Lý giải VND đi ngược xu hướng phục hồi của nhiều đồng tiền

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước, những ẩn số từ chính sách lãi suất của Fed và diễn biến thuế quan cho thấy kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định. Trong nước, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp từ năm 2022 nhằm hỗ trợ tăng trưởng, song phải đánh đổi tỷ giá và gây áp lực lên dòng vốn. Dù nhiều đồng tiền châu Á đã phục hồi, VND vẫn ghi nhận mức mất giá khoảng 2,7 - 2,8% so với USD.
aa
Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Thị trường tiền tệ tuần 30/6 - 4/7: Tỷ giá trung tâm lên đỉnh, lãi suất hạ áp nhờ bơm vốn mạnh Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm

Sáng ngày 8/7, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025.

Kinh tế toàn cầu bất định, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt

Phát biểu tại buổi họp báo, ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, những tháng đầu năm 2025, kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, chịu tác động bởi nhiều yếu tố từ các chính sách thuế quan thay đổi nhanh chóng, đến căng thẳng địa chính trị gia tăng.

"Ngay đầu giờ sáng 08/7 giờ Việt Nam, Mỹ công bố mức thuế từ 25 - 40% đối với 14 quốc gia, có hiệu lực từ ngày 01/8, đồng thời cảnh báo sẽ tăng thuế nếu như các quốc gia này có hành động trả đũa, cho thấy nền kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định trong giai đoạn tới" - ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Cùng với đó, lạm phát tuy đã hạ nhiệt về mức mục tiêu, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng trở lại. Như vậy, các rủi ro tiềm ẩn trên thị trường tài chính - tiền tệ thế giới tạo áp lực lên việc điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, lãi suất trong nước, cũng như việc thực hiện mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt mức từ 8% trở lên.

Sáng ngày 8/7, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025.
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà chủ trì buổi họp báo. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước

Nêu bật kết quả điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025, ông Phạm Thanh Hà cho biết, Ngân hàng Nhà nước điều hành nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện linh hoạt, chủ động, phù hợp với diễn biến của thị trường tiền tệ và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.

Về điều hành lãi suất, trong 6 tháng đầu năm 2025, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu giảm lãi suất cho vay.

Về điều hành tỷ giá và thị trường ngoại tệ, ông Phạm Thanh Hà cho rằng, trong bối cảnh tình hình kinh tế - chính trị quốc tế diễn biến khó lường, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành tỷ giá linh hoạt, phối hợp sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Nhờ đó, thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; tỷ giá Việt Nam đồng diễn biến linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường.

Trong điều hành tín dụng, trên cơ sở các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát năm 2025 do Quốc hội và Chính phủ đề ra, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 16% trong năm 2025, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến và tình hình thực tế.

"Với các giải pháp đồng bộ, tăng trưởng tín dụng đã đạt mức tích cực ngay từ đầu năm và cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm 2024. Tính đến ngày 30/6, tín dụng đối với nền kinh tế đạt trên 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024; tín dụng chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và sản xuất kinh doanh" - ông Hà cho biết.

Công tác cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu tiếp tục được triển khai quyết liệt, góp phần giữ vững sự ổn định và an toàn của hệ thống; năng lực quản trị của các tổ chức tín dụng được nâng cao theo hướng tiệm cận chuẩn mực quốc tế; đồng thời, chú trọng xử lý nợ xấu hiện hữu và hạn chế nợ xấu mới phát sinh.

Chấp nhận đánh đổi tỷ giá để giữ lãi suất thấp

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhận định, chỉ số DXY có thời điểm giảm hơn 10% nửa đầu năm, trong bối cảnh đó, nhiều đồng tiền ở khu vực châu Á đã phục hồi đáng kể. Tuy nhiên, đồng Việt Nam vẫn ghi nhận mức mất giá khoảng 2,7 - 2,8% so với USD, do chịu tác động đồng thời từ nhiều yếu tố trong và ngoài nước.

Một trong những định hướng quan trọng của Ngân hàng Nhà nước là duy trì sức hấp dẫn tương đối của đồng Việt Nam, trong đó lãi suất là một công cụ quan trọng. Việc điều hành giảm mặt bằng lãi suất cho vay trong thời gian qua nhằm tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, với mục tiêu đạt mức tăng trưởng khoảng 8% trong năm nay và duy trì đà phục hồi mạnh mẽ trong các năm tiếp theo.

Sáng ngày 8/7, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025.
Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ trả lời phóng viên về biến động tỷ giá. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước.

"Trong năm 2024, Ngân hàng Nhà nước đã giảm lãi suất điều hành khoảng 0,6%, tiếp nối chuỗi giảm lãi suất liên tục kể từ năm 2022 đến nay. Việc duy trì lãi suất thấp phải đánh đổi nhất định trong điều hành tỷ giá, giúp các tổ chức tín dụng có thanh khoản, chi phí vốn thấp. Tuy nhiên, duy trì mặt bằng lãi suất thấp khiến chênh lệch lãi suất VND - USD âm, tức đồng USD hấp dẫn hơn. Việc cân đối cung cầu ngoại tệ có những biến động, có hành vi nắm giữ các đồng tiền có lãi suất cao hơn, từ đó, gây nên những áp lực nhất định" - ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết.

Cũng theo ông Quang, mặc dù về tổng thể, cán cân thanh toán vẫn ổn định, ở trạng thái thặng dư, đó chỉ ở khối lượng.

Tuy nhiên, ở trên thị trường ngoại tệ, vấn đề nằm ở lượng - dòng tiền, đặc biệt là dòng vốn gián tiếp nước ngoài đang liên tục rút ròng khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam, tạo áp lực không nhỏ lên tỷ giá. Đây là điểm khác biệt so với nhiều quốc gia châu Á khác, khi USD mất giá thì đang ghi nhận sự quay trở lại của dòng vốn quốc tế.

Dự báo thời gian tới, theo Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, thị trường tài chính và tiền tệ toàn cầu sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều bất định. Việc Tổng thống Donald Trump công bố kế hoạch áp thuế quan cao đối với nhiều quốc gia 25 - 40% ngày 8/7 và thời gian tới với các quốc gia khác có thể gây tác động đến chuỗi cung ứng và dòng vốn FDI toàn cầu. Trong khi đó, chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục là biến số khó lường.

Đáng chú ý, với một nền kinh tế có độ mở lớn, kim ngạch xuất nhập khẩu từng tương đương 200% GDP, trong đó thị trường Mỹ đóng vai trò chủ lực, Việt Nam có thể đối mặt với nguy cơ sụt giảm dòng vốn đầu tư và áp lực lớn hơn lên tỷ giá.

Trong nước, những số liệu mới nhất từ Cục Thống kê cho thấy số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao. Đây là tín hiệu cần được theo dõi sát vì có thể ảnh hưởng đến tính bền vững của tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80