GBP/USD đang được hưởng lợi, hiện giao dịch ở mức 1,3575 và đồng Bảng Anh tăng giá cao nhất trong 3 năm trở lại.

Dữ liệu từ một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy áp lực lên tỷ giá đã phần nào giảm bớt. Đơn cử, tỷ giá USD/PHP dù nhích lên mức 56,5 nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức 58 vào đầu năm, cho thấy đồng Peso Philippines đã tăng giá so với đồng USD. Tại Singapore, tỷ giá USD/SGD giảm xuống còn 1,3 và là mức thấp nhất kể từ tháng 9/2024. Trong khi đó, tại Thái Lan, tỷ giá USD/THB hiện ở mức 32,4 cũng phản ánh xu hướng giảm so với đầu năm.

Trong báo cáo dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý II/2025 mới công bố, theo chuyên gia của Ngân hàng UOB Singapore, đồng VND là một trong những đồng tiền suy yếu mạnh nhất trong khu vực kể từ sau thời điểm Mỹ áp thuế đối ứng, trong bối cảnh phần lớn các đồng tiền châu Á phục hồi trong quý II/2025.

Tỷ giá đi ngược quy luậtdo áp lực nội tại gia tăng

Số liệu từ Cục Thống kê cũng cho thấy, thặng dư thương mại 4,67 tỷ USD nhờ xuất khẩu sôi động trong giai đoạn hoãn thuế 90 ngày; vốn FDI giải ngân đạt 8,9 tỷ USD, tăng 7,9% cùng kỳ. Như vậy, theo đánh giá của giới phân tích, dòng USD chủ lực từ nước ngoài vào hỗ trợ cho kinh tế Việt Nam vẫn khá ổn định, song áp lực từ trong nước lại gia tăng.

Trong báo cáo mới công bố, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho biết, trong nước, nguồn cung USD chịu sức ép nhu cầu chào mua tới 250 triệu USD của một cơ quan với các ngân hàng thương mại, nâng tổng lượng USD mua vào từ đầu năm lên gần 1,6 tỷ USD, qua đó phần nào khiến nguồn cung ngoại tệ càng bị thắt chặt. "Tháng 5 là tháng cao điểm nhập khẩu, khiến nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp tăng mạnh" - nhóm phân tích MBS nêu rõ.

Cũng theo quan sát của ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ, trong khi các chỉ số như USD/CNY và DXY trong xu hướng giảm, đồng VND lại giảm giá.

Diễn biến này cho thấy VND đang chịu áp lực riêng biệt, khác với mặt bằng chung của khu vực, cũng không loại trừ khả năng Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá.

Hiện chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam - Mỹ vẫn diễn ra ở cả 3 mặt trận, đó là lãi suất liên ngân hàng qua đêm, lãi suất huy động và lợi suất trái phiếu. Cùng với đó, từ trước năm 2020, Việt Nam có xu hướng vay ròng từ bên ngoài, nhưng xu hướng đã đảo chiều, đặc biệt từ năm 2023 tập trung trả nợ ròng nước ngoài. Nguồn ngoại tệ dùng để trả nợ, chủ yếu được mua từ Ngân hàng Nhà nước hoặc từ các ngân hàng thương mại, với tổng nhu cầu lên đến 2 tỷ USD/năm, cộng thêm nhu cầu từ khối tư nhân. Điều này tạo áp lực gia tăng lên thị trường ngoại hối, đồng thời dẫn đến tâm lý găm giữ USD trong dân cư và doanh nghiệp.

"Chúng ta phải làm quen một điều, tác động từ tỷ giá giờ sẽ đều đặn, thay vì các cú giật mạnh. Áp lực tỷ giá vẫn còn, nhưng không chỉ đến từ các yếu tố giao thương quốc tế liên quan đến quy luật thông thường" - ông Báu nhận định.

Chấp nhận biến động tỷ giá rộng hơn, nhưng dư địa can thiệp dần co hẹp

Theo giới phân tích, chính sách điều hành tỷ giá năm nay có nhiều điểm khác biệt so với các năm trước. Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước chủ động can thiệp bằng cách liên tục điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm, qua đó kéo trần tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại lên cao hơn. Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước thay đổi cách tiếp cận trong điều hành tỷ giá liên ngân hàng khi không còn áp dụng mức giới hạn cứng tại 25.450 VND/USD như trong giai đoạn trước. Từ thời điểm đó, Ngân hàng Nhà nước duy trì cơ chế thả nổi linh hoạt hơn, với mức giá bán USD thường xuyên được niêm yết thấp hơn khoảng 50 VND so với tỷ giá trần mà các ngân hàng được phép giao dịch.

Những động thái này cho thấy định hướng rõ ràng của Ngân hàng Nhà nước trong việc chấp nhận biên độ biến động tỷ giá rộng hơn, nhằm giảm áp lực lên dự trữ ngoại hối quốc gia, sau năm 2024 phải bán ra hơn 9 tỷ USD để bình ổn thị trường. Dữ liệu cho thấy, dự trữ ngoại hối hiện còn dưới 80 tỷ USD, thấp hơn 3 tháng nhập khẩu theo khuyến cáo (tương đương khoảng 100 tỷ USD). Điều này cho thấy dư địa can thiệp đang bị thu hẹp.

Theo nhóm phân tích, tỷ giá dự kiến tiếp tục chịu áp lực. Thứ nhất, do đồng USD giữ vững sức mạnh bởi chính sách bảo hộ thương mại và lãi suất cao tại Mỹ. Thứ hai, các yếu tố bất ổn liên quan đến thuế đối ứng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu, FDI và nguồn cung ngoại tệ của Việt Nam.

"Trong trường hợp hai bên đàm phán thành công để giảm mức thuế sẽ đóng góp đáng kể vào việc ổn định tỷ giá, lãi suất, cũng như củng cố các hoạt động mũi nhọn của nền kinh tế như xuất khẩu, thu hút FDI" - chuyên gia MBS nhận định.

Nhóm nghiên cứu MBS dự báo, tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.000 - 26.400 VND/USD trong quý III/2025, tương ứng với mức tăng từ 2,1 - 4,1% so với đầu năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/8, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng thêm 25 đồng, lên 25.405 đồng/USD, tiếp tục lập mức cao mới, trong khi giá bán USD tại các ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần trên 200 đồng. Chỉ số DXY nhích 0,03% lên 99,88 điểm khi nhà đầu tư theo dõi triển vọng đàm phán Mỹ - Iran và chờ báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào thứ Sáu.
Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

(TBTCO) - Sáng 4/8, tỷ giá trung tâm tăng mạnh thêm 22 đồng lên 25.380, trong khi tỷ giá USD thị trường tự do giảm mạnh, giá bán USD các ngân hàng thấp xa tỷ giá trần khoảng 180 đồng. Chỉ số DXY hồi nhẹ lên 99,97 điểm, đồng yên mạnh lên khi Nhật Bản được cho là chi thêm 34 tỷ USD can thiệp thị trường ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 3/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.358 đồng, tăng 20 đồng so với phiên trước. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,24% xuống 99,66 điểm, khi đồng USD lùi về mức thấp nhất trong 6 tuần. Thị trường đang hướng sự chú ý tới báo cáo việc làm phi nông nghiệp (NFP) tháng 7.
Tỷ giá USD hôm nay (1/8): Tỷ giá trung tâm tăng dù DXY suy yếu, Nhật Bản được ước tính đã dùng 53 tỷ USD hỗ trợ đồng yên

Tỷ giá USD hôm nay (1/8): Tỷ giá trung tâm tăng dù DXY suy yếu, Nhật Bản được ước tính đã dùng 53 tỷ USD hỗ trợ đồng yên

(TBTCO) - Sáng 1/8, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.338 đồng/USD, lập đỉnh lịch sử và đánh dấu tuần tăng thứ 12 liên tiếp; trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do đồng loạt giảm. Tuần qua, cả 3 ngân hàng trung ương cùng giữ nguyên lãi suất, trong khi Nhật Bản được ước tính đã can thiệp khoảng 53 tỷ USD để hỗ trợ đồng yên.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

(TBTCO) - Sáng 31/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 18 đồng lên 25.338 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm và thị trường tự do lùi về 26.250 - 26.280 VND/USD. Diễn biến trái chiều xuất hiện khi Fed giữ nguyên lãi suất, chỉ số DXY có thời điểm mất mốc 100 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc họp của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và khả năng can thiệp tỷ giá.
Tỷ giá USD hôm nay (30/7): Tỷ giá trung tâm lập vùng cao 25.320 đồng, thị trường vẫn đặt cược Fed tăng lãi suất vào cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (30/7): Tỷ giá trung tâm lập vùng cao 25.320 đồng, thị trường vẫn đặt cược Fed tăng lãi suất vào cuối năm

(TBTCO) - Sáng 30/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 14 đồng lên 25.320 đồng/USD, tiếp tục lập vùng cao nhất từ trước đến nay, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại giảm nhẹ. Chỉ số DXY phục hồi lên 100,87 điểm sau quyết định giữ nguyên lãi suất của Fed, song thị trường vẫn kỳ vọng Fed có thể tăng lãi suất một lần trước cuối năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,900
Hà Nội - PNJ 140,000 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,900
Miền Tây - PNJ 140,000 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,400
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 09/08/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18254 18833
CAD 18254 18530 19155
CHF 31764 32145 32806
CNY 0 3840 3940
EUR 29646 29868 30949
GBP 34531 34923 35875
HKD 0 3208 3411
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15128 15714
SGD 19945 20227 20812
THB 707 771 825
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 09/08/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80