Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/7: Tỷ giá trung tâm giảm sau 5 tuần, dồn lực bơm thanh khoản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tuần qua giảm 21 đồng, về mức 25.164 VND/USD, đánh dấu tuần giảm đầu tiên sau 5 tuần tăng liên tiếp. USD tại ngân hàng thương mại giảm tương ứng khi lãi suất liên ngân hàng vượt 5% nhiều kỳ hạn. Trong bối cảnh đó, nhà điều hành bơm ròng mạnh gần 70 nghìn tỷ đồng hỗ trợ hệ thống.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh Giải mã áp lực tỷ giá từ chuyển động ngầm của cán cân thanh toán tổng thể Sức mạnh đồng USD và thách thức trong điều hành tỷ giá

Ngày 25/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, đưa mức niêm yết về 25.164 VND/USD. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện được phép dao động trong khoảng từ 23.906 - 26.422 VND/USD. Cùng lúc, tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnh giảm, xuống mức 23.956 VND/USD (mua vào) và 26.372 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá trung tâm hạ nhiệt sau 5 tuần tăng liên tiếp

Cùng chung xu hướng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại quay về vùng giá cách đây hai ngày, sau khi xóa hết mức tăng của phiên trước. Ngoại trừ Vietcombank giữ nguyên niêm yết, hầu hết các ngân hàng còn lại điều chỉnh giảm 10 - 27 đồng ở cả hai chiều mua so với cùng thời điểm ngày hôm qua.

Thị trường tiền tệ tuần 21-25/7
Ảnh: T.L.

Tính chung tuần từ ngày 21 - 25/7 ghi nhận xu hướng giảm nhẹ của tỷ giá trung tâm, với 4/5 phiên đi lùi, tương ứng giảm 21 đồng trong cả tuần, xuống còn 25.164 VND/USD, đánh dấu tuần giảm đầu tiên sau chuỗi tăng kéo dài suốt 5 tuần trước đó, giúp áp lực tỷ giá tạm thời hạ nhiệt.

Tỷ giá USD quay đầu giảm, EUR và GBP tăng mạnh

Tuần từ 21 - 25/7, tỷ giá trung tâm giảm 21 đồng, xuống 25.164 VND/USD, đánh dấu tuần giảm đầu tiên sau 5 tuần tăng liên tiếp. Tỷ giá USD tại Vietcombank và BIDV lần lượt giảm 20 và 30 đồng hai chiều. Trái lại, các đồng tiền chủ chốt khác như EUR và GBP đều tăng mạnh.

Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại cũng có diễn biến hạ nhiệt rõ rệt, ngược lại với xu hướng tăng mạnh của tuần trước.

Đơn cử, cả Vietcombank và BIDV đều điều chỉnh giảm 20 - 30 đồng hai chiều so với cuối tuần trước. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 25.930 - 26.320 VND/USD, giảm 20 đồng hai chiều; tại BIDV, tỷ giá USD giảm sâu hơn so với Vietcombank, xuống còn 25.950 - 26.310 VND/USD ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giảm tới 30 đồng.

Ngược lại, giá USD tự do ghi nhận xu hướng tăng nhẹ, tăng 40 đồng trong cả tuần lên mức 26.380 - 26.460 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 97,69 điểm, giảm nhẹ trong tuần qua.

Trái ngược với xu hướng của đồng bạc xanh, các đồng tiền chủ chốt khác như EUR và GBP đều tăng mạnh tại cả hai ngân hàng. Đồng EUR nổi bật với mức tăng ấn tượng nhất trong nhóm các ngoại tệ chính. Tại Vietcombank, tỷ giá bán ra tăng tới 295 đồng, lên 31.468,91 VND/EUR, trong khi BIDV điều chỉnh tăng mạnh hơn, tới 348 đồng, đưa tỷ giá bán ra lên 31.540 VND/EUR.

Đồng GBP cũng ghi nhận mức tăng mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP niêm yết ở 34.258,38 VND/GBP, tăng 55 đồng chiều mua và 57,7 đồng chiều bán. Tại BIDV, mức tăng mạnh hơn 172 đồng chiều mua và 177 đồng chiều bán, lên 34.844 - 35.817 VND/GBP.

Đồng JPY cũng ghi nhận mức tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá bán ra là 181,47 VND/JPY, tăng chưa đến 1 đồng. Tại BIDV, giá bán ra tăng 2 đồng, lên 182,37 VND/JPY.

Tỷ giá dịu nhờ thỏa thuận thuế đối ứng ban đầu, lãi suất liên ngân hàng vượt 5%

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), sau khi thông tin ban đầu về mức thuế đối ứng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, cũng như giữa Hoa Kỳ và các quốc gia khác, tỷ giá đã hạ nhiệt.

Thị trường tiền tệ tuần 21-25/7
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/7: Tỷ giá trung tâm giảm sau 5 tuần, dồn lực bơm thanh khoản. Ảnh: T.L.

Theo đánh giá, Việt Nam đã khẳng định năng lực đàm phán xuất sắc khi được Hoa Kỳ xếp vào nhóm các quốc gia đạt mức thuế đối ứng chỉ 20%, thấp hơn đáng kể so với nhiều nước khác.

Thị trường ngoại hối đang ghi nhận nhiều yếu tố tích cực, với thỏa thuận tích cực về thuế đối ứng làm giảm rủi ro chiến tranh thương mại, giúp ổn định dòng ngoại tệ từ xuất khẩu và giảm áp lực mất giá VND.

Trong 6 tháng đầu năm 2025, vốn FDI giải ngân đạt 8,25 tỷ USD, tăng 7,2% cùng kỳ hỗ trợ nguồn cung ngoại tệ. Hơn nữa, Việt Nam vẫn đang là điểm đến hấp dẫn cho các dự án FDI trong lĩnh vực công nghệ cao. VCBS cũng kỳ vọng kiều hối có thể duy trì ở mức trong năm 2025 và sẽ đặc biệt hỗ trợ tỷ giá và thời điểm cuối năm.

"VND được dự báo giảm giá tương đối so với đồng USD với mức biến động hợp lý khoảng 3 - 4% cho cả năm 2025" - VCBS dự báo. Thậm chí, VCBS kỳ vọng thị ngoại hối sẽ có diễn biến tích cực hơn, trong bối cảnh đàm phán thương mại và thuế quan đã được công bố, căng thẳng thương mại đã tạm dịu đi so với giai đoạn trước.

Về diễn biến lãi suất liên ngân hàng, tuần qua ghi nhận lãi suất tiếp đà tăng, nhiều kỳ hạn vượt 5%. Theo đó, ngày 23/7, lãi suất qua đêm tăng 0,25% lên 5,26%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng 0,3%, lên 5,24%; 2 tuần là 5,05%, tăng 0,05%. Lãi suất 1 tháng tăng 0,35% lên 5,02%. Chỉ còn lãi suất kỳ hạn 3 tháng còn duy trì dưới 5% là 4,96%, với mức tăng 0,11%.

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng quy mô lớn, gần 70.000 tỷ đồng

Nhà điều hành liên tục ở trạng thái bơm ròng thanh khoản cho hệ thống, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì xu hướng tăng trong 3 tuần gần đây. Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 21 - 25/7, ở kênh cầm cố, có 173.701,21 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 91 ngày; có 110.846,07 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước dừng chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, có 7.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh 69.854,94 tỷ đồng ra thị trường trong tuần qua qua kênh thị trường mở, cao hơn mức 58 nghìn tỷ đồng tuần trước. Có 210.870,73 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, không còn lượng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80