Giải mã áp lực tỷ giá từ chuyển động ngầm của cán cân thanh toán tổng thể

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều ý kiến cho rằng, dù chỉ số DXY giảm hơn 10%, song VND vẫn tiếp tục rớt giá cho thấy áp lực tỷ giá đến từ cung cầu ngoại tệ nội tại. Tính trong quý đầu năm, cán cân thanh toán tổng thể tiếp tục thâm hụt 1,68 tỷ USD, quý thứ 5 liên tiếp âm do cán cân tài chính đảo chiều và khoản mục lỗi - sai sót gia tăng áp lực.
aa
Giải mã áp lực tỷ giá từ chuyển động ngầm của cán cân thanh toán tổng thể
Nguồn: tổng hợp từ số liệu của NHNN.

Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2025, VND tiếp tục giảm giá gần 3% so với USD, trái ngược với diễn biến của chỉ số DXY - vốn giảm tới 10%.

Lý giải áp lực từ nội tại

Theo ông Nguyễn Hoàng Linh, chỉ số DXY hiện không phản ánh xu hướng biến động tỷ giá USD/VND, do trước đây, khi DXY tăng, tâm lý găm giữ ngoại tệ thường khiến VND chịu áp lực mất giá. Còn hiện tại, dù DXY giảm, VND vẫn tiếp tục giảm giá cho thấy vấn đề nằm ở cung - cầu ngoại tệ nội tại.

Về phía cung ngoại tệ, thặng dư thương mại 6 tháng chỉ đạt 7,6 tỷ USD, giảm mạnh khoảng 40% so với cùng kỳ. Đồng thời, có dấu hiệu các doanh nghiệp FDI đẩy mạnh chuyển lợi nhuận về nước, như trong quý I/2025, dòng lợi nhuận FDI chuyển ra ngoài lên tới 7 tỷ USD, cao hơn mức bình quân 5 tỷ USD mỗi quý, tạo áp lực lên tỷ giá.

"Nhìn vào cán cân thanh toán tổng thể, trước đây liên tục duy trì thặng dư ở cả tài khoản vãng lai lẫn tài khoản tài chính. Tuy nhiên, thời gian gần đây, cán cân tài chính liên tục thâm hụt. Trong quý I, theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, con số thâm hụt 3,5 tỷ USD" - lãnh đạo VCBF phân tích.

Tỷ giá trượt đều, thay vì biến động "giật cục"

"Từ đầu năm đến nay, chính sách điều hành tỷ giá theo hướng tỷ giá trượt, tức VND mất giá liên tục và qua từng tháng và khả năng mất giá của VND so với USD khả năng cao vẫn tiếp tục diễn ra. Tại vì áp lực hiện tại vẫn còn, đến từ chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ, đặc biệt ở kênh huy động và tín dụng, làm cho dòng vốn trên thị trường 1 tiếp tục dịch chuyển ra nước ngoài tương đối nhiều. Kể cả số liệu từ cán cân thanh toán tổng thể quý I vừa công bố cũng cho thấy áp lực rút vốn ra nước ngoài vẫn hiện hữu. Hiện mới xoá bỏ được trạng thái âm trên thị trường liên ngân hàng" - Ông Trần Ngọc Báu, Chủ tịch Công ty cổ phần WiGroup

Chỉ rõ nguyên nhân cán cân thâm hụt kéo dài, ông Linh cho rằng, từ đầu năm tới cuối tháng 6/2025, khối ngoại tiếp tục bán ròng cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Chính phủ và doanh nghiệp giảm dư nợ vay dài hạn với các khoản vay bằng ngoại tệ. Trong năm 2024, tổng mức trả nợ vay ròng dài hạn 6,7 tỷ USD, riêng quý I vẫn ở mức cao 1,8 tỷ USD và tác động tới cân đối cung cầu ngoại tệ.

Cùng chung quan điểm, ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ chỉ rõ, chênh lệch lãi suất cao và tỷ giá tăng khiến cả Chính phủ và khối tư nhân hạn chế vay mới từ nước ngoài và tập trung trả nợ, dẫn đến hiện tượng trả nợ ròng.

"Có thể thấy xuất nhập khẩu cùng tăng trưởng mạnh và tạo ra thặng dư thương mại, nhưng thặng dư thương mại không đủ gồng gánh câu chuyện về áp lực rút vốn" - ông Báu nhìn nhận.

Cũng theo ông Báu, khác với các năm trước khi tỷ giá chỉ biến động mạnh, "giật cục" và tăng trong một vài thời điểm rồi dần ổn định, năm nay, tỷ giá có khả năng trượt đều cả năm. Đặc biệt, khi Việt Nam đang đẩy mạnh chính sách nới lỏng tiền tệ, thậm chí gỡ bỏ trần tăng trưởng tín dụng sắp tới để hỗ trợ kinh tế, điều này càng làm gia tăng áp lực lên tỷ giá.

Cán cân thanh toán âm kéo dài 5 quý liên tiếp

Số liệu do Ngân hàng Nhà nước công bố cho thấy, trong quý I/2025, cán cân thanh toán tổng thể (BOP) thâm hụt 1,68 tỷ USD, tiếp tục ghi nhận quý thứ 5 liên tiếp cán cân âm và nới rộng nhẹ so với cùng kỳ năm trước (quý I/2024: âm 1,37 tỷ USD). Tuy nhiên, so sánh với mức thâm hụt mạnh hơn 6 tỷ USD trong quý II/2024, cán cân hiện ổn định hơn.

Đi sâu vào phân tích, trước hết, cán cân vãng lai đạt 3,96 tỷ USD quý I/2025, giảm mạnh 24% so với mức 5,22 tỷ USD cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do thặng dư thương mại hàng hóa thu hẹp, còn 7,94 tỷ USD (giảm 33%). Bên cạnh đó, thu nhập đầu tư ròng âm 5,9 tỷ USD. Tuy vậy, cán cân dịch vụ chuyển biến tích cực khi mức nhập siêu giảm còn 1,64 tỷ USD, so với mức gần 3 tỷ USD cùng kỳ.

Tiếp theo, cán cân tài chính quý I/2025 có diễn biến đáng lo khi đảo chiều mạnh, từ mức thặng dư 1,44 tỷ USD trong quý I/2024 sang thâm hụt 3,51 tỷ USD. Trong đó, đầu tư trực tiếp ròng quý I/2025 đạt 3,62 tỷ USD, tăng nhẹ 3,5% cùng kỳ và là điểm sáng trong bức tranh cán cân tài chính, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Tuy nhiên, đầu tư gián tiếp rút ròng gần 1 tỷ USD, song thấp hơn 3 quý liền kề. Đáng lưu tâm hơn, đầu tư khác ròng âm 6,22 tỷ USD.

Theo đó, trong quý I/2025, khoản mục "Đầu tư khác: Tài sản có" âm 3,5 tỷ USD, đảo chiều mạnh so với mức dương 247 triệu USD cùng kỳ 2024. Diễn biến này cho thấy, dòng vốn từ khu vực trong nước chuyển mạnh ra nước ngoài thông qua hình thức tiền và tiền gửi. Trong đó, tổ chức tín dụng chuyển mạnh ra nước ngoài 951 triệu USD, thay vì ghi nhận dòng vốn vào như cùng kỳ năm trước 2,69 tỷ USD.

Cùng lúc, "Đầu tư khác: Tài sản nợ" cũng âm 2,72 tỷ USD. Trong khi hoạt động rút vốn dài hạn chỉ 1,75 tỷ USD thì trả gốc dài hạn tới 3,57 tỷ USD, cho thấy trong quý I/2025, Việt Nam trả nợ nhiều hơn vay mới, đặc biệt là khu vực tư nhân (trả nợ gần 3 tỷ USD) và làm cán cân tài chính xấu đi.

Cuối cùng, con số âm của lỗi và sai sót xuất hiện nhiều năm trên cán cân thanh toán quốc tế (-2,96 tỷ USD) khiến cán cân tổng thể thâm hụt nặng hơn.

Những nhân tố kỳ vọng giúp tỷ giá bớt căng thẳng cuối năm

Như vậy, từ số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước, trong quý đầu năm, cán cân vãng lai suy giảm 24% song vẫn duy trì thặng dư (3,96 tỷ USD), nhưng sự suy yếu của dòng vốn tài chính (chuyển từ thặng dư 1,44 tỷ USD cùng kỳ sang thâm hụt 3,51 tỷ USD), kết hợp với con số âm 2,96 tỷ USD của khoản mục lỗi và sai sót khiến cán cân thanh toán quý I/2025 thâm hụt 1,68 tỷ USD, đang tạo ra áp lực rõ rệt lên tỷ giá và cần được theo dõi chặt chẽ.

Dù vậy, theo ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu VCBF, có một điểm tích cực là khoản mục “lỗi và sai sót” trong cán cân thanh toán giảm đáng kể, phần lớn do kiểm soát hiệu quả thị trường vàng, giúp hạn chế hoạt động găm giữ USD nhập khẩu vàng bất hợp pháp.

Cũng theo ông Linh, triển vọng nửa cuối năm 2025 tích cực hơn khi khối ngoại quay lại mua ròng mạnh hai tuần đầu tháng 7 hơn 11.000 tỷ đồng. Nếu tình hình chính sách toàn cầu, đặc biệt thuế quan ổn định hơn, triển vọng nâng hạng và việc định giá thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục hấp dẫn, dòng vốn ngoại có thể quay trở lại mạnh mẽ, hỗ trợ đáng kể cho tỷ giá.

Đánh giá về nhân tố giúp giảm áp lực tỷ giá, theo Bộ phận Phân tích Kinh tế và thị trường tài chính tại Ngân hàng Techcombank, khi xuất khẩu cải thiện do chính sách thương mại ổn định hơn; dòng vốn FDI/FII tăng, xu hướng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài có thể giảm khi nhà đầu tư tái đầu tư trong nước và kiều hối phục hồi, giúp tăng cung ngoại tệ. Tuy nhiên, vẫn cần thận trọng trước rủi ro từ chính sách thương mại Mỹ và biến động của đồng USD.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

(TBTCO) - Ngày 22/6/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trong đó, nổi bật là việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, sau chưa đầy 1 tuần công bố dự thảo để lấy ý kiến. Động thái mới được kỳ vọng mở rộng dư địa cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế.
Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

(TBTCO) - Thanh khoản ngân hàng vẫn chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động vốn, đặc biệt vào các giai đoạn "dồn toa", trong khi huy động không theo kịp. Sự suy giảm tỷ trọng tiền gửi khách hàng 13 điểm phần trăm sau khoảng 6 năm còn 68%, cùng áp lực cân đối nguồn vốn đòi hỏi phải phát triển mạnh các kênh dẫn vốn trung và dài hạn.
SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

(TBTCO) - Tại lễ trao giải Vietnam Awards 2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) được The Asian Banker - tổ chức đánh giá và xếp hạng uy tín hàng đầu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại châu Á - trao tặng giải thưởng “Best Merchant Service (Category Micro-Merchant)”.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17745 18018 18595
CAD 18019 18294 18913
CHF 31839 32220 32876
CNY 0 3838 3932
EUR 29376 29596 30680
GBP 33989 34379 35327
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14652 15240
SGD 19778 20060 20629
THB 708 771 825
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,448
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,581 29,605 30,943
JPY 158.49 158.78 167.98
GBP 34,232 34,325 35,426
AUD 17,979 18,044 18,680
CAD 18,225 18,284 18,913
CHF 32,164 32,264 33,133
SGD 19,920 19,982 20,719
CNY - 3,811 3,947
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.76 16.44 17.84
THB 756.9 766.25 817.94
NZD 14,652 14,788 15,193
SEK - 2,684 2,772
DKK - 3,958 4,087
NOK - 2,657 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,940.34 - 6,690.03
TWD 750.56 - 907.1
SAR - 6,898.04 7,248.34
KWD - 83,341 88,465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,448
EUR 29,513 29,632 30,813
GBP 34,234 34,371 35,383
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 31,999 32,128 33,022
JPY 158.78 159.42 167.22
AUD 18,045 18,117 18,707
SGD 19,998 20,078 20,657
THB 779 782 816
CAD 18,251 18,324 18,884
NZD 0 14,761 15,293
KRW 0 16.41 17.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26132 26132 26448
AUD 17956 18056 18982
CAD 18204 18304 19318
CHF 32079 32109 33695
CNY 3819.7 3844.7 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29572 29602 31327
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3355 0
JPY 159.56 160.06 170.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14777 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20798
THB 0 739 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,448
USD20 26,151 26,201 26,448
USD1 26,151 26,201 26,448
AUD 18,077 18,177 19,285
EUR 29,780 29,780 31,188
CAD 18,184 18,284 19,588
SGD 20,044 20,194 20,757
JPY 159.91 161.41 165.97
GBP 34,257 34,607 35,703
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80