Thị trường tiền tệ tuần 30/6 - 4/7: Tỷ giá trung tâm lên đỉnh, lãi suất hạ áp nhờ bơm vốn mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng lên mức kỷ lục 25.116 VND/USD, cùng đà tăng mạnh của USD, EUR tại các ngân hàng thương mại. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất hạ nhiệt sau cú tăng sốc đầu tuần, sau khi nhà điều hành bơm gần 53 nghìn tỷ đồng hỗ trợ thanh khoản.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6: Tỷ giá vọt đỉnh, lãi suất qua đêm xuống đáy hơn 1 năm Thị trường tiền tệ 6 tháng đầu năm: Tín phiếu tái xuất khi tỷ giá đồng loạt đi lên, EUR tăng vọt 15% Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu

Ngày 4/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng, lên mức kỷ lục mới 25.116 VND/USD, tăng 25 đồng so với phiên trước. Đây là phiên tăng thứ 5 liên tiếp và cũng là mức tăng cao nhất trong tuần.

Với biên độ giao dịch 5%, các ngân hàng thương mại được phép niêm yết tỷ giá USD trong khoảng từ 23.860 - 26.372 VND/USD. Song song với đó, tỷ giá mua - bán tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnh tăng, lên 23.911 - 26.321 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm tăng 5 phiên, USD và EUR cùng bật tăng

Tại các ngân hàng thương mại, kết phiên 4/7, tỷ giá USD bán ra ghi nhận phiên tăng thứ 4 liên tiếp, phản ánh lực cầu ngoại tệ duy trì ở mức cao và tâm lý kỳ vọng tỷ giá tiếp tục đi lên trong ngắn hạn.

Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.960 - 26.350 VND/USD, giảm 15 đồng chiều mua vào, song tăng 5 đồng chiều bán ra so với phiên trước. BIDV là 25.990 - 26.350 VND/USD, tăng 16 đồng chiều mua vào và 5 đồng chiều bán ra.

Tỷ giá trung tâm lên kỷ lục 25.116 VND/USD

Tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng lên mức kỷ lục 25.116 VND/USD, ghi nhận phiên tăng thứ 5 liên tiếp. Cùng với đó, tỷ giá USD tiếp tục tăng tại các ngân hàng thương mại. Trong khi USD, EUR bật tăng rõ nét, còn GBP giảm và JPY gần như đi ngang.

Tính chung tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng liên tiếp 5 phiên, với tổng mức tăng 64 đồng, tăng mạnh so với tuần trước (17 đồng). Diễn biến này cho thấy xu hướng điều chỉnh tỷ giá rõ rệt từ phía nhà điều hành.

Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại cũng tăng tốc theo đà tăng chung. Tại Vietcombank, tỷ giá USD niêm yết 25.960 - 26.350 VND/USD, tương ứng tăng 80 đồng hai chiều, đảo chiều so với mức giảm nhẹ 12 đồng của tuần trước. Tỷ giá USD tại BIDV cũng tăng 80 đồng cả hai chiều.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD cũng tăng mạnh, chốt tuần ở mức 26.420 - 26.520 VND/USD, tăng 50 đồng so với tuần trước.

Ngày 4/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục được điều chỉnh tăng
Thị trường tiền tệ tuần 30/6 - 4/7: Tỷ giá trung tâm lên đỉnh, lãi suất hạ áp nhờ bơm vốn mạnh. Ảnh: T.L.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, tiếp đà giảm nhẹ 0,5% tuần qua, xuống còn 96,94 điểm, do lo ngại về thâm hụt ngân sách của chính phủ Mỹ gia tăng và triển vọng không chắc chắn xung quanh các thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế hàng đầu khi thời điểm ngày 9/7 đang đến gần.

Theo nhìn nhận của Trung tâm phân tích nghiên cứu thuộc Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS), tỷ giá VND/USD tiếp tục gặp áp lực bất chấp DXY hạ nhiệt, điều này có thể phần nào bởi áp lực từ nhu cầu USD thương mại và dòng vốn ngoại.

Với các ngoại tệ khác, tuần giao dịch kết thúc ngày 4/7 ghi nhận biến động trái chiều, với EUR bật tăng mạnh, trong khi GBP giảm sâu, còn JPY gần như đi ngang.

Đáng chú ý nhất là đồng Euro (EUR) tiếp tục bứt phá mạnh mẽ. Tại BIDV, tỷ giá EUR niêm yết ở mức 30.389 - 31.655 VND/EUR, tăng 295 đồng chiều mua và 313 đồng chiều bán ra chỉ trong 1 tuần. Vietcombank cũng ghi nhận mức tăng tương đương 272 đồng chiều mua và 287 đồng chiều bán, lên 30.036,65 - 31.651,28 VND/EUR. Ngược lại, bảng Anh (GBP) sụt giảm nhẹ, trong khi đó, JPY lại ổn định nhất trong tuần.

Lãi suất qua đêm tạm dịu sau cú bật tăng lên 6,45%/năm

Theo VPBankS, thời gian tới, dù sức mạnh đồng USD có xu hướng giảm nhiệt do từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ cắt giảm lãi suất vào cuối quý III/2025 và bất ổn thương mại, nhưng tỷ giá VND/USD vẫn sẽ gặp nhiều áp lực từ những biến động kinh tế - chính trị toàn cầu và những điều chỉnh liên tục trong chính sách thương mại quốc tế.

Chưa nguôi sức ép

"Ngân hàng Nhà nước dù áp dụng chính sách linh hoạt kết hợp can thiệp kịp thời qua các phiên bán ngoại tệ kỳ hạn để ổn định thị trường, nhưng nhu cầu nhập khẩu vào mùa cao điểm, cùng với dòng vốn FDI chưa thực sự vững chắc và nguy cơ suy yếu cán cân thương mại sẽ khiến VND khó tránh khỏi sức ép mất giá" - VPBankS nhận định.

Theo ông Trương Đắc Nguyên - Giám đốc đầu tư Công ty cổ phần Blue Horizon Financial, đồng VND liên tục mất giá đang tạo sức ép đáng kể lên các doanh nghiệp nhập khẩu, đặc biệt khi xu hướng này vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Trong bối cảnh chờ đợi các chính sách thuế quan chính thức và thị trường quốc tế biến động khó lường, nhiều doanh nghiệp có tâm lý "găm USD", nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá tiếp tục leo thang hoặc đối mặt với những thay đổi bất ngờ về thuế.

Tuy nhiên, trong khi phần lớn đang chịu áp lực từ đà mất giá, một nhóm khác lại hưởng lợi rõ rệt, đó là lao động Việt Nam ở nước ngoài khi tỷ giá đồng Yên Nhật tăng tới 15% năm qua, đồng Won cũng tăng 5%.

Theo ông Nguyên, tỷ giá là câu chuyện hai mặt, đồng nội tệ mất giá ở mức hợp lý có thể gia tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu, đặc biệt khi đang phải lo về cạnh tranh sau áp thêm thuế. Ở chiều ngược lại, giữ giá sẽ giúp ổn định vĩ mô. Vấn đề cốt lõi nằm ở việc xác định đúng mục tiêu, lựa chọn liều lượng phù hợp và triển khai vào thời điểm hợp lý.

Trong bối cảnh tỷ giá còn sức "căng" nhất định, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, đưa lãi suất liên ngân hàng nằm trong vùng mục tiêu và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống.

Ngày 4/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục được điều chỉnh tăng
Biến động lãi suất liên ngân hàng tháng qua. Ảnh: T.L.

Theo đó, tuần qua 30/6 - 4/7, lãi suất liên ngân hàng bớt nóng sau khi bật tăng mạnh ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, ngày 3/7, lãi suất qua đêm giảm mạnh 0,95%, còn 3,91%. Kỳ hạn 1 tuần cũng giảm 0,82%, xuống 4,03%; 2 tuần là 4,19%, giảm 0,89%. Lãi suất 1 tháng giảm sâu nhất 1,1% chỉ còn 3,82%; 3 tháng xuống 4,5%, giảm 0,5%.

Trước đó, trong phiên đầu tuần ngày 30/6, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bất ngờ tăng vọt các kỳ hạn, trong đó, lãi suất qua đêm tăng sốc 6,45%/năm, gấp gần 4 lần so với mức đáy trước đó (1,62%), đánh dấu mức tăng mạnh và đột ngột nhất kể từ đầu năm đến nay. Cũng trong phiên hôm đó, Ngân hàng Nhà nước bơm tiền quy mô lớn ra thị trường 52.904,4 tỷ đồng, nhằm giải tỏa áp lực thiếu hụt vốn ngắn hạn những ngày cuối quý II.

Trên thị trường mở tuần qua từ ngày 30/6 - 4/7, ở kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước chào thầu các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 91 ngày, lãi suất 4%. Có 62.424,19 tỷ đồng trúng thầu; có 58.132,86 tỷ đồng đáo hạn trong tuần qua trên kênh cầm cố.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước chào thầu tín phiếu kỳ hạn 7 ngày, có 17.400 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 3,5%. Có 22.500 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn tuần qua.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 9.391,33 tỷ đồng qua kênh thị trường mở. Có 94.609,61 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố, có 17.400 tỷ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước lưu hành trên thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80