Lý giải VND đi ngược xu hướng phục hồi của nhiều đồng tiền

(TBTCO) - Theo ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước, những ẩn số từ chính sách lãi suất của Fed và diễn biến thuế quan cho thấy kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định. Trong nước, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp từ năm 2022 nhằm hỗ trợ tăng trưởng, song phải đánh đổi tỷ giá và gây áp lực lên dòng vốn. Dù nhiều đồng tiền châu Á đã phục hồi, VND vẫn ghi nhận mức mất giá khoảng 2,7 - 2,8% so với USD.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Thị trường tiền tệ tuần 30/6 - 4/7: Tỷ giá trung tâm lên đỉnh, lãi suất hạ áp nhờ bơm vốn mạnh Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm

Sáng ngày 8/7, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025.

Kinh tế toàn cầu bất định, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt

Phát biểu tại buổi họp báo, ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, những tháng đầu năm 2025, kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, chịu tác động bởi nhiều yếu tố từ các chính sách thuế quan thay đổi nhanh chóng, đến căng thẳng địa chính trị gia tăng.

"Ngay đầu giờ sáng 08/7 giờ Việt Nam, Mỹ công bố mức thuế từ 25 - 40% đối với 14 quốc gia, có hiệu lực từ ngày 01/8, đồng thời cảnh báo sẽ tăng thuế nếu như các quốc gia này có hành động trả đũa, cho thấy nền kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định trong giai đoạn tới" - ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Cùng với đó, lạm phát tuy đã hạ nhiệt về mức mục tiêu, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng trở lại. Như vậy, các rủi ro tiềm ẩn trên thị trường tài chính - tiền tệ thế giới tạo áp lực lên việc điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, lãi suất trong nước, cũng như việc thực hiện mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt mức từ 8% trở lên.

Sáng ngày 8/7, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025.
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà chủ trì buổi họp báo. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước

Nêu bật kết quả điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025, ông Phạm Thanh Hà cho biết, Ngân hàng Nhà nước điều hành nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện linh hoạt, chủ động, phù hợp với diễn biến của thị trường tiền tệ và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.

Về điều hành lãi suất, trong 6 tháng đầu năm 2025, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu giảm lãi suất cho vay.

Về điều hành tỷ giá và thị trường ngoại tệ, ông Phạm Thanh Hà cho rằng, trong bối cảnh tình hình kinh tế - chính trị quốc tế diễn biến khó lường, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành tỷ giá linh hoạt, phối hợp sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Nhờ đó, thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; tỷ giá Việt Nam đồng diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường.

Trong điều hành tín dụng, trên cơ sở các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát năm 2025 do Quốc hội và Chính phủ đề ra, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 16% trong năm 2025, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến và tình hình thực tế.

"Với các giải pháp đồng bộ, tăng trưởng tín dụng đã đạt mức tích cực ngay từ đầu năm và cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm 2024. Tính đến ngày 30/6, tín dụng đối với nền kinh tế đạt trên 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024; tín dụng chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và sản xuất kinh doanh" - ông Hà cho biết.

Công tác cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu tiếp tục được triển khai quyết liệt, góp phần giữ vững sự ổn định và an toàn của hệ thống; năng lực quản trị của các tổ chức tín dụng được nâng cao theo hướng tiệm cận chuẩn mực quốc tế; đồng thời, chú trọng xử lý nợ xấu hiện hữu và hạn chế nợ xấu mới phát sinh.

Chấp nhận đánh đổi tỷ giá để giữ lãi suất thấp

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhận định, chỉ số DXY có thời điểm giảm hơn 10% nửa đầu năm, trong bối cảnh đó, nhiều đồng tiền ở khu vực châu Á đã phục hồi đáng kể. Tuy nhiên, đồng Việt Nam vẫn ghi nhận mức mất giá khoảng 2,7 - 2,8% so với USD, do chịu tác động đồng thời từ nhiều yếu tố trong và ngoài nước.

Một trong những định hướng quan trọng của Ngân hàng Nhà nước là duy trì sức hấp dẫn tương đối của đồng Việt Nam, trong đó lãi suất là một công cụ quan trọng. Việc điều hành giảm mặt bằng lãi suất cho vay trong thời gian qua nhằm tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, với mục tiêu đạt mức tăng trưởng khoảng 8% trong năm nay và duy trì đà phục hồi mạnh mẽ trong các năm tiếp theo.

Sáng ngày 8/7, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025.
Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ trả lời phóng viên về biến động tỷ giá. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

"Trong năm 2024, Ngân hàng Nhà nước đã giảm lãi suất điều hành khoảng 0,6%, tiếp nối chuỗi giảm lãi suất liên tục kể từ năm 2022 đến nay. Việc duy trì lãi suất thấp phải đánh đổi nhất định trong điều hành tỷ giá, giúp các tổ chức tín dụng có thanh khoản, chi phí vốn thấp. Tuy nhiên, duy trì mặt bằng lãi suất thấp khiến chênh lệch lãi suất VND - USD âm, tức đồng USD hấp dẫn hơn. Việc cân đối cung cầu ngoại tệ có những biến động, có hành vi nắm giữ các đồng tiền có lãi suất cao hơn, từ đó, gây nên những áp lực nhất định" - ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết.

Cũng theo ông Quang, mặc dù về tổng thể, cán cân thanh toán vẫn ổn định, ở trạng thái thặng dư, đó chỉ ở khối lượng.

Tuy nhiên, ở trên thị trường ngoại tệ, vấn đề nằm ở lượng - dòng tiền, đặc biệt là dòng vốn gián tiếp nước ngoài đang liên tục rút ròng khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam, tạo áp lực không nhỏ lên tỷ giá. Đây là điểm khác biệt so với nhiều quốc gia châu Á khác, khi USD mất giá thì đang ghi nhận sự quay trở lại của dòng vốn quốc tế.

Dự báo thời gian tới, theo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, thị trường tài chính và tiền tệ toàn cầu sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều bất định. Việc Tổng thống Donald Trump công bố kế hoạch áp thuế quan cao đối với nhiều quốc gia 25 - 40% ngày 8/7 và thời gian tới với các quốc gia khác có thể gây tác động đến chuỗi cung ứng và dòng vốn FDI toàn cầu. Trong khi đó, chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục là biến số khó lường.

Đáng chú ý, với một nền kinh tế có độ mở lớn, kim ngạch xuất nhập khẩu từng tương đương 200% GDP, trong đó thị trường Mỹ đóng vai trò chủ lực, Việt Nam có thể đối mặt với nguy cơ sụt giảm dòng vốn đầu tư và áp lực lớn hơn lên tỷ giá.

Trong nước, những số liệu mới nhất từ Cục Thống kê cho thấy số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao. Đây là tín hiệu cần được theo dõi sát vì có thể ảnh hưởng đến tính bền vững của tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30