Thị trường tiền tệ tháng 7: Tỷ giá trung tâm leo dốc, gần 66.000 tỷ đồng bơm ra thị trường

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tháng 7 ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý khi tỷ giá trung tâm tăng tổng cộng 191 đồng, mức tăng mạnh nhất nhiều tháng qua. Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 66.000 tỷ đồng và dừng chào thầu tín phiếu, giúp lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt sau cú tăng vọt 6,5% cuối tháng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/7: Tỷ giá trung tâm giảm sau 5 tuần, dồn lực bơm thanh khoản Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Giải mã áp lực tỷ giá từ chuyển động ngầm của cán cân thanh toán tổng thể

Ngày 1/8, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.249 VND/USD, tăng 9 đồng so với phiên liền trước. Đây là phiên tăng thứ 5 liên tiếp kể từ ngày 27/7, cho thấy xu hướng điều chỉnh lên của tỷ giá trung tâm trong bối cảnh áp lực tỷ giá quay trở lại.

Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại hiện được phép giao dịch USD trong khoảng từ 23.987 - 26.511 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnh tăng, lên mức 24.037 - 26.461 VND/USD hai chiều.

Tỷ giá trung tâm bật tăng mạnh, DXY lên đỉnh 2 tháng

Tính chung tuần qua từ ngày 28/7 - 1/8, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ghi nhận xu hướng tăng liên tục cả 5/5 phiên trong tuần. Theo đó, tỷ giá trung tâm tăng tổng cộng 85 đồng, đây là mức tăng cao nhất trong nhiều tháng qua và đảo chiều so với tuần hạ nhiệt trước đó, lên 25.249 VND/USD. Điều này phản ánh áp lực gia tăng lên tỷ giá trong bối cảnh đồng USD quốc tế mạnh lên.

Thị trường tiền tệ tháng 7
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Tỷ giá trung tâm tăng 191 đồng trong 1 tháng

Tuần qua (28/7 - 1/8), tỷ giá trung tâm tăng liên tiếp 5 phiên, cộng thêm 85 đồng, mức tăng mạnh nhất trong nhiều tháng, nâng tổng mức tăng trong 1 tháng lên 191 đồng. Ngược lại, tỷ giá niêm yết tại ngân hàng và thị trường tự do không tăng quá nóng, chỉ điều chỉnh nhẹ. Trong khi đó, các ngoại tệ chủ chốt như EUR và GBP quay đầu giảm sau 1 tháng tăng mạnh, riêng GBP tăng tới 1.300 VND/GBP.

Tại các ngân hàng thương mại, dữ liệu từ Vietcombank và BIDV cho thấy, đồng USD có xu hướng tăng nhẹ theo tuần, nhưng giảm so với cuối tháng trước.

Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD ngày 1/8 đạt 26.000 - 26.390 VND/USD, tăng 70 đồng so với cuối tuần trước nhưng giảm 80 đồng so với đầu tháng 7. BIDV cũng ghi nhận xu hướng tương tự khi tỷ giá USD đạt 26.030 - 26.390 VND/USD, tăng 80 đồng theo tuần nhưng giảm 83 đồng so với cuối tháng trước.

Trên thị trường tự do, tỷ giá "chợ đen" tuần qua lại giảm nhẹ 10 đồng, còn ở mức 26.450 VND/USD trong phần lớn thời gian, ngoại trừ ngày 29/7 tăng nhẹ 10 đồng trước khi quay lại mốc cũ. Tính chung cả tuần, tỷ giá tự do bán ra giảm 10 đồng, còn 26.440 - 26.450 VND/USD, trái chiều hoàn toàn với xu hướng của tỷ giá trung tâm.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ tiền tệ chính, tăng lên mức 100,16 điểm. Đây là vùng đỉnh trong vòng 2 tháng qua, sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tái khẳng định chính sách áp thuế toàn cầu cơ bản ở mức 10%, đồng thời sẵn sàng áp thuế đối ứng lên tới 41% đối với các quốc gia không có thỏa thuận thương mại với Mỹ. Những phát ngôn cứng rắn này tiếp tục củng cố xu hướng mạnh lên của đồng bạc xanh trong thời gian gần đây.

Với các ngoại tệ khác, đồng EUR, GBP và JPY có xu hướng trái ngược, điều chỉnh mạnh theo hướng giảm giá trong tuần đầu tháng 8 nhưng tăng mạnh sau 1 tháng.

Cụ thể, tại Vietcombank, tỷ giá EUR bán ra giảm 732 - 770,76 đồng (mua vào - bán ra) so với cuối tuần trước, về mức 29.160 - 30.698 VND/EUR; trong khi tỷ giá GBP cũng giảm 552 - 575 đồng (mua vào - bán ra) còn 33.706 - 35.137 VND/EUR.

BIDV ghi nhận mức giảm tương tự, với tỷ giá EUR mất 744 - 778 đồng hai chiều và GBP giảm 641 - 660 đồng. Đây là phản ánh rõ nét tác động từ đà suy yếu của đồng euro và bảng Anh trên thị trường ngoại hối.

Tuy nhiên, nếu so với cuối đầu tháng 7, mức giảm trên chỉ giúp hãm đà tăng các ngoại tệ trong tháng qua, do EUR và GBP lại ghi nhận mức tăng rất mạnh. Trong tháng 7, tại Vietcombank, tỷ giá EUR tăng hơn 848 - 924 VND/EUR hai chiều; GBP tăng tới 1.249 - 1.302 VND/EUR. Điều này cho thấy trong tháng 7, các ngoại tệ này trải qua giai đoạn tăng nóng, tuy nhiên áp lực điều chỉnh quay trở lại ngay đầu tháng 8. Trong khi đó, tỷ giá JPY tháng qua chỉ tăng nhẹ 7 - 8 VND/JPY (mua vào - bán ra) tại các nhà băng.

Dừng kênh tín phiếu giữa tháng 7, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 66.000 tỷ đồng

Trong báo cáo mới công bố, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, các áp lực nội tại vẫn là yếu tố chính góp phần vào đà tăng của tỷ giá do chênh lệch lãi suất USD-VND vẫn tiếp diễn cho dù FED cắt giảm lãi suất xuống 4%.

"Nhu cầu nhập khẩu lớn hơn khi mức thuế 0% được áp dụng hàng hóa từ Mỹ. Ngược lại, xuất khẩu nói chung sẽ chậm lại, dẫn đến thặng dư thương mại bị thu hẹp" - nhóm phân tích MBS đánh giá.

Cùng với đó, dòng vốn FDI sẽ chậm lại chờ đợi các thông tin rõ ràng hơn về thuế quan. Chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới trong bối cảnh giá vàng tăng.

"Theo đó, chúng tôi dự báo tỷ giá trung bình năm 2025 sẽ dao động trong khoảng 26.600 - 26.750 VND/USD, phản ánh mức tăng 4,5 - 5% so với đầu năm" - MBS nhận định.

Thị trường tiền tệ tháng 7: Tỷ giá trung tâm leo dốc, gần 66.000 tỷ đồng bơm ra thị trường
Thị trường tiền tệ tháng 7: Tỷ giá trung tâm leo dốc, gần 66.000 tỷ đồng được bơm ra thị trường. Ảnh: T.L.

Sau hai lần vọt lên 6,5% cuối tháng, lãi suất qua đêm giảm mạnh

Tính chung tháng 7, mặt bằng lãi suất giảm sâu trên toàn bộ kỳ hạn, đặc biệt là qua đêm và 1 tuần, lần lượt giảm 2,78 và 2,13 điểm %. Diễn biến này cho thấy thanh khoản hệ thống dần ổn định trở lại sau giai đoạn căng thẳng đầu tháng. Từ đầu năm đến nay, lãi suất liên ngân hàng qua đêm trải qua 2 cú bật tăng nóng, lên 6,5% vào ngày 30/6 và 25/7.

Lãi suất liên ngân hàng tuần qua ghi nhận xu hướng giảm mạnh trên hầu hết các kỳ hạn. Sau khi vọt lên vùng 6,4 - 6,5% vào cuối tháng 7, mặt bằng lãi suất nhanh chóng hạ nhiệt trong tuần cuối tháng. Tính đến ngày 30/7, lãi suất qua đêm giảm 2,83 điểm %, còn 3,67%; kỳ hạn 1 tuần giảm 2,07 điểm %, về 4,40%; các kỳ hạn 2 tuần, 1 tháng và 3 tháng cũng đồng loạt giảm từ 0,7 - 2 điểm %.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 28/7 - 1/8, ở kênh cầm cố, có 68.832,83 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 91 ngày; có 70.598,45 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước dừng chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ 1.765,62 tỷ đồng trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 209.105,11 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, không còn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường.

Tính chung tháng 7/2025, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 65.882,43 tỷ đồng ra thị trường trong tuần qua qua kênh thị trường mở./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80