Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/7: Dễ thở khi nhiều đồng tiền trượt dốc, lãi suất liên ngân hàng đi lên

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 7 - 11/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng tuần thứ 4 liên tiếp, nhưng tỷ giá USD cùng nhiều ngoại tệ chủ chốt như EUR, GBP, JPY trên thị trường ngân hàng và "chợ đen" đồng loạt giảm. Lãi suất liên ngân hàng nhích lên sau 1 tuần giảm sâu.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15%
Lý giải VND đi ngược xu hướng phục hồi của nhiều đồng tiền Dự báo lạm phát nửa cuối năm, gió ngược tỷ giá và tín dụng tăng tốc sẽ gây áp lực

Ngày 11/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.128 VND/USD, giảm 3 đồng so với phiên liền trước. Với biên độ 5%, tỷ giá trần và sàn tương ứng là 26.384 VND/USD và 23.872 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo tiếp tục được giữ nguyên ở mức 23.922 VND/USD (mua vào) và 26.334 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 4, USD tại ngân hàng và "chợ đen" cùng giảm

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD giữ nguyên so với phiên trước đó. Đơn cử, Vietcombank niêm yết ở mức 25.900 - 26.290 VND/USD (mua vào - bán ra); BIDV cũng không đổi, niêm yết 25.930 - 26.290 VND/USD hai chiều.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD ngày 11/7 giao dịch quanh mức 26.400 - 26.490 VND/USD, không thay đổi so với phiên trước.

Tỷ giá giảm mạnh chỉ sau 1 tuần.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/7: Dễ thở khi nhiều đồng tiền trượt dốc, lãi suất liên ngân hàng đi lên. Ảnh: T.L.

Nhiều đồng tiền chủ chốt đồng loạt giảm sâu

Tính chung tuần qua từ ngày 7 - 11/7, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên đạt 25.128 VND/USD, tiếp nối chuỗi 4 tuần tăng liên tiếp. Trong khi đó, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại và tự do đều giảm, chấm dứt chuỗi tăng trước đó. USD quốc tế phục hồi nhẹ, nhưng vẫn chịu áp lực từ chính sách của Mỹ. Nhiều ngoại tệ như EUR, GBP, JPY sụt giảm so với VND.

Trong tuần giao dịch từ ngày 7 - 11/7, tỷ giá trung tâm ghi nhận mức tăng 12 đồng, với 2/5 phiên tăng giá, tiếp nối chuỗi 4 tuần tăng liên tiếp và đạt 25.128 VND/USD. Tuy nhiên, mức tăng lần này tương đối khiêm tốn so với mức tăng 68 đồng của tuần trước.

Ở chiều ngược lại, tỷ giá USD tại ngân hàng thương mại như Vietcombank và BIDV đều giảm sâu 60 đồng ở cả hai chiều.

Cùng chiều, tỷ giá trên thị trường tự do cũng giảm nhẹ 30 đồng trong tuần, xuống 26.400 - 26.490 VND/USD. So với mức giảm tại ngân hàng thương mại, biến động ở khu vực tự do nhỏ hơn, song chấm dứt 4 tuần liên tiếp tăng nóng 195 đồng hai chiều.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt hiện ở mức 97,74 điểm, tăng nhẹ 0,8% tuần qua. Đồng USD đang nỗ lực phục hồi sau giai đoạn suy yếu vừa qua, với mức giảm 12% đánh dấu nửa đầu năm tệ nhất kể từ năm 1973. Sau 6 tháng đầy biến động dưới thời Tổng thống Trump, các nhà đầu tư ngày càng có xu hướng giảm phụ thuộc vào Mỹ. Những yếu tố chính gây sức ép lên đồng bạc xanh đến từ lo ngại thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng, có lẽ đáng lo ngại nhất, đó là sự thiếu nhất quán và khó đoán trong chính sách thuế quan của ông Trump.

Cũng trong tuần qua, thị trường ngoại tệ trong nước ghi nhận diễn biến giảm giá đồng loạt ở hầu hết các đồng tiền chủ chốt so với VND. Dữ liệu từ Vietcombank và BIDV ngày 11/7 cho thấy mức điều chỉnh giảm đáng kể, đặc biệt ở các đồng tiền châu Âu như EUR và GBP.

Đơn cử, tỷ giá EUR tại BIDV niêm yết ở mức 30.052 - 30.076 VND/EUR, giảm 337 đồng chiều mua và 367 đồng chiều bán so với tuần trước. Vietcombank niêm yết tỷ giá GBP 34.476 - 35.939.89 VND/GBP, giảm mạnh hơn 400 đồng cả hai chiều chỉ sau 1 tuần.

Tỷ giá JPY cũng ghi nhận giảm nhẹ trong tuần qua. Cụ thể, tại Vietcombank, JPY giảm 3,45 - 3,67 đồng còn 171,69 - 182,6 VND/JPY; trong khi tại BIDV mức giảm dao động từ 3 - 4 đồng còn 174,51 - 182,24 VND/JPY.

Lãi suất liên ngân hàng nhích tăng, tỷ giá vẫn chưa dừng đà tăng

Theo báo cáo thị trường tiền tệ mới công bố ngày 11/7, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) nhìn nhận, mặc dù USD được dự báo sẽ tiếp tục đà giảm về cuối năm khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dự kiến sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất, các áp lực nội tại sẽ là yếu tố chính góp phần làm tăng áp lực lên tỷ giá.

Tỷ giá có thể lên 26.750 VND/USD do chênh lệch lãi suất chưa thể thu hẹp

"Chênh lệch lãi suất VND-USD có thể tiếp tục nới rộng khi chúng tôi cho rằng lãi suất tiền gửi vẫn còn dư địa giảm trong quý III, trong khi lãi suất quỹ liên bang được dự báo sẽ chỉ giảm từ tháng 9 do thị trường lao động Mỹ vẫn ổn định và áp lực lạm phát còn dai dẳng. Theo đó, chúng tôi dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.600 - 26.750 VND/USD vào cuối năm, tương ứng với mức tăng 4,5 - 5% so với đầu năm" - MBS dự báo.

Nhóm phân tích MBS chỉ rõ, bộ đệm quan trọng cho tỷ giá USD/VND là hoạt động xuất khẩu, được dự báo sẽ chậm lại do các doanh nghiệp phần lớn hoàn tất giao hàng trước thời hạn hoãn thuế quan kết thúc ngày 9/7, kéo theo việc nhu cầu quốc tế có thể giảm thời gian tới.

Trên thực tế, theo báo cáo PMI của S&P trong tháng 6, đơn hàng xuất khẩu giảm liên tục 8 tháng liên tiếp, với mức giảm trong tháng 6 mạnh nhất 2 năm qua. Trong khi đó, Việt Nam có xu hướng tăng nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ với mức thuế suất xấp xỉ 0% để thể hiện thiện chí thu hẹp mức thặng dư thương mại với Mỹ.

Theo Cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2025, kim ngạch nhập khẩu tăng 18% cùng kỳ, trong khi tăng trưởng xuất khẩu chỉ đạt 14,4%, dẫn đến thặng dư thương mại giảm 34,4% cùng kỳ.

Tỷ giá giảm mạnh chỉ sau 1 tuần.
Nguồn: MBS.

Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, đưa lãi suất liên ngân hàng nằm trong vùng mục tiêu và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống. Theo đó, tuần qua, lãi suất liên ngân hàng nhích tăng sau khi giảm mạnh tuần trước. Theo đó, ngày 9/7, lãi suất qua đêm tăng mạnh 0,57%, lên 4,65%. Kỳ hạn 1 tuần cũng tăng 0,4%, cũng lên 4,65%; 2 tuần là 4,72%, tăng 0,47%. Lãi suất 1 tháng tăng 0,49% lên 4,91%; 3 tháng 4,75%, với mức tăng thấp nhất 0,15%.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 7 - 11/7, ở kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước chào thầu các kỳ hạn 7 ngày và 91 ngày, lãi suất đều giữ ở mức 4%. Có 71.096,25 tỷ đồng trúng thầu ở cả 2 kỳ hạn; có 61.705 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước kỳ hạn 7 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 21.400 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 3,35 - 3,45%, có 17.400 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Kênh tín phiếu được khởi động lại từ cuối tháng 6 nhằm nâng mặt bằng lãi suất liên ngân hàng để hỗ trợ tỷ giá, khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm liên tục duy trì xu hướng giảm mạnh, thậm chí đã chạm đáy 15 tháng 1,3% vào ngày 23/6.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.391,59 tỷ đồng ra thị trường trong tuần qua qua kênh thị trường mở. Có 104.001,2 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 21.400 tỷ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80