Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tuần qua tăng mạnh 57 đồng, lên kỷ lục 25.185 VND/USD, kéo theo USD tại ngân hàng thương mại tăng tương ứng. Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng vượt 5% cho thấy áp lực thanh khoản tăng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 58.000 tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/7: Dễ thở khi nhiều đồng tiền trượt dốc, lãi suất liên ngân hàng đi lên Dự báo lạm phát nửa cuối năm, gió ngược tỷ giá và tín dụng tăng tốc sẽ gây áp lực

Ngày 18/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng 9 đồng so với phiên liền trước, lên mức 25.185 VND/USD. Với biên độ giao dịch 5% theo quy định, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại được phép dao động trong khoảng từ 23.925 - 26.444 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo cũng được điều chỉnh tăng 8 đồng chiều mua vào, lên mức 23.976 VND/USD; tăng 10 đồng chiều bán ra, lên 26.394 VND/USD.

USD ngân hàng tăng, nhiều ngoại tệ mạnh bất ngờ giảm giá

Tính chung cả tuần từ 14 - 18/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ghi nhận xu hướng tăng mạnh với mức tăng tổng cộng 57 đồng, lên 25.185 VND/USD, trong đó có 4 phiên tăng liên tiếp. Đây là mức tăng cao nhất trong nhiều tuần gần đây, vượt xa mức tăng 12 đồng của tuần trước và đánh dấu tuần tăng thứ 5 liên tiếp của tỷ giá trung tâm.

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh
Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7: Bơm ròng mạnh 58.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm vượt đỉnh. Ảnh: T.L.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD cũng đều được điều chỉnh tăng. Đơn cử, Vietcombank niêm yết ở 25.950 - 26.340 VND/USD, tăng 50 đồng cả hai chiều trong 1 tuần; BIDV cũng tăng tương ứng, niêm yết ở 25.980 - 26.340 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới

Biến động tỷ giá USD trong tuần qua từ ngày 14 - 18/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 57 đồng, lên 25.185 VND/USD, mức cao nhất từ trước đến nay và đánh dấu tuần tăng thứ 5 liên tiếp. Tỷ giá USD tại ngân hàng cũng tăng. Trong khi đó, tỷ giá USD thị trường tự do giảm nhẹ, cùng các ngoại tệ mạnh khác như: EUR, GBP, JPY đồng loạt rớt giá.

Trong khi đó, tỷ giá trên thị trường "chợ đen" lại đi ngược xu hướng này, với mức giảm 50 đồng chiều mua và 70 đồng chiều bán, kết tuần ở 26.350 - 26.420 VND/USD.

Trái lại, tỷ giá các ngoại tệ mạnh khác như EUR, GBP và JPY đồng loạt giảm sâu. Đơn cử, tỷ giá EUR giảm khoảng 139 - 177 đồng (mua vào - bán ra) tại Vietcombank, xuống còn 29.612,22 - 31.173,64 VND/EUR và giảm 91 - 96 đồng hai chiều mua vào - bán ra tại BIDV xuống 29.961 - 31.192 VND/EUR.

Cùng xu hướng, GBP giảm mạnh còn 34.203,05 - 35.655,25 VND/GBP, tương ứng giảm 272 - 284 đồng (mua vào - bán ra) tại Vietcombank; 34.667 - 35.645 VND/GBP, giảm 245 - 255 đồng hai chiều tại BIDV.

Tỷ giá JPY cũng ghi nhận mức giảm khoảng 2 đồng tại các ngân hàng. Theo đó, Vietcombank giao dịch ở 169,72 - 180,5 VND/JPY; BIDV niêm yết 172,67 - 180,32 VND/JPY.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 98,23 điểm, tiếp đà hồi phục tuần qua do các mức thuế quan lần lượt được công bố trong tuần giúp giảm sự bất định trong vấn đề thuế quan, song vẫn ở mức thấp so với đầu năm.

Ông Guy Ertz - Phó Giám đốc Đầu tư Toàn cầu tại Khối Quản lý Tài sản của BNP Paribas, một trong những ngân hàng hàng đầu châu Âu, cho biết từ đầu năm đến nay, chỉ số DXY giảm khoảng 11%, trong đó USD mất giá tới 13% so với đồng EUR. Nhu cầu đối với tài sản Mỹ đang suy giảm và xu hướng này sẽ không đảo chiều ngay cả khi thuế quan được cắt giảm, do gánh nặng nợ công gia tăng và nguy cơ suy giảm trong triển vọng tăng trưởng đang làm giảm sức hấp dẫn của tài sản Mỹ.

Đại diện BNP Paribas giữ quan điểm sẽ có 2 lần cắt giảm lãi suất trong năm nay và thêm 2 lần nữa vào năm 2026 tại Mỹ, đưa lãi suất điều hành xuống 3,5%.

Lãi suất liên ngân hàng vượt 5%, nhà điều hành bơm ròng mạnh

Theo nhận định của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính Ngân hàng Techcombank tại báo cáo kinh tế vĩ mô mới công bố, căng thẳng thương mại toàn cầu và chính sách thuế quan Mỹ làm gia tăng bất định kinh tế thế giới. Hai nền kinh tế lớn nhất là Mỹ và Trung Quốc đều đứng trước nguy cơ thiệt hại. Triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy yếu do nhiều yếu tố bất lợi. Trong bối cảnh như vậy, World Bank hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 xuống còn 2,3% - gần mức thấp nhất từ năm 2008, ngoại trừ các năm suy thoái.

Tỷ giá USD/VND sắp chạm đỉnh, áp lực tăng chỉ ngắn hạn

"Với những thông tin mới cập nhật nhất, chúng tôi kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ chỉ chịu áp lực trong ngắn hạn, có thể đã hoặc sắp đạt đỉnh trong năm nay, với xu hướng giảm dần về cuối năm" - nhóm phân tích từ Techcombank nhận định.

Theo đó, áp lực tăng trong ngắn hạn có thể đến từ: thứ nhất, những tín hiệu tích cực từ chính sách thuế quan mới có thể thúc đẩy nhu cầu nhập khẩu. Thứ hai, thời điểm giữa năm vẫn nằm trong giai đoạn mùa vụ chuyển lợi nhuận về nước của các doanh nghiệp FDI. Thứ ba, sự phục hồi của USD có thể xảy ra khi khi lạm phát Mỹ tăng cao hơn kỳ vọng của thị trường và khiến Fed khó cắt giảm lãi suất sớm

Tuy nhiên, nhìn về cuối năm, theo nhóm phân tích Techcombank, tỷ giá có thể giảm dần do xuất khẩu cũng có thể tăng trưởng tốt sau khi công bố kết quả đàm phán. Cùng với đó, dòng vốn FDI và FII từ các doanh nghiệp nước ngoài nhiều khả năng sẽ tiếp tục mạnh hơn trong bối cảnh kinh tế tích cực. Kiều hối được kỳ vọng sẽ tăng trở lại.

Dù vậy, cần duy trì sự thận trọng khi rủi ro lớn nhất đến từ biến động chính sách thương mại từ phía Chính phủ Mỹ và tính khó dự báo của đồng USD cũng có thể ảnh hưởng đến tâm lý thị trường và xu hướng tỷ giá trong thời gian tới.

Cùng chung quan điểm, Phòng Nghiên cứu và Phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, thời điểm gần mốc gia hạn thuế quan mới 1/8, có thể tỷ giá sẽ biến động hơn khi mức thuế cho cả Việt Nam và các nước khác có thể thay đổi khi các nước đàm phán thêm với Mỹ.

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/7
Ảnh: T.L.

Về diễn biến lãi suất liên ngân hàng, tuần qua ghi nhận lãi suất tiếp đà tăng. Theo đó, ngày 16/7, lãi suất qua đêm tăng mạnh 0,44% vượt 5%, lên 5,09%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng 0,38%, lên 5,04%; 2 tuần là 5,05%, tăng 0,34%. Lãi suất 1 tháng tăng 0,31% lên 4,61%; 3 tháng 4,91%, với mức tăng thấp nhất 0,13%.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 14 - 18/7, ở kênh cầm cố, có 134.229,56 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn: 7 ngày, 14 ngày và 91 ngày; có 90.215,17 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước kỳ hạn 7 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 7.000 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 3,4 - 3,45%, có 21.400 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh 58.414,59 tỷ đồng ra thị trường trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 148.015,59 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 21.400 tỷ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80