Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/7: Dễ thở khi nhiều đồng tiền trượt dốc, lãi suất liên ngân hàng đi lên

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 7 - 11/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng tuần thứ 4 liên tiếp, nhưng tỷ giá USD cùng nhiều ngoại tệ chủ chốt như EUR, GBP, JPY trên thị trường ngân hàng và "chợ đen" đồng loạt giảm. Lãi suất liên ngân hàng nhích lên sau 1 tuần giảm sâu.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Lý giải VND đi ngược xu hướng phục hồi của nhiều đồng tiền Dự báo lạm phát nửa cuối năm, gió ngược tỷ giá và tín dụng tăng tốc sẽ gây áp lực

Ngày 11/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.128 VND/USD, giảm 3 đồng so với phiên liền trước. Với biên độ 5%, tỷ giá trần và sàn tương ứng là 26.384 VND/USD và 23.872 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo tiếp tục được giữ nguyên ở mức 23.922 VND/USD (mua vào) và 26.334 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 4, USD tại ngân hàng và "chợ đen" cùng giảm

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD giữ nguyên so với phiên trước đó. Đơn cử, Vietcombank niêm yết ở mức 25.900 - 26.290 VND/USD (mua vào - bán ra); BIDV cũng không đổi, niêm yết 25.930 - 26.290 VND/USD hai chiều.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD ngày 11/7 giao dịch quanh mức 26.400 - 26.490 VND/USD, không thay đổi so với phiên trước.

Tỷ giá giảm mạnh chỉ sau 1 tuần.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/7: Dễ thở khi nhiều đồng tiền trượt dốc, lãi suất liên ngân hàng đi lên. Ảnh: T.L.

Nhiều đồng tiền chủ chốt đồng loạt giảm sâu

Tính chung tuần qua từ ngày 7 - 11/7, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên đạt 25.128 VND/USD, tiếp nối chuỗi 4 tuần tăng liên tiếp. Trong khi đó, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại và tự do đều giảm, chấm dứt chuỗi tăng trước đó. USD quốc tế phục hồi nhẹ, nhưng vẫn chịu áp lực từ chính sách của Mỹ. Nhiều ngoại tệ như EUR, GBP, JPY sụt giảm so với VND.

Trong tuần giao dịch từ ngày 7 - 11/7, tỷ giá trung tâm ghi nhận mức tăng 12 đồng, với 2/5 phiên tăng giá, tiếp nối chuỗi 4 tuần tăng liên tiếp và đạt 25.128 VND/USD. Tuy nhiên, mức tăng lần này tương đối khiêm tốn so với mức tăng 68 đồng của tuần trước.

Ở chiều ngược lại, tỷ giá USD tại ngân hàng thương mại như Vietcombank và BIDV đều giảm sâu 60 đồng ở cả hai chiều.

Cùng chiều, tỷ giá trên thị trường tự do cũng giảm nhẹ 30 đồng trong tuần, xuống 26.400 - 26.490 VND/USD. So với mức giảm tại ngân hàng thương mại, biến động ở khu vực tự do nhỏ hơn, song chấm dứt 4 tuần liên tiếp tăng nóng 195 đồng hai chiều.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 97,74 điểm, tăng nhẹ 0,8% tuần qua. Đồng USD đang nỗ lực phục hồi sau giai đoạn suy yếu vừa qua, với mức giảm 12% đánh dấu nửa đầu năm tệ nhất kể từ năm 1973. Sau 6 tháng đầy biến động dưới thời Tổng thống Trump, các nhà đầu tư ngày càng có xu hướng giảm phụ thuộc vào Mỹ. Những yếu tố chính gây sức ép lên đồng bạc xanh đến từ lo ngại thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng, có lẽ đáng lo ngại nhất, đó là sự thiếu nhất quán và khó đoán trong chính sách thuế quan của ông Trump.

Cũng trong tuần qua, thị trường ngoại tệ trong nước ghi nhận diễn biến giảm giá đồng loạt ở hầu hết các đồng tiền chủ chốt so với VND. Dữ liệu từ Vietcombank và BIDV ngày 11/7 cho thấy mức điều chỉnh giảm đáng kể, đặc biệt ở các đồng tiền châu Âu như EUR và GBP.

Đơn cử, tỷ giá EUR tại BIDV niêm yết ở mức 30.052 - 30.076 VND/EUR, giảm 337 đồng chiều mua và 367 đồng chiều bán so với tuần trước. Vietcombank niêm yết tỷ giá GBP 34.476 - 35.939.89 VND/GBP, giảm mạnh hơn 400 đồng cả hai chiều chỉ sau 1 tuần.

Tỷ giá JPY cũng ghi nhận giảm nhẹ trong tuần qua. Cụ thể, tại Vietcombank, JPY giảm 3,45 - 3,67 đồng còn 171,69 - 182,6 VND/JPY; trong khi tại BIDV mức giảm dao động từ 3 - 4 đồng còn 174,51 - 182,24 VND/JPY.

Lãi suất liên ngân hàng nhích tăng, tỷ giá vẫn chưa dừng đà tăng

Theo báo cáo thị trường tiền tệ mới công bố ngày 11/7, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) nhìn nhận, mặc dù USD được dự báo sẽ tiếp tục đà giảm về cuối năm khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dự kiến sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất, các áp lực nội tại sẽ là yếu tố chính góp phần làm tăng áp lực lên tỷ giá.

Tỷ giá có thể lên 26.750 VND/USD do chênh lệch lãi suất chưa thể thu hẹp

"Chênh lệch lãi suất VND-USD có thể tiếp tục nới rộng khi chúng tôi cho rằng lãi suất tiền gửi vẫn còn dư địa giảm trong quý III, trong khi lãi suất quỹ liên bang được dự báo sẽ chỉ giảm từ tháng 9 do thị trường lao động Mỹ vẫn ổn định và áp lực lạm phát còn dai dẳng. Theo đó, chúng tôi dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.600 - 26.750 VND/USD vào cuối năm, tương ứng với mức tăng 4,5 - 5% so với đầu năm" - MBS dự báo.

Nhóm phân tích MBS chỉ rõ, bộ đệm quan trọng cho tỷ giá USD/VND là hoạt động xuất khẩu, được dự báo sẽ chậm lại do các doanh nghiệp phần lớn hoàn tất giao hàng trước thời hạn hoãn thuế quan kết thúc ngày 9/7, kéo theo việc nhu cầu quốc tế có thể giảm thời gian tới.

Trên thực tế, theo báo cáo PMI của S&P trong tháng 6, đơn hàng xuất khẩu giảm liên tục 8 tháng liên tiếp, với mức giảm trong tháng 6 mạnh nhất 2 năm qua. Trong khi đó, Việt Nam có xu hướng tăng nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ với mức thuế suất xấp xỉ 0% để thể hiện thiện chí thu hẹp mức thặng dư thương mại với Mỹ.

Theo Cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2025, kim ngạch nhập khẩu tăng 18% cùng kỳ, trong khi tăng trưởng xuất khẩu chỉ đạt 14,4%, dẫn đến thặng dư thương mại giảm 34,4% cùng kỳ.

Tỷ giá giảm mạnh chỉ sau 1 tuần.
Nguồn: MBS.

Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, đưa lãi suất liên ngân hàng nằm trong vùng mục tiêu và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống. Theo đó, tuần qua, lãi suất liên ngân hàng nhích tăng sau khi giảm mạnh tuần trước. Theo đó, ngày 9/7, lãi suất qua đêm tăng mạnh 0,57%, lên 4,65%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng 0,4%, cũng lên 4,65%; 2 tuần là 4,72%, tăng 0,47%. Lãi suất 1 tháng tăng 0,49% lên 4,91%; 3 tháng 4,75%, với mức tăng thấp nhất 0,15%.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 7 - 11/7, ở kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước chào thầu các kỳ hạn 7 ngày và 91 ngày, lãi suất đều giữ ở mức 4%. Có 71.096,25 tỷ đồng trúng thầu ở cả 2 kỳ hạn; có 61.705 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước kỳ hạn 7 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 21.400 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 3,35 - 3,45%, có 17.400 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Kênh tín phiếu được khởi động lại từ cuối tháng 6 nhằm nâng mặt bằng lãi suất liên ngân hàng để hỗ trợ tỷ giá, khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm liên tục duy trì xu hướng giảm mạnh, thậm chí đã chạm đáy 15 tháng 1,3% vào ngày 23/6.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.391,59 tỷ đồng ra thị trường trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 104.001,2 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 21.400 tỷ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị, chuẩn bị bước vào năm học mới, phụ huynh, học sinh, sinh viên chủ động kiểm tra giá trị sử dụng thẻ bảo hiểm y tế sau khi hoàn tất tham gia, nhằm kịp thời phát hiện và phản ánh nếu thông tin chưa được cập nhật hoặc chưa chính xác.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

(TBTCO) - Trong năm 2026, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân tai nạn giao thông. Tại Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa và một số địa phương, các khoản hỗ trợ được trao kịp thời, đúng đối tượng, góp phần chia sẻ khó khăn, giảm bớt gánh nặng cho gia đình người bị nạn. Qua đó, vai trò của Quỹ tiếp tục được phát huy không chỉ trong công tác hỗ trợ nhân đạo mà còn trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn giao thông và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.335,4 USD/ounce, kéo chênh lệch với vàng miếng trong nước lên khoảng 6,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng nhẹ, giá vàng miếng giao dịch quanh 144,3 triệu đồng/lượng.
VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

(TBTCO) - Với không gian trải nghiệm hiện đại và nhiều hoạt động tương tác hấp dẫn, gian hàng VPBank tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 18/8 tại Hà Nội) đã trở thành điểm dừng chân nổi bật tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng 2026. Chuỗi hoạt động giới thiệu sản phẩm, tư vấn giải pháp tài chính và trải nghiệm công nghệ thanh toán mới đã mang đến những góc nhìn trực quan về hành trình chuyển đổi số đang được VPBank đẩy mạnh.
Từ LPBank Plus đến Lộc Phát Shop: LPBank giới thiệu các giải pháp số tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng

Từ LPBank Plus đến Lộc Phát Shop: LPBank giới thiệu các giải pháp số tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng

(TBTCO) - Tham gia sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) giới thiệu hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số với hai điểm nhấn là ứng dụng LPBank Plus và giải pháp Lộc Phát Shop, qua đó khẳng định những bước tiến trong ứng dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng.
BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

(TBTCO) - Mang tới giải pháp chi tiêu an toàn và thuận lợi, BAC A BANK dành tặng thêm chương trình ưu đãi “Mở thẻ mới - Quà tới tay” cho khách hàng mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK Mastercard.
NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

(TBTCO) - NCB dự kiến phát hành riêng lẻ 3,3 tỷ cổ phiếu, huy động 33.000 tỷ đồng. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng lên gần 62.280 tỷ đồng, gấp 3,2 lần đầu năm 2026, đánh dấu 5 lần tăng vốn trong 6 năm và đưa NCB vào top 10 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất thị trường.
Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

(TBTCO) - Phát biểu tại sự kiện “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026”, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, chuyển đổi số càng sâu, những vấn đề mới càng xuất hiện nhanh. Theo đó, toàn ngành cần tập trung 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đổi mới mạnh mẽ, nhưng có trọng tâm, có kiểm soát và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Hà Nội - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Đà Nẵng - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Miền Tây - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Tây Nguyên - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 ▲3300K 145,900 ▲3300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▲330K 14,600 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▲330K 14,600 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▲330K 14,600 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲330K 14,650 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲330K 14,650 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲330K 14,650 ▲330K
NL 99.99 13,650 ▲250K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550 ▲250K
Trang sức 99.9 13,960 ▲330K 14,560 ▲330K
Trang sức 99.99 13,970 ▲330K 14,570 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1254K 14,602 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1254K 14,603 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲33K 1,455 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲33K 1,456 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲33K 144 ▼1263K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲3267K 142,574 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲2475K 108,161 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼77208K 9,808 ▼86028K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲2013K 87,999 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼64955K 8,411 ▼73775K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲1376K 60,204 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1254K 146 ▼1281K
Cập nhật: 20/08/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18097 18371 18944
CAD 18429 18706 19320
CHF 32070 32452 33095
CNY 0 3840 3950
EUR 29919 30142 31219
GBP 34813 35206 36132
HKD 0 3205 3407
JPY 158 162 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15266 15854
SGD 20039 20322 20888
THB 712 775 829
USD (1,2) 25895 0 0
USD (5,10,20) 25935 0 0
USD (50,100) 25964 25978 26343
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,960 25,960 26,340
USD(1-2-5) 24,922 - -
USD(10-20) 24,922 - -
EUR 29,940 29,964 31,383
JPY 160.53 160.82 170.53
GBP 34,958 35,053 36,265
AUD 18,273 18,339 19,032
CAD 18,594 18,654 19,343
CHF 32,301 32,401 33,349
SGD 20,141 20,204 20,996
CNY - 3,814 3,960
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.29 18.03 19.61
THB 759.44 768.82 823.14
NZD 15,225 15,366 15,818
SEK - 2,724 2,820
DKK - 4,015 4,157
NOK - 2,757 2,855
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,045.76 - 6,825.13
TWD 741.14 - 897.85
SAR - 6,845.36 7,210.07
KWD - 82,848 88,150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,995 30,115 31,314
GBP 34,971 35,111 36,149
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 32,179 32,308 33,251
JPY 161.15 161.80 169.78
AUD 18,288 18,361 18,960
SGD 20,225 20,306 20,904
THB 777 780 817
CAD 18,616 18,691 19,289
NZD 15,291 15,839
KRW 17.93 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25970 25970 26340
AUD 18249 18349 19274
CAD 18593 18693 19705
CHF 32306 32336 33918
CNY 3830.9 3855.9 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30083 30113 31839
GBP 35071 35121 36892
HKD 0 3330 0
JPY 161.44 161.94 172.48
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15339 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20182 20312 21043
THB 0 741.4 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 12500000 12500000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,980 26,030 26,380
USD20 25,930 26,030 26,819
USD1 25,880 26,030 26,869
AUD 18,319 18,419 19,553
EUR 29,883 29,983 31,685
CAD 18,542 18,642 19,976
SGD 20,265 20,415 20,998
JPY 162.07 163.57 169.34
GBP 34,969 35,119 36,232
XAU 13,968,000 0 14,272,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 777 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/08/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80