Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/7: Tỷ giá trung tâm giảm sau 5 tuần, dồn lực bơm thanh khoản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tuần qua giảm 21 đồng, về mức 25.164 VND/USD, đánh dấu tuần giảm đầu tiên sau 5 tuần tăng liên tiếp. USD tại ngân hàng thương mại giảm tương ứng khi lãi suất liên ngân hàng vượt 5% nhiều kỳ hạn. Trong bối cảnh đó, nhà điều hành bơm ròng mạnh gần 70 nghìn tỷ đồng hỗ trợ hệ thống.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh Giải mã áp lực tỷ giá từ chuyển động ngầm của cán cân thanh toán tổng thể Sức mạnh đồng USD và thách thức trong điều hành tỷ giá

Ngày 25/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, đưa mức niêm yết về 25.164 VND/USD. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện được phép dao động trong khoảng từ 23.906 - 26.422 VND/USD. Cùng lúc, tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnh giảm, xuống mức 23.956 VND/USD (mua vào) và 26.372 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá trung tâm hạ nhiệt sau 5 tuần tăng liên tiếp

Cùng chung xu hướng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại quay về vùng giá cách đây hai ngày, sau khi xóa hết mức tăng của phiên trước. Ngoại trừ Vietcombank giữ nguyên niêm yết, hầu hết các ngân hàng còn lại điều chỉnh giảm 10 - 27 đồng ở cả hai chiều mua so với cùng thời điểm ngày hôm qua.

Thị trường tiền tệ tuần 21-25/7
Ảnh: T.L.

Tính chung tuần từ ngày 21 - 25/7 ghi nhận xu hướng giảm nhẹ của tỷ giá trung tâm, với 4/5 phiên đi lùi, tương ứng giảm 21 đồng trong cả tuần, xuống còn 25.164 VND/USD, đánh dấu tuần giảm đầu tiên sau chuỗi tăng kéo dài suốt 5 tuần trước đó, giúp áp lực tỷ giá tạm thời hạ nhiệt.

Tỷ giá USD quay đầu giảm, EUR và GBP tăng mạnh

Tuần từ 21 - 25/7, tỷ giá trung tâm giảm 21 đồng, xuống 25.164 VND/USD, đánh dấu tuần giảm đầu tiên sau 5 tuần tăng liên tiếp. Tỷ giá USD tại Vietcombank và BIDV lần lượt giảm 20 và 30 đồng hai chiều. Trái lại, các đồng tiền chủ chốt khác như EUR và GBP đều tăng mạnh.

Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại cũng có diễn biến hạ nhiệt rõ rệt, ngược lại với xu hướng tăng mạnh của tuần trước.

Đơn cử, cả Vietcombank và BIDV đều điều chỉnh giảm 20 - 30 đồng hai chiều so với cuối tuần trước. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 25.930 - 26.320 VND/USD, giảm 20 đồng hai chiều; tại BIDV, tỷ giá USD giảm sâu hơn so với Vietcombank, xuống còn 25.950 - 26.310 VND/USD ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giảm tới 30 đồng.

Ngược lại, giá USD tự do ghi nhận xu hướng tăng nhẹ, tăng 40 đồng trong cả tuần lên mức 26.380 - 26.460 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 97,69 điểm, giảm nhẹ trong tuần qua.

Trái ngược với xu hướng của đồng bạc xanh, các đồng tiền chủ chốt khác như EUR và GBP đều tăng mạnh tại cả hai ngân hàng. Đồng EUR nổi bật với mức tăng ấn tượng nhất trong nhóm các ngoại tệ chính. Tại Vietcombank, tỷ giá bán ra tăng tới 295 đồng, lên 31.468,91 VND/EUR, trong khi BIDV điều chỉnh tăng mạnh hơn, tới 348 đồng, đưa tỷ giá bán ra lên 31.540 VND/EUR.

Đồng GBP cũng ghi nhận mức tăng mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP niêm yết ở 34.258,38 VND/GBP, tăng 55 đồng chiều mua và 57,7 đồng chiều bán. Tại BIDV, mức tăng mạnh hơn 172 đồng chiều mua và 177 đồng chiều bán, lên 34.844 - 35.817 VND/GBP.

Đồng JPY cũng ghi nhận mức tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá bán ra là 181,47 VND/JPY, tăng chưa đến 1 đồng. Tại BIDV, giá bán ra tăng 2 đồng, lên 182,37 VND/JPY.

Tỷ giá dịu nhờ thỏa thuận thuế đối ứng ban đầu, lãi suất liên ngân hàng vượt 5%

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), sau khi thông tin ban đầu về mức thuế đối ứng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, cũng như giữa Hoa Kỳ và các quốc gia khác, tỷ giá đã hạ nhiệt.

Thị trường tiền tệ tuần 21-25/7
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/7: Tỷ giá trung tâm giảm sau 5 tuần, dồn lực bơm thanh khoản. Ảnh: T.L.

Theo đánh giá, Việt Nam đã khẳng định năng lực đàm phán xuất sắc khi được Hoa Kỳ xếp vào nhóm các quốc gia đạt mức thuế đối ứng chỉ 20%, thấp hơn đáng kể so với nhiều nước khác.

Thị trường ngoại hối đang ghi nhận nhiều yếu tố tích cực, với thỏa thuận tích cực về thuế đối ứng làm giảm rủi ro chiến tranh thương mại, giúp ổn định dòng ngoại tệ từ xuất khẩu và giảm áp lực mất giá VND.

Trong 6 tháng đầu năm 2025, vốn FDI giải ngân đạt 8,25 tỷ USD, tăng 7,2% cùng kỳ hỗ trợ nguồn cung ngoại tệ. Hơn nữa, Việt Nam vẫn đang là điểm đến hấp dẫn cho các dự án FDI trong lĩnh vực công nghệ cao. VCBS cũng kỳ vọng kiều hối có thể duy trì ở mức trong năm 2025 và sẽ đặc biệt hỗ trợ tỷ giá và thời điểm cuối năm.

"VND được dự báo giảm giá tương đối so với đồng USD với mức biến động hợp lý khoảng 3 - 4% cho cả năm 2025" - VCBS dự báo. Thậm chí, VCBS kỳ vọng thị ngoại hối sẽ có diễn biến tích cực hơn, trong bối cảnh đàm phán thương mại và thuế quan đã được công bố, căng thẳng thương mại đã tạm dịu đi so với giai đoạn trước.

Về diễn biến lãi suất liên ngân hàng, tuần qua ghi nhận lãi suất tiếp đà tăng, nhiều kỳ hạn vượt 5%. Theo đó, ngày 23/7, lãi suất qua đêm tăng 0,25% lên 5,26%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng 0,3%, lên 5,24%; 2 tuần là 5,05%, tăng 0,05%. Lãi suất 1 tháng tăng 0,35% lên 5,02%. Chỉ còn lãi suất kỳ hạn 3 tháng còn duy trì dưới 5% là 4,96%, với mức tăng 0,11%.

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng quy mô lớn, gần 70.000 tỷ đồng

Nhà điều hành liên tục ở trạng thái bơm ròng thanh khoản cho hệ thống, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì xu hướng tăng trong 3 tuần gần đây. Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 21 - 25/7, ở kênh cầm cố, có 173.701,21 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 91 ngày; có 110.846,07 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước dừng chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, có 7.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh 69.854,94 tỷ đồng ra thị trường trong tuần qua qua kênh thị trường mở, cao hơn mức 58 nghìn tỷ đồng tuần trước. Có 210.870,73 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, không còn lượng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80