Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tuần qua tăng mạnh 57 đồng, lên kỷ lục 25.185 VND/USD, kéo theo USD tại ngân hàng thương mại tăng tương ứng. Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng vượt 5% cho thấy áp lực thanh khoản tăng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 58.000 tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/7: Dễ thở khi nhiều đồng tiền trượt dốc, lãi suất liên ngân hàng đi lên Dự báo lạm phát nửa cuối năm, gió ngược tỷ giá và tín dụng tăng tốc sẽ gây áp lực

Ngày 18/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng 9 đồng so với phiên liền trước, lên mức 25.185 VND/USD. Với biên độ giao dịch 5% theo quy định, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại được phép dao động trong khoảng từ 23.925 - 26.444 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo cũng được điều chỉnh tăng 8 đồng chiều mua vào, lên mức 23.976 VND/USD; tăng 10 đồng chiều bán ra, lên 26.394 VND/USD.

USD ngân hàng tăng, nhiều ngoại tệ mạnh bất ngờ giảm giá

Tính chung cả tuần từ 14 - 18/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ghi nhận xu hướng tăng mạnh với mức tăng tổng cộng 57 đồng, lên 25.185 VND/USD, trong đó có 4 phiên tăng liên tiếp. Đây là mức tăng cao nhất trong nhiều tuần gần đây, vượt xa mức tăng 12 đồng của tuần trước và đánh dấu tuần tăng thứ 5 liên tiếp của tỷ giá trung tâm.

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh
Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh. Ảnh: T.L.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD cũng đều được điều chỉnh tăng. Đơn cử, Vietcombank niêm yết ở 25.950 - 26.340 VND/USD, tăng 50 đồng cả hai chiều trong 1 tuần; BIDV cũng tăng tương ứng, niêm yết ở 25.980 - 26.340 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới

Biến động tỷ giá USD trong tuần qua từ ngày 14 - 18/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 57 đồng, lên 25.185 VND/USD, mức cao nhất từ trước đến nay và đánh dấu tuần tăng thứ 5 liên tiếp. Tỷ giá USD tại ngân hàng cũng tăng. Trong khi đó, tỷ giá USD thị trường tự do giảm nhẹ, cùng các ngoại tệ mạnh khác như: EUR, GBP, JPY đồng loạt rớt giá.

Trong khi đó, tỷ giá trên thị trường "chợ đen" lại đi ngược xu hướng này, với mức giảm 50 đồng chiều mua và 70 đồng chiều bán, kết tuần ở 26.350 - 26.420 VND/USD.

Trái lại, tỷ giá các ngoại tệ mạnh khác như EUR, GBP và JPY đồng loạt giảm sâu. Đơn cử, tỷ giá EUR giảm khoảng 139 - 177 đồng (mua vào - bán ra) tại Vietcombank, xuống còn 29.612,22 - 31.173,64 VND/EUR và giảm 91 - 96 đồng hai chiều mua vào - bán ra tại BIDV xuống 29.961 - 31.192 VND/EUR.

Cùng xu hướng, GBP giảm mạnh còn 34.203,05 - 35.655,25 VND/GBP, tương ứng giảm 272 - 284 đồng (mua vào - bán ra) tại Vietcombank; 34.667 - 35.645 VND/GBP, giảm 245 - 255 đồng hai chiều tại BIDV.

Tỷ giá JPY cũng ghi nhận mức giảm khoảng 2 đồng tại các ngân hàng. Theo đó, Vietcombank giao dịch ở 169,72 - 180,5 VND/JPY; BIDV niêm yết 172,67 - 180,32 VND/JPY.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 98,23 điểm, tiếp đà hồi phục tuần qua do các mức thuế quan lần lượt được công bố trong tuần giúp giảm sự bất định trong vấn đề thuế quan, song vẫn ở mức thấp so với đầu năm.

Ông Guy Ertz - Phó Giám đốc Đầu tư Toàn cầu tại Khối Quản lý Tài sản của BNP Paribas, một trong những ngân hàng hàng đầu châu Âu, cho biết từ đầu năm đến nay, chỉ số DXY giảm khoảng 11%, trong đó USD mất giá tới 13% so với đồng EUR. Nhu cầu đối với tài sản Mỹ đang suy giảm và xu hướng này sẽ không đảo chiều ngay cả khi thuế quan được cắt giảm, do gánh nặng nợ công gia tăng và nguy cơ suy giảm trong triển vọng tăng trưởng đang làm giảm sức hấp dẫn của tài sản Mỹ.

Đại diện BNP Paribas giữ quan điểm sẽ có 2 lần cắt giảm lãi suất trong năm nay và thêm 2 lần nữa vào năm 2026 tại Mỹ, đưa lãi suất điều hành xuống 3,5%.

Lãi suất liên ngân hàng vượt 5%, nhà điều hành bơm ròng mạnh

Theo nhận định của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính Ngân hàng Techcombank tại báo cáo kinh tế vĩ mô mới công bố, căng thẳng thương mại toàn cầu và chính sách thuế quan Mỹ làm gia tăng bất định kinh tế thế giới. Hai nền kinh tế lớn nhất là Mỹ và Trung Quốc đều đứng trước nguy cơ thiệt hại. Triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy yếu do nhiều yếu tố bất lợi. Trong bối cảnh như vậy, World Bank hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 xuống còn 2,3% - gần mức thấp nhất từ năm 2008, ngoại trừ các năm suy thoái.

Tỷ giá USD/VND sắp chạm đỉnh, áp lực tăng chỉ ngắn hạn

"Với những thông tin mới cập nhật nhất, chúng tôi kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ chỉ chịu áp lực trong ngắn hạn, có thể đã hoặc sắp đạt đỉnh trong năm nay, với xu hướng giảm dần về cuối năm" - nhóm phân tích từ Techcombank nhận định.

Theo đó, áp lực tăng trong ngắn hạn có thể đến từ: thứ nhất, những tín hiệu tích cực từ chính sách thuế quan mới có thể thúc đẩy nhu cầu nhập khẩu. Thứ hai, thời điểm giữa năm vẫn nằm trong giai đoạn mùa vụ chuyển lợi nhuận về nước của các doanh nghiệp FDI. Thứ ba, sự phục hồi của USD có thể xảy ra khi khi lạm phát Mỹ tăng cao hơn kỳ vọng của thị trường và khiến Fed khó cắt giảm lãi suất sớm

Tuy nhiên, nhìn về cuối năm, theo nhóm phân tích Techcombank, tỷ giá có thể giảm dần do xuất khẩu cũng có thể tăng trưởng tốt sau khi công bố kết quả đàm phán. Cùng với đó, dòng vốn FDI và FII từ các doanh nghiệp nước ngoài nhiều khả năng sẽ tiếp tục mạnh hơn trong bối cảnh kinh tế tích cực. Kiều hối được kỳ vọng sẽ tăng trở lại.

Dù vậy, cần duy trì sự thận trọng khi rủi ro lớn nhất đến từ biến động chính sách thương mại từ phía Chính phủ Mỹ và tính khó dự báo của đồng USD cũng có thể ảnh hưởng đến tâm lý thị trường và xu hướng tỷ giá trong thời gian tới.

Cùng chung quan điểm, Phòng Nghiên cứu và Phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, thời điểm gần mốc gia hạn thuế quan mới 1/8, có thể tỷ giá sẽ biến động hơn khi mức thuế cho cả Việt Nam và các nước khác có thể thay đổi khi các nước đàm phán thêm với Mỹ.

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7
Ảnh: T.L.

Về diễn biến lãi suất liên ngân hàng, tuần qua ghi nhận lãi suất tiếp đà tăng. Theo đó, ngày 16/7, lãi suất qua đêm tăng mạnh 0,44% vượt 5%, lên 5,09%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng 0,38%, lên 5,04%; 2 tuần là 5,05%, tăng 0,34%. Lãi suất 1 tháng tăng 0,31% lên 4,61%; 3 tháng 4,91%, với mức tăng thấp nhất 0,13%.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 14 - 18/7, ở kênh cầm cố, có 134.229,56 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày và 91 ngày; có 90.215,17 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước kỳ hạn 7 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 7.000 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 3,4 - 3,45%, có 21.400 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh 58.414,59 tỷ đồng ra thị trường trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 148.015,59 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 21.400 tỷ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80