Thị trường tiền tệ tuần 30/6 - 4/7: Tỷ giá trung tâm lên đỉnh, lãi suất hạ áp nhờ bơm vốn mạnh

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng lên mức kỷ lục 25.116 VND/USD, cùng đà tăng mạnh của USD, EUR tại các ngân hàng thương mại. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất hạ nhiệt sau cú tăng sốc đầu tuần, sau khi nhà điều hành bơm gần 53 nghìn tỷ đồng hỗ trợ thanh khoản.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6: Tỷ giá vọt đỉnh, lãi suất qua đêm xuống đáy hơn 1 năm Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu

Ngày 4/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng, lên mức kỷ lục mới 25.116 VND/USD, tăng 25 đồng so với phiên trước. Đây là phiên tăng thứ 5 liên tiếp và cũng là mức tăng cao nhất trong tuần.

Với biên độ giao dịch 5%, các ngân hàng thương mại được phép niêm yết tỷ giá USD trong khoảng từ 23.860 - 26.372 VND/USD. Song song với đó, tỷ giá mua - bán tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnh tăng, lên 23.911 - 26.321 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm tăng 5 phiên, USD và EUR cùng bật tăng

Tại các ngân hàng thương mại, kết phiên 4/7, tỷ giá USD bán ra ghi nhận phiên tăng thứ 4 liên tiếp, phản ánh lực cầu ngoại tệ duy trì ở mức cao và tâm lý kỳ vọng tỷ giá tiếp tục đi lên trong ngắn hạn.

Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.960 - 26.350 VND/USD, giảm 15 đồng chiều mua vào, song tăng 5 đồng chiều bán ra so với phiên trước. BIDV là 25.990 - 26.350 VND/USD, tăng 16 đồng chiều mua vào và 5 đồng chiều bán ra.

Tỷ giá trung tâm lên kỷ lục 25.116 VND/USD

Tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng lên mức kỷ lục 25.116 VND/USD, ghi nhận phiên tăng thứ 5 liên tiếp. Cùng với đó, tỷ giá USD tiếp tục tăng tại các ngân hàng thương mại. Trong khi USD, EUR bật tăng rõ nét, còn GBP giảm và JPY gần như đi ngang.

Tính chung tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng liên tiếp 5 phiên, với tổng mức tăng 64 đồng, tăng mạnh so với tuần trước (17 đồng). Diễn biến này cho thấy xu hướng điều chỉnh tỷ giá rõ rệt từ phía nhà điều hành.

Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại cũng tăng tốc theo đà tăng chung. Tại Vietcombank, tỷ giá USD niêm yết 25.960 - 26.350 VND/USD, tương ứng tăng 80 đồng hai chiều, đảo chiều so với mức giảm nhẹ 12 đồng của tuần trước. Tỷ giá USD tại BIDV cũng tăng 80 đồng cả hai chiều.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD cũng tăng mạnh, chốt tuần ở mức 26.420 - 26.520 VND/USD, tăng 50 đồng so với tuần trước.

Ngày 4/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục được điều chỉnh tăng
Thị trường tiền tệ tuần 30/6 - 4/7: Tỷ giá trung tâm lên đỉnh, lãi suất hạ áp nhờ bơm vốn mạnh. Ảnh: T.L.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, tiếp đà giảm nhẹ 0,5% tuần qua, xuống còn 96,94 điểm, do lo ngại về thâm hụt ngân sách của chính phủ Mỹ gia tăng và triển vọng không chắc chắn xung quanh các thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế hàng đầu khi thời điểm ngày 9/7 đang đến gần.

Theo nhìn nhận của Trung tâm phân tích nghiên cứu thuộc Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS), tỷ giá VND/USD tiếp tục gặp áp lực bất chấp DXY hạ nhiệt, điều này có thể phần nào bởi áp lực từ nhu cầu USD thương mại và dòng vốn ngoại.

Với các ngoại tệ khác, tuần giao dịch kết thúc ngày 4/7 ghi nhận biến động trái chiều, với EUR bật tăng mạnh, trong khi GBP giảm sâu, còn JPY gần như đi ngang.

Đáng chú ý nhất là đồng Euro (EUR) tiếp tục bứt phá mạnh mẽ. Tại BIDV, tỷ giá EUR niêm yết ở mức 30.389 - 31.655 VND/EUR, tăng 295 đồng chiều mua và 313 đồng chiều bán ra chỉ trong 1 tuần. Vietcombank cũng ghi nhận mức tăng tương đương 272 đồng chiều mua và 287 đồng chiều bán, lên 30.036,65 - 31.651,28 VND/EUR. Ngược lại, bảng Anh (GBP) sụt giảm nhẹ, trong khi đó, JPY lại ổn định nhất trong tuần.

Lãi suất qua đêm tạm dịu sau cú bật tăng lên 6,45%/năm

Theo VPBankS, thời gian tới, dù sức mạnh đồng USD có xu hướng giảm nhiệt do từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ cắt giảm lãi suất vào cuối quý III/2025 và bất ổn thương mại, nhưng tỷ giá VND/USD vẫn sẽ gặp nhiều áp lực từ những biến động kinh tế - chính trị toàn cầu và những điều chỉnh liên tục trong chính sách thương mại quốc tế.

Chưa nguôi sức ép

"Ngân hàng Nhà nước dù áp dụng chính sách linh hoạt kết hợp can thiệp kịp thời qua các phiên bán ngoại tệ kỳ hạn để ổn định thị trường, nhưng nhu cầu nhập khẩu vào mùa cao điểm, cùng với dòng vốn FDI chưa thực sự vững chắc và nguy cơ suy yếu cán cân thương mại sẽ khiến VND khó tránh khỏi sức ép mất giá" - VPBankS nhận định.

Theo ông Trương Đắc Nguyên - Giám đốc đầu tư Công ty cổ phần Blue Horizon Financial, đồng VND liên tục mất giá đang tạo sức ép đáng kể lên các doanh nghiệp nhập khẩu, đặc biệt khi xu hướng này vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Trong bối cảnh chờ đợi các chính sách thuế quan chính thức và thị trường quốc tế biến động khó lường, nhiều doanh nghiệp có tâm lý "găm USD", nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá tiếp tục leo thang hoặc đối mặt với những thay đổi bất ngờ về thuế.

Tuy nhiên, trong khi phần lớn đang chịu áp lực từ đà mất giá, một nhóm khác lại hưởng lợi rõ rệt, đó là lao động Việt Nam ở nước ngoài khi tỷ giá đồng Yên Nhật tăng tới 15% năm qua, đồng Won cũng tăng 5%.

Theo ông Nguyên, tỷ giá là câu chuyện hai mặt, đồng nội tệ mất giá ở mức hợp lý có thể gia tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu, đặc biệt khi đang phải lo về cạnh tranh sau áp thêm thuế. Ở chiều ngược lại, giữ giá sẽ giúp ổn định vĩ mô. Vấn đề cốt lõi nằm ở việc xác định đúng mục tiêu, lựa chọn liều lượng phù hợp và triển khai vào thời điểm hợp lý.

Trong bối cảnh tỷ giá còn sức "căng" nhất định, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, đưa lãi suất liên ngân hàng nằm trong vùng mục tiêu và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống.

Ngày 4/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục được điều chỉnh tăng
Biến động lãi suất liên ngân hàng tháng qua. Ảnh: T.L.

Theo đó, tuần qua 30/6 - 4/7, lãi suất liên ngân hàng bớt nóng sau khi bật tăng mạnh ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, ngày 3/7, lãi suất qua đêm giảm mạnh 0,95%, còn 3,91%. Kỳ hạn 1 tuần cũng giảm 0,82%, xuống 4,03%; 2 tuần là 4,19%, giảm 0,89%. Lãi suất 1 tháng giảm sâu nhất 1,1% chỉ còn 3,82%; 3 tháng xuống 4,5%, giảm 0,5%.

Trước đó, trong phiên đầu tuần ngày 30/6, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bất ngờ tăng vọt các kỳ hạn, trong đó, lãi suất qua đêm tăng sốc 6,45%/năm, gấp gần 4 lần so với mức đáy trước đó (1,62%), đánh dấu mức tăng mạnh và đột ngột nhất kể từ đầu năm đến nay. Cũng trong phiên hôm đó, Ngân hàng Nhà nước bơm tiền quy mô lớn ra thị trường 52.904,4 tỷ đồng, nhằm giải tỏa áp lực thiếu hụt vốn ngắn hạn những ngày cuối quý II.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7, ở kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước chào thầu các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 91 ngày, lãi suất 4%. Có 62.424,19 tỷ đồng trúng thầu; có 58.132,86 tỷ đồng đáo hạn trong tuần qua trên kênh cầm cố.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu kỳ hạn 7 ngày, có 17.400 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 3,5%. Có 22.500 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn tuần qua.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 9.391,33 tỷ đồng qua kênh thị trường mở. Có 94.609,61 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 17.400 tỷ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30