Thị trường tiền tệ tuần 30/6 - 4/7: Tỷ giá trung tâm lên đỉnh, lãi suất hạ áp nhờ bơm vốn mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng lên mức kỷ lục 25.116 VND/USD, cùng đà tăng mạnh của USD, EUR tại các ngân hàng thương mại. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất hạ nhiệt sau cú tăng sốc đầu tuần, sau khi nhà điều hành bơm gần 53 nghìn tỷ đồng hỗ trợ thanh khoản.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6: Tỷ giá vọt đỉnh, lãi suất qua đêm xuống đáy hơn 1 năm Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu

Ngày 4/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng, lên mức kỷ lục mới 25.116 VND/USD, tăng 25 đồng so với phiên trước. Đây là phiên tăng thứ 5 liên tiếp và cũng là mức tăng cao nhất trong tuần.

Với biên độ giao dịch 5%, các ngân hàng thương mại được phép niêm yết tỷ giá USD trong khoảng từ 23.860 - 26.372 VND/USD. Song song với đó, tỷ giá mua - bán tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnh tăng, lên 23.911 - 26.321 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm tăng 5 phiên, USD và EUR cùng bật tăng

Tại các ngân hàng thương mại, kết phiên 4/7, tỷ giá USD bán ra ghi nhận phiên tăng thứ 4 liên tiếp, phản ánh lực cầu ngoại tệ duy trì ở mức cao và tâm lý kỳ vọng tỷ giá tiếp tục đi lên trong ngắn hạn.

Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.960 - 26.350 VND/USD, giảm 15 đồng chiều mua vào, song tăng 5 đồng chiều bán ra so với phiên trước. BIDV là 25.990 - 26.350 VND/USD, tăng 16 đồng chiều mua vào và 5 đồng chiều bán ra.

Tỷ giá trung tâm lên kỷ lục 25.116 VND/USD

Tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng lên mức kỷ lục 25.116 VND/USD, ghi nhận phiên tăng thứ 5 liên tiếp. Cùng với đó, tỷ giá USD tiếp tục tăng tại các ngân hàng thương mại. Trong khi USD, EUR bật tăng rõ nét, còn GBP giảm và JPY gần như đi ngang.

Tính chung tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng liên tiếp 5 phiên, với tổng mức tăng 64 đồng, tăng mạnh so với tuần trước (17 đồng). Diễn biến này cho thấy xu hướng điều chỉnh tỷ giá rõ rệt từ phía nhà điều hành.

Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại cũng tăng tốc theo đà tăng chung. Tại Vietcombank, tỷ giá USD niêm yết 25.960 - 26.350 VND/USD, tương ứng tăng 80 đồng hai chiều, đảo chiều so với mức giảm nhẹ 12 đồng của tuần trước. Tỷ giá USD tại BIDV cũng tăng 80 đồng cả hai chiều.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD cũng tăng mạnh, chốt tuần ở mức 26.420 - 26.520 VND/USD, tăng 50 đồng so với tuần trước.

Ngày 4/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục được điều chỉnh tăng
Thị trường tiền tệ tuần 30/6 - 4/7: Tỷ giá trung tâm lên đỉnh, lãi suất hạ áp nhờ bơm vốn mạnh. Ảnh: T.L.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, tiếp đà giảm nhẹ 0,5% tuần qua, xuống còn 96,94 điểm, do lo ngại về thâm hụt ngân sách của chính phủ Mỹ gia tăng và triển vọng không chắc chắn xung quanh các thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế hàng đầu khi thời điểm ngày 9/7 đang đến gần.

Theo nhìn nhận của Trung tâm phân tích nghiên cứu thuộc Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS), tỷ giá VND/USD tiếp tục gặp áp lực bất chấp DXY hạ nhiệt, điều này có thể phần nào bởi áp lực từ nhu cầu USD thương mại và dòng vốn ngoại.

Với các ngoại tệ khác, tuần giao dịch kết thúc ngày 4/7 ghi nhận biến động trái chiều, với EUR bật tăng mạnh, trong khi GBP giảm sâu, còn JPY gần như đi ngang.

Đáng chú ý nhất là đồng Euro (EUR) tiếp tục bứt phá mạnh mẽ. Tại BIDV, tỷ giá EUR niêm yết ở mức 30.389 - 31.655 VND/EUR, tăng 295 đồng chiều mua và 313 đồng chiều bán ra chỉ trong 1 tuần. Vietcombank cũng ghi nhận mức tăng tương đương 272 đồng chiều mua và 287 đồng chiều bán, lên 30.036,65 - 31.651,28 VND/EUR. Ngược lại, bảng Anh (GBP) sụt giảm nhẹ, trong khi đó, JPY lại ổn định nhất trong tuần.

Lãi suất qua đêm tạm dịu sau cú bật tăng lên 6,45%/năm

Theo VPBankS, thời gian tới, dù sức mạnh đồng USD có xu hướng giảm nhiệt do từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ cắt giảm lãi suất vào cuối quý III/2025 và bất ổn thương mại, nhưng tỷ giá VND/USD vẫn sẽ gặp nhiều áp lực từ những biến động kinh tế - chính trị toàn cầu và những điều chỉnh liên tục trong chính sách thương mại quốc tế.

Chưa nguôi sức ép

"Ngân hàng Nhà nước dù áp dụng chính sách linh hoạt kết hợp can thiệp kịp thời qua các phiên bán ngoại tệ kỳ hạn để ổn định thị trường, nhưng nhu cầu nhập khẩu vào mùa cao điểm, cùng với dòng vốn FDI chưa thực sự vững chắc và nguy cơ suy yếu cán cân thương mại sẽ khiến VND khó tránh khỏi sức ép mất giá" - VPBankS nhận định.

Theo ông Trương Đắc Nguyên - Giám đốc đầu tư Công ty cổ phần Blue Horizon Financial, đồng VND liên tục mất giá đang tạo sức ép đáng kể lên các doanh nghiệp nhập khẩu, đặc biệt khi xu hướng này vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Trong bối cảnh chờ đợi các chính sách thuế quan chính thức và thị trường quốc tế biến động khó lường, nhiều doanh nghiệp có tâm lý "găm USD", nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá tiếp tục leo thang hoặc đối mặt với những thay đổi bất ngờ về thuế.

Tuy nhiên, trong khi phần lớn đang chịu áp lực từ đà mất giá, một nhóm khác lại hưởng lợi rõ rệt, đó là lao động Việt Nam ở nước ngoài khi tỷ giá đồng Yên Nhật tăng tới 15% năm qua, đồng Won cũng tăng 5%.

Theo ông Nguyên, tỷ giá là câu chuyện hai mặt, đồng nội tệ mất giá ở mức hợp lý có thể gia tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu, đặc biệt khi đang phải lo về cạnh tranh sau áp thêm thuế. Ở chiều ngược lại, giữ giá sẽ giúp ổn định vĩ mô. Vấn đề cốt lõi nằm ở việc xác định đúng mục tiêu, lựa chọn liều lượng phù hợp và triển khai vào thời điểm hợp lý.

Trong bối cảnh tỷ giá còn sức "căng" nhất định, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, đưa lãi suất liên ngân hàng nằm trong vùng mục tiêu và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống.

Ngày 4/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục được điều chỉnh tăng
Biến động lãi suất liên ngân hàng tháng qua. Ảnh: T.L.

Theo đó, tuần qua 30/6 - 4/7, lãi suất liên ngân hàng bớt nóng sau khi bật tăng mạnh ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, ngày 3/7, lãi suất qua đêm giảm mạnh 0,95%, còn 3,91%. Kỳ hạn 1 tuần cũng giảm 0,82%, xuống 4,03%; 2 tuần là 4,19%, giảm 0,89%. Lãi suất 1 tháng giảm sâu nhất 1,1% chỉ còn 3,82%; 3 tháng xuống 4,5%, giảm 0,5%.

Trước đó, trong phiên đầu tuần ngày 30/6, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bất ngờ tăng vọt các kỳ hạn, trong đó, lãi suất qua đêm tăng sốc 6,45%/năm, gấp gần 4 lần so với mức đáy trước đó (1,62%), đánh dấu mức tăng mạnh và đột ngột nhất kể từ đầu năm đến nay. Cũng trong phiên hôm đó, Ngân hàng Nhà nước bơm tiền quy mô lớn ra thị trường 52.904,4 tỷ đồng, nhằm giải tỏa áp lực thiếu hụt vốn ngắn hạn những ngày cuối quý II.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7, ở kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước chào thầu các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 91 ngày, lãi suất 4%. Có 62.424,19 tỷ đồng trúng thầu; có 58.132,86 tỷ đồng đáo hạn trong tuần qua trên kênh cầm cố.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu kỳ hạn 7 ngày, có 17.400 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 3,5%. Có 22.500 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn tuần qua.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 9.391,33 tỷ đồng qua kênh thị trường mở. Có 94.609,61 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 17.400 tỷ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần lập đỉnh và mảng dịch vụ tăng trưởng tích cực. Dư nợ cho vay hợp nhất đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm, trong khi kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.
Giá vàng hôm nay ngày 29/4: Giá vàng trong nước giảm sâu về vùng 162,5 - 166 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 29/4: Giá vàng trong nước giảm sâu về vùng 162,5 - 166 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/4 tiếp tục điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức giảm phổ biến 1,5 - 1,9 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 29/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.113 đồng, kéo biên độ giao dịch USD tại ngân hàng lên 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD, trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. DXY lùi về 98,6 điểm, giá dầu hạ nhiệt sau thông tin UAE rời OPEC nhưng vẫn nhạy cảm trước rủi ro địa chính trị, khi WB cảnh báo giá năng lượng có thể tăng 24% trong năm 2026, kéo theo áp lực lạm phát gia tăng.
Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (mã ck: VIB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với lợi nhuận trước thuế đạt hơn 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025.
F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

(TBTCO) - Quý I/2026, lợi nhuận trước thuế của F88 đạt 303 tỷ đồng, tăng 129,4% so với cùng kỳ; dư nợ cho vay đạt gần 7.900 tỷ đồng, tăng 9,4%. Tính đến hết tháng 3/2026, tổng vay và trái phiếu phát hành của F88 đạt khoảng 3.960,8 tỷ đồng, tăng khoảng 10,5% so với đầu năm.
Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

(TBTCO) - Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các ngân hàng và ví điện tử tại Việt Nam đang mở rộng từ dịch vụ tài chính cơ bản sang mô hình hệ sinh thái tích hợp. Người dùng không chỉ chuyển tiền hay thanh toán, mà còn kỳ vọng thực hiện nhiều nhu cầu tài chính trên cùng một nền tảng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 16,550
Nguyên Liệu 99.99 15,150 15,350
Nguyên Liệu 99.9 15,100 15,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 30/04/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/04/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80