Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/7: Dễ thở khi nhiều đồng tiền trượt dốc, lãi suất liên ngân hàng đi lên

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 7 - 11/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng tuần thứ 4 liên tiếp, nhưng tỷ giá USD cùng nhiều ngoại tệ chủ chốt như EUR, GBP, JPY trên thị trường ngân hàng và "chợ đen" đồng loạt giảm. Lãi suất liên ngân hàng nhích lên sau 1 tuần giảm sâu.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Lý giải VND đi ngược xu hướng phục hồi của nhiều đồng tiền Dự báo lạm phát nửa cuối năm, gió ngược tỷ giá và tín dụng tăng tốc sẽ gây áp lực

Ngày 11/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.128 VND/USD, giảm 3 đồng so với phiên liền trước. Với biên độ 5%, tỷ giá trần và sàn tương ứng là 26.384 VND/USD và 23.872 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo tiếp tục được giữ nguyên ở mức 23.922 VND/USD (mua vào) và 26.334 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 4, USD tại ngân hàng và "chợ đen" cùng giảm

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD giữ nguyên so với phiên trước đó. Đơn cử, Vietcombank niêm yết ở mức 25.900 - 26.290 VND/USD (mua vào - bán ra); BIDV cũng không đổi, niêm yết 25.930 - 26.290 VND/USD hai chiều.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD ngày 11/7 giao dịch quanh mức 26.400 - 26.490 VND/USD, không thay đổi so với phiên trước.

Tỷ giá giảm mạnh chỉ sau 1 tuần.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/7: Dễ thở khi nhiều đồng tiền trượt dốc, lãi suất liên ngân hàng đi lên. Ảnh: T.L.

Nhiều đồng tiền chủ chốt đồng loạt giảm sâu

Tính chung tuần qua từ ngày 7 - 11/7, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên đạt 25.128 VND/USD, tiếp nối chuỗi 4 tuần tăng liên tiếp. Trong khi đó, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại và tự do đều giảm, chấm dứt chuỗi tăng trước đó. USD quốc tế phục hồi nhẹ, nhưng vẫn chịu áp lực từ chính sách của Mỹ. Nhiều ngoại tệ như EUR, GBP, JPY sụt giảm so với VND.

Trong tuần giao dịch từ ngày 7 - 11/7, tỷ giá trung tâm ghi nhận mức tăng 12 đồng, với 2/5 phiên tăng giá, tiếp nối chuỗi 4 tuần tăng liên tiếp và đạt 25.128 VND/USD. Tuy nhiên, mức tăng lần này tương đối khiêm tốn so với mức tăng 68 đồng của tuần trước.

Ở chiều ngược lại, tỷ giá USD tại ngân hàng thương mại như Vietcombank và BIDV đều giảm sâu 60 đồng ở cả hai chiều.

Cùng chiều, tỷ giá trên thị trường tự do cũng giảm nhẹ 30 đồng trong tuần, xuống 26.400 - 26.490 VND/USD. So với mức giảm tại ngân hàng thương mại, biến động ở khu vực tự do nhỏ hơn, song chấm dứt 4 tuần liên tiếp tăng nóng 195 đồng hai chiều.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 97,74 điểm, tăng nhẹ 0,8% tuần qua. Đồng USD đang nỗ lực phục hồi sau giai đoạn suy yếu vừa qua, với mức giảm 12% đánh dấu nửa đầu năm tệ nhất kể từ năm 1973. Sau 6 tháng đầy biến động dưới thời Tổng thống Trump, các nhà đầu tư ngày càng có xu hướng giảm phụ thuộc vào Mỹ. Những yếu tố chính gây sức ép lên đồng bạc xanh đến từ lo ngại thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng, có lẽ đáng lo ngại nhất, đó là sự thiếu nhất quán và khó đoán trong chính sách thuế quan của ông Trump.

Cũng trong tuần qua, thị trường ngoại tệ trong nước ghi nhận diễn biến giảm giá đồng loạt ở hầu hết các đồng tiền chủ chốt so với VND. Dữ liệu từ Vietcombank và BIDV ngày 11/7 cho thấy mức điều chỉnh giảm đáng kể, đặc biệt ở các đồng tiền châu Âu như EUR và GBP.

Đơn cử, tỷ giá EUR tại BIDV niêm yết ở mức 30.052 - 30.076 VND/EUR, giảm 337 đồng chiều mua và 367 đồng chiều bán so với tuần trước. Vietcombank niêm yết tỷ giá GBP 34.476 - 35.939.89 VND/GBP, giảm mạnh hơn 400 đồng cả hai chiều chỉ sau 1 tuần.

Tỷ giá JPY cũng ghi nhận giảm nhẹ trong tuần qua. Cụ thể, tại Vietcombank, JPY giảm 3,45 - 3,67 đồng còn 171,69 - 182,6 VND/JPY; trong khi tại BIDV mức giảm dao động từ 3 - 4 đồng còn 174,51 - 182,24 VND/JPY.

Lãi suất liên ngân hàng nhích tăng, tỷ giá vẫn chưa dừng đà tăng

Theo báo cáo thị trường tiền tệ mới công bố ngày 11/7, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) nhìn nhận, mặc dù USD được dự báo sẽ tiếp tục đà giảm về cuối năm khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dự kiến sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất, các áp lực nội tại sẽ là yếu tố chính góp phần làm tăng áp lực lên tỷ giá.

Tỷ giá có thể lên 26.750 VND/USD do chênh lệch lãi suất chưa thể thu hẹp

"Chênh lệch lãi suất VND-USD có thể tiếp tục nới rộng khi chúng tôi cho rằng lãi suất tiền gửi vẫn còn dư địa giảm trong quý III, trong khi lãi suất quỹ liên bang được dự báo sẽ chỉ giảm từ tháng 9 do thị trường lao động Mỹ vẫn ổn định và áp lực lạm phát còn dai dẳng. Theo đó, chúng tôi dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.600 - 26.750 VND/USD vào cuối năm, tương ứng với mức tăng 4,5 - 5% so với đầu năm" - MBS dự báo.

Nhóm phân tích MBS chỉ rõ, bộ đệm quan trọng cho tỷ giá USD/VND là hoạt động xuất khẩu, được dự báo sẽ chậm lại do các doanh nghiệp phần lớn hoàn tất giao hàng trước thời hạn hoãn thuế quan kết thúc ngày 9/7, kéo theo việc nhu cầu quốc tế có thể giảm thời gian tới.

Trên thực tế, theo báo cáo PMI của S&P trong tháng 6, đơn hàng xuất khẩu giảm liên tục 8 tháng liên tiếp, với mức giảm trong tháng 6 mạnh nhất 2 năm qua. Trong khi đó, Việt Nam có xu hướng tăng nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ với mức thuế suất xấp xỉ 0% để thể hiện thiện chí thu hẹp mức thặng dư thương mại với Mỹ.

Theo Cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2025, kim ngạch nhập khẩu tăng 18% cùng kỳ, trong khi tăng trưởng xuất khẩu chỉ đạt 14,4%, dẫn đến thặng dư thương mại giảm 34,4% cùng kỳ.

Tỷ giá giảm mạnh chỉ sau 1 tuần.
Nguồn: MBS.

Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, đưa lãi suất liên ngân hàng nằm trong vùng mục tiêu và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống. Theo đó, tuần qua, lãi suất liên ngân hàng nhích tăng sau khi giảm mạnh tuần trước. Theo đó, ngày 9/7, lãi suất qua đêm tăng mạnh 0,57%, lên 4,65%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng 0,4%, cũng lên 4,65%; 2 tuần là 4,72%, tăng 0,47%. Lãi suất 1 tháng tăng 0,49% lên 4,91%; 3 tháng 4,75%, với mức tăng thấp nhất 0,15%.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 7 - 11/7, ở kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước chào thầu các kỳ hạn 7 ngày và 91 ngày, lãi suất đều giữ ở mức 4%. Có 71.096,25 tỷ đồng trúng thầu ở cả 2 kỳ hạn; có 61.705 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước kỳ hạn 7 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 21.400 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 3,35 - 3,45%, có 17.400 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Kênh tín phiếu được khởi động lại từ cuối tháng 6 nhằm nâng mặt bằng lãi suất liên ngân hàng để hỗ trợ tỷ giá, khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm liên tục duy trì xu hướng giảm mạnh, thậm chí đã chạm đáy 15 tháng 1,3% vào ngày 23/6.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.391,59 tỷ đồng ra thị trường trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 104.001,2 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 21.400 tỷ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80