Thanh tra vạch sai phạm tại SmartNet, vốn điều lệ "phình to" nhưng không thực

Ánh Tuyết
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước chỉ ra hàng loạt vi phạm tại SmartNet, trong đó, không đảm bảo duy trì giá trị thực của vốn điều lệ; bổ nhiệm nhân sự chưa đúng quy định. Doanh nghiệp từng “phình to” vốn điều lệ bất thường, nay sắp dừng hoạt động ví SmartPay, một sản phẩm chủ lực từ ngày 31/8 tới đây.
aa

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực vừa thông báo kết luận thanh tra Công ty cổ phần Thương mại Dịch vụ Mạng Lưới Thông Minh (SmartNet). Trước đó, thực hiện Quyết định số 25/QĐ-TTRA ngày 22/5/2025 của Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực thuộc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 2 về việc thanh tra SmartNet, ngày 12/8, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực đã ban hành Kết luận thanh tra số 21/KL-TTRA về thanh tra công ty này.

Thanh tra đưa ra 28 kiến nghị, yêu cầu chấn chỉnh vi phạm

Thông báo của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực ghi nhận một số ưu điểm và một số tồn tại, vi phạm của Công ty SmartNet.

Về ưu điểm, theo cơ quan thanh của Ngân hàng Nhà nước, trong thời kỳ thanh tra, Công ty SmartNet cố gắng thúc đẩy doanh số giao dịch thông qua các hoạt động khuyến mại; phối hợp với các đơn vị chấp nhận thanh toán, các ngân hàng liên kết triển khai các chương trình hấp dẫn khách hàng trên diện rộng, từ các trang thương mại điện tử đến việc thanh toán các hóa đơn dịch vụ như điện, nước, điện thoại, học phí, mua thẻ cào điện thoại...

Thanh tra vạch sai phạm tại SmartNet, vốn điều lệ "phình to" nhưng không thực
Ảnh chụp màn hình website của SmartPay. Ảnh: T.L.

Đối với việc phát triển, quản lý các đơn vị chấp nhận thanh toán, Công ty SmartNet cố gắng duy trì mạng lưới hợp tác với các đơn vị chấp nhận thanh toán, thực hiện cải tiến công nghệ thông tin để tuân thủ các yêu cầu, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

Không duy trì giá trị thực vốn điều lệ, nhân sự bổ nhiệm trái quy định

"Bên cạnh các hành vi vi phạm hành chính, Công ty SmartNet còn một số tồn tại liên quan đến công tác phòng, chống rửa tiền; không đảm bảo duy trì giá trị thực của vốn điều lệ; bổ nhiệm nhân sự chưa đúng quy định; một số quy định nội bộ chưa được cập nhật; chưa thực hiện lưu trữ đầy đủ dữ liệu theo quy định về sao lưu dự phòng..." - thông báo kết luận thanh tra nêu rõ.

Về hạn chế, kết luận thanh tra chỉ rõ, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty SmartNet về 04 hành vi vi phạm hành chính nhưng không nêu cụ thể các hành vi vi phạm.

Về trách nhiệm, cơ quan Thanh tra xác định Hội đồng quản trị, Ban điều hành của Công ty SmartNet trong từng thời kỳ chịu trách nhiệm chung đối với vi phạm, tồn tại được phát hiện qua thanh tra. Các cá nhân có liên quan trực tiếp chịu trách nhiệm đối với các vi phạm, tồn tại cụ thể.

Về kiến nghị biện pháp xử lý, cơ quan thanh tra cho biết kết luận thanh tra có 28 kiến nghị, trong đó có yêu cầu công ty tổ chức họp kiểm điểm, rút kinh nghiệm. Đồng thời, chấn chỉnh, khắc phục các vi phạm, tồn tại đối với từng nội dung được nêu tại kết luận thanh tra.

Vốn điều lệ “phình to” bất thường, SmartNet sắp "khai tử" Ví SmartPay

Trên trang chủ của công ty, Smart Net được giới thiệu thành lập vào tháng 1/2015, chuyên giới thiệu, tư vấn sản phẩm tín dụng cho vay tiêu dùng cá nhân và bảo hiểm. Ngày 30/1/2019, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán số 30 GP-NHNN cho Smart Net.

Theo đó, công ty được phép cung ứng các dịch vụ trung gian thanh toán gồm dịch vụ cổng thanh toán điện tử; dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ; dịch vụ ví điện tử và hiện sở hữu Ví SmartPay.

Thanh tra vạch sai phạm tại SmartNet, vốn điều lệ "phình to" nhưng không thực
Nhiều ví điện tử khác gánh lỗ hàng trăm tỷ mỗi năm trong cuộc đua "đốt tiền". Ảnh minh hoạ.
Đến giữa tháng 6/2022, công ty bất ngờ nâng vốn điều lệ "khủng" từ 50 tỷ đồng lên 865 tỷ đồng, sau khi xuất hiện cổ đông lớn là bà Đỗ Thu Quỳnh góp tới 855 tỷ đồng. Đầu năm 2023, trong danh sách cổ đông của công ty, xuất hiện thêm hai cổ đông ngoại, trong đó có Forysiak Marek Eugene, sở hữu tổng cộng gần 12% cổ phần. Trong lần thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp năm 2024, công ty ghi nhận vốn điều lệ trên 1.130 tỷ đồng.

Tuy nhiên, được biết, ứng dụng Ví SmartPay sắp chính thức ngừng toàn bộ hoạt động từ ngày 31/08 tới đây, bao gồm các tính năng: nạp tiền vào ví, thanh toán, chuyển/rút tiền và tất cả các dịch vụ liên quan khác.

Công ty khuyến cáo khách hàng còn số dư trong Ví SmartPay, để tiếp tục sử dụng các dịch vụ ví điện tử, có thể cân nhắc chuyển sang ứng dụng Shop SmartPay.

Bên cạnh đó, Smart Net hỗ trợ kết nối giữa khách hàng, đơn vị chấp nhận thanh toán với ngân hàng, cũng như hỗ trợ cho các sản phẩm tài chính của ngân hàng. Bên cạnh lĩnh vực chính là hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, Smart Net còn là đối tác chiến lược của công ty tài chính tiêu dùng có thị phần lớn nhất thị trường, giúp giới thiệu, tư vấn sản phẩm dịch vụ tín dụng cho vay tiêu dùng cá nhân và bảo hiểm.

Về tình hình kinh doanh, giống như nhiều công ty đứng sau ví điện tử khác trên thị trường, Smart Net gánh lỗ hàng trăm tỷ mỗi năm. Tính chung giai đoạn 2019 - 2023, công ty lỗ luỹ kế hơn 1.400 tỷ đồng.

Công ty SmartNet được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu ngày 15/01/2015, với vốn điều lệ vỏn vẹn 10 tỷ đồng và thay đổi lần thứ 21 ngày 31/3/2024. Trụ sở chính của Công ty SmartNet đặt tại Tầng 16, Tòa nhà E-town Central, số 11 Đoàn Văn Bơ, TP. Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật là ông Lee Yen San - Tổng Giám đốc. Tại thời điểm 30/4/2025, Công ty có 17 phòng nghiệp vụ với tổng số cán bộ, công nhân viên là 127 người./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Hà Nội - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Miền Tây - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▲60K 14,680 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▲60K 14,680 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▲60K 14,680 ▲80K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900
Trang sức 99.9 13,870 ▲80K 14,570 ▲80K
Trang sức 99.99 13,880 ▲80K 14,580 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1290K 14,702 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1290K 14,703 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲6K 146 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲6K 1,461 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Cập nhật: 22/07/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17903 18177 18750
CAD 18133 18408 19021
CHF 31721 32102 32744
CNY 0 3848 3940
EUR 29379 29599 30677
GBP 34418 34809 35743
HKD 0 3227 3429
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 15023 15611
SGD 19834 20115 20681
THB 695 758 811
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26145 26505
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,507 29,531 30,939
JPY 156.94 157.22 166.7
GBP 34,601 34,695 35,891
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,318 18,377 19,054
CHF 31,989 32,088 33,024
SGD 19,956 20,018 20,800
CNY - 3,817 3,962
HKD 3,290 3,300 3,439
KRW 16.4 17.1 18.6
THB 743.65 752.83 805.44
NZD 15,004 15,143 15,592
SEK - 2,666 2,761
DKK - 3,947 4,086
NOK - 2,688 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.86 - 6,784.43
TWD 734.98 - 890.28
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,260 88,579
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26505
AUD 18080 18180 19105
CAD 18310 18410 19424
CHF 31988 32018 33600
CNY 3830.5 3855.5 3991
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29566 29596 31321
GBP 34723 34773 36533
HKD 0 3355 0
JPY 157.85 158.35 168.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15134 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19995 20125 20847
THB 0 725 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,153 26,203 26,523
USD20 26,153 26,203 26,523
USD1 23,997 26,203 26,523
AUD 18,192 18,292 19,399
EUR 29,427 29,527 31,185
CAD 18,323 18,423 19,728
SGD 20,107 20,257 20,817
JPY 158.83 160.33 165.86
GBP 34,741 34,891 35,956
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80