Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tuần qua tăng mạnh 57 đồng, lên kỷ lục 25.185 VND/USD, kéo theo USD tại ngân hàng thương mại tăng tương ứng. Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng vượt 5% cho thấy áp lực thanh khoản tăng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 58.000 tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/7: Dễ thở khi nhiều đồng tiền trượt dốc, lãi suất liên ngân hàng đi lên Dự báo lạm phát nửa cuối năm, gió ngược tỷ giá và tín dụng tăng tốc sẽ gây áp lực

Ngày 18/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng 9 đồng so với phiên liền trước, lên mức 25.185 VND/USD. Với biên độ giao dịch 5% theo quy định, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại được phép dao động trong khoảng từ 23.925 - 26.444 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo cũng được điều chỉnh tăng 8 đồng chiều mua vào, lên mức 23.976 VND/USD; tăng 10 đồng chiều bán ra, lên 26.394 VND/USD.

USD ngân hàng tăng, nhiều ngoại tệ mạnh bất ngờ giảm giá

Tính chung cả tuần từ 14 - 18/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ghi nhận xu hướng tăng mạnh với mức tăng tổng cộng 57 đồng, lên 25.185 VND/USD, trong đó có 4 phiên tăng liên tiếp. Đây là mức tăng cao nhất trong nhiều tuần gần đây, vượt xa mức tăng 12 đồng của tuần trước và đánh dấu tuần tăng thứ 5 liên tiếp của tỷ giá trung tâm.

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh
Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh. Ảnh: T.L.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD cũng đều được điều chỉnh tăng. Đơn cử, Vietcombank niêm yết ở 25.950 - 26.340 VND/USD, tăng 50 đồng cả hai chiều trong 1 tuần; BIDV cũng tăng tương ứng, niêm yết ở 25.980 - 26.340 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới

Biến động tỷ giá USD trong tuần qua từ ngày 14 - 18/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 57 đồng, lên 25.185 VND/USD, mức cao nhất từ trước đến nay và đánh dấu tuần tăng thứ 5 liên tiếp. Tỷ giá USD tại ngân hàng cũng tăng. Trong khi đó, tỷ giá USD thị trường tự do giảm nhẹ, cùng các ngoại tệ mạnh khác như: EUR, GBP, JPY đồng loạt rớt giá.

Trong khi đó, tỷ giá trên thị trường "chợ đen" lại đi ngược xu hướng này, với mức giảm 50 đồng chiều mua và 70 đồng chiều bán, kết tuần ở 26.350 - 26.420 VND/USD.

Trái lại, tỷ giá các ngoại tệ mạnh khác như EUR, GBP và JPY đồng loạt giảm sâu. Đơn cử, tỷ giá EUR giảm khoảng 139 - 177 đồng (mua vào - bán ra) tại Vietcombank, xuống còn 29.612,22 - 31.173,64 VND/EUR và giảm 91 - 96 đồng hai chiều mua vào - bán ra tại BIDV xuống 29.961 - 31.192 VND/EUR.

Cùng xu hướng, GBP giảm mạnh còn 34.203,05 - 35.655,25 VND/GBP, tương ứng giảm 272 - 284 đồng (mua vào - bán ra) tại Vietcombank; 34.667 - 35.645 VND/GBP, giảm 245 - 255 đồng hai chiều tại BIDV.

Tỷ giá JPY cũng ghi nhận mức giảm khoảng 2 đồng tại các ngân hàng. Theo đó, Vietcombank giao dịch ở 169,72 - 180,5 VND/JPY; BIDV niêm yết 172,67 - 180,32 VND/JPY.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 98,23 điểm, tiếp đà hồi phục tuần qua do các mức thuế quan lần lượt được công bố trong tuần giúp giảm sự bất định trong vấn đề thuế quan, song vẫn ở mức thấp so với đầu năm.

Ông Guy Ertz - Phó Giám đốc Đầu tư Toàn cầu tại Khối Quản lý Tài sản của BNP Paribas, một trong những ngân hàng hàng đầu châu Âu, cho biết từ đầu năm đến nay, chỉ số DXY giảm khoảng 11%, trong đó USD mất giá tới 13% so với đồng EUR. Nhu cầu đối với tài sản Mỹ đang suy giảm và xu hướng này sẽ không đảo chiều ngay cả khi thuế quan được cắt giảm, do gánh nặng nợ công gia tăng và nguy cơ suy giảm trong triển vọng tăng trưởng đang làm giảm sức hấp dẫn của tài sản Mỹ.

Đại diện BNP Paribas giữ quan điểm sẽ có 2 lần cắt giảm lãi suất trong năm nay và thêm 2 lần nữa vào năm 2026 tại Mỹ, đưa lãi suất điều hành xuống 3,5%.

Lãi suất liên ngân hàng vượt 5%, nhà điều hành bơm ròng mạnh

Theo nhận định của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính Ngân hàng Techcombank tại báo cáo kinh tế vĩ mô mới công bố, căng thẳng thương mại toàn cầu và chính sách thuế quan Mỹ làm gia tăng bất định kinh tế thế giới. Hai nền kinh tế lớn nhất là Mỹ và Trung Quốc đều đứng trước nguy cơ thiệt hại. Triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy yếu do nhiều yếu tố bất lợi. Trong bối cảnh như vậy, World Bank hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 xuống còn 2,3% - gần mức thấp nhất từ năm 2008, ngoại trừ các năm suy thoái.

Tỷ giá USD/VND sắp chạm đỉnh, áp lực tăng chỉ ngắn hạn

"Với những thông tin mới cập nhật nhất, chúng tôi kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ chỉ chịu áp lực trong ngắn hạn, có thể đã hoặc sắp đạt đỉnh trong năm nay, với xu hướng giảm dần về cuối năm" - nhóm phân tích từ Techcombank nhận định.

Theo đó, áp lực tăng trong ngắn hạn có thể đến từ: thứ nhất, những tín hiệu tích cực từ chính sách thuế quan mới có thể thúc đẩy nhu cầu nhập khẩu. Thứ hai, thời điểm giữa năm vẫn nằm trong giai đoạn mùa vụ chuyển lợi nhuận về nước của các doanh nghiệp FDI. Thứ ba, sự phục hồi của USD có thể xảy ra khi khi lạm phát Mỹ tăng cao hơn kỳ vọng của thị trường và khiến Fed khó cắt giảm lãi suất sớm

Tuy nhiên, nhìn về cuối năm, theo nhóm phân tích Techcombank, tỷ giá có thể giảm dần do xuất khẩu cũng có thể tăng trưởng tốt sau khi công bố kết quả đàm phán. Cùng với đó, dòng vốn FDI và FII từ các doanh nghiệp nước ngoài nhiều khả năng sẽ tiếp tục mạnh hơn trong bối cảnh kinh tế tích cực. Kiều hối được kỳ vọng sẽ tăng trở lại.

Dù vậy, cần duy trì sự thận trọng khi rủi ro lớn nhất đến từ biến động chính sách thương mại từ phía Chính phủ Mỹ và tính khó dự báo của đồng USD cũng có thể ảnh hưởng đến tâm lý thị trường và xu hướng tỷ giá trong thời gian tới.

Cùng chung quan điểm, Phòng Nghiên cứu và Phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, thời điểm gần mốc gia hạn thuế quan mới 1/8, có thể tỷ giá sẽ biến động hơn khi mức thuế cho cả Việt Nam và các nước khác có thể thay đổi khi các nước đàm phán thêm với Mỹ.

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7
Ảnh: T.L.

Về diễn biến lãi suất liên ngân hàng, tuần qua ghi nhận lãi suất tiếp đà tăng. Theo đó, ngày 16/7, lãi suất qua đêm tăng mạnh 0,44% vượt 5%, lên 5,09%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng 0,38%, lên 5,04%; 2 tuần là 5,05%, tăng 0,34%. Lãi suất 1 tháng tăng 0,31% lên 4,61%; 3 tháng 4,91%, với mức tăng thấp nhất 0,13%.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 14 - 18/7, ở kênh cầm cố, có 134.229,56 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày và 91 ngày; có 90.215,17 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước kỳ hạn 7 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 7.000 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 3,4 - 3,45%, có 21.400 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh 58.414,59 tỷ đồng ra thị trường trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 148.015,59 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 21.400 tỷ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng

Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng

SSI Research đánh giá, Thông tư số 50/2026/TT-NHNN tạo bước đệm nới lỏng trong ngắn hạn, khi nâng trần LDR từ 85% lên 95%. Về dài hạn, việc áp dụng các chỉ tiêu Basel III được đánh giá là bước đi đúng hướng, chuyển trọng tâm quản lý từ “số lượng” sang “chất lượng” bảng cân đối.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30