Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6: Tỷ giá vọt đỉnh, lãi suất qua đêm xuống đáy hơn 1 năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần từ ngày 16 đến 20/6 ghi nhận diễn biến đáng chú ý khi tỷ giá USD/VND tăng mạnh, tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới ở mức 25.031 VND/USD. Trong bối cảnh tỷ giá căng thẳng, hoạt động thị trường mở trầm lắng, lãi suất liên ngân hàng xuống mức thấp nhất hơn 1 năm, lãi suất qua đêm chỉ còn 1,67%.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà Giải mã diễn biến tỷ giá khác thường, VND đi ngược xu hướng dù USD suy yếu

Ngày 20/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.031 VND/USD, tăng thêm 6 đồng so với phiên trước đó và đánh dấu mức cao nhất trong lịch sử. Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần và sàn được điều chỉnh tương ứng lên 26.283 VND/USD và 23.779 VND/USD. Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo nâng lên tương ứng 23.830 VND/USD (mua vào) và 26.232 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá USD lên kịch trần tại ngân hàng dù đồng bạc xanh suy yếu

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD cũng ghi nhận mức tăng nhẹ. Vietcombank niêm yết ở mức 25.892 - 26.282 VND/USD, tăng 6 đồng ở cả hai chiều. Còn BIDV đều niêm yết giá mua vào và bán ra ở mức 25.922 - 26.282 VND/USD, cũng tăng 6 đồng hai chiều. Tính chung tuần qua, cả Vietcombank và BIDV đều điều chỉnh tăng mạnh tỷ giá bán USD ra thêm 59 đồng so với cuối tuần trước.

Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6
Diễn biến tỷ giá USD/VND 1 tháng qua. Ảnh: T.L.

Tỷ giá trung tâm lên kỷ lục 25.031 VND/USD

Tuần qua 16 - 20/6, tỷ giá USD/VND ghi nhận xu hướng tăng mạnh cả tỷ giá trung tâm và tỷ giá bán ra của các ngân hàng thương mại. Theo đó, tỷ giá trung tâm tăng tổng cộng 56 đồng so với cuối tuần trước, lên mức 25.031 VND/USD, trong đó có 4/5 phiên trong tuần đều điều chỉnh tăng. Tỷ giá bán ra USD tại các ngân hàng thương mại cũng tăng 59 đồng trong cả tuần, lên mức kịch trần 26.282 VND/USD.

Ngược lại, ngày 20/6, tỷ giá USD trên thị trường tự do lại "bình lặng", không thay đổi so với phiên ngày hôm qua, giao dịch ở mức 26.310 - 26.410 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tính chung tuần qua 16 - 20/6, tỷ giá USD "chợ đen" biến động ít hơn, với tỷ giá bán ra ở mức 26.410 VND/USD, trong đó, mức tăng mạnh nhất ngày 19/6, tỷ giá nóng hầm hập trên cả ba kênh giao dịch.

Tỷ giá đồng EUR cũng tăng giá đáng kể tại các ngân hàng thương mại. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá EUR niêm yết 29.323,63 - 30.869,88 VND/EUR, với mức tăng 52 - 55 VND/EUR hai chiều mua vào - bán ra. Tỷ giá bán ra EUR tại BIDV ghi nhận mức tăng khiêm tốn hơn, khoảng 26 đồng, lên 30.886 VND/EUR.

Ngược lại, đồng GBP (bảng Anh) lại giảm mạnh tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết ở mức 34.326,.74 - 35.784,26 tương ứng giảm 86 - 90 VND/GBP hai chiều. Trong khi đó, đồng JPY (yên Nhật) gần như đi ngang. Vietcombank niêm yết ở 173,62 - 184,65 VND/JPY.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, giảm 0,26%, còn 98,65 điểm.

Theo chuyên gia phân tích tại UBS, một tập đoàn tài chính toàn cầu có trụ sở tại Thụy Sỹ, chỉ số USD giảm xuống mức thấp nhất trong 03 năm qua vào tháng 6/2025 và giảm gần 10% so với đầu năm, trong bối cảnh gia tăng bất ổn liên quan đến chính sách thuế quan và triển vọng kinh tế suy yếu của Mỹ. UBS nhận định, các mức thuế quan khắc nghiệt hơn dự kiến của chính quyền Mỹ đã làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư vào vị thế vượt trội của nền kinh tế Mỹ. Đồng thời, những yếu tố này đang thách thức vai trò truyền thống của đồng USD như một tài sản "trú ẩn an toàn" trong môi trường biến động.

UBS dự báo đồng USD sẽ tiếp tục suy yếu trong vòng 12 tháng tới; đồng thời, dự báo tỷ giá EUR/USD sẽ tăng lên mức 1,2 vào tháng 6/2026, phản ánh xu hướng mất giá tiếp diễn của đồng bạc xanh.

Thị trường mở trầm lắng, lãi suất liên ngân hàng lao dốc

Trong báo cáo mới công bố, Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Techcombank nhận định, trong bối cảnh căng thẳng thương mại toàn cầu vẫn tiếp diễn và Việt Nam vẫn chịu mức thuế nhất định, các dòng vốn qua các kênh như dòng ra từ đầu tư gián tiếp hay chuyển lợi nhuận về nước của các doanh nghiệp FDI… có xu hướng tăng lên, từ đó có thể tạo áp lực tăng lên tỷ giá USD/VND.

Điểm tích cực là Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt trong thời gian qua, phần nào giúp tỷ giá VND giữ được sự cân bằng trong bối cảnh quốc tế còn nhiều biến động.

"Năm 2025, chúng tôi dự báo tỷ giá USD/VND sẽ tăng 2 - 3%, nhờ dòng tiền kiều hối ổn định, DXY vẫn ở vùng thấp kết hợp với việc điều hành linh hoạt của NHNN" - nhóm nghiên cứu Techcombank đánh giá.

Theo ông Nguyễn Việt Đức - Giám đốc Kinh doanh Số, Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS), tại các thị trường mới nổi, tỷ giá luôn là yếu tố cần đặc biệt lưu ý vì có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng và lạm phát.

Ông Đức nhận định, chừng nào tỷ giá còn trong tầm kiểm soát, thị trường vẫn có thể duy trì ổn định. Thực tế, những biến động gần đây của thị trường cổ phiếu Hàn Quốc hay Đài Loan đều gắn liền với diễn biến tỷ giá. Tại Việt Nam, các đợt điều chỉnh mạnh trong giai đoạn 2010 - 2012 hay năm 2024 cũng đều xuất phát từ áp lực tỷ giá.

Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6
Thị trường tiền tệ tuần 16 - 20/6: Tỷ giá vọt đỉnh, lãi suất qua đêm xuống đáy hơn 1 năm. Ảnh: T.L.

Ở góc nhìn khác, ông Trần Ngọc Báu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần WiGroup, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ cho rằng, biến động tỷ giá hiện nên được nhìn nhận như một diễn biến bình thường của thị trường. Tỷ giá duy trì quanh vùng cận trên, trong khi dự trữ ngoại hối âm thầm suy giảm. Tuy vậy, tác động lên thị trường chứng khoán không còn gây ra những cú sốc mạnh như trước, mà diễn ra theo hướng thẩm thấu.

Áp lực này không hẳn xuất phát từ thị trường quốc tế, mà VND đang chịu áp lực riêng, khác với xu hướng khu vực. Sức ép này chủ yếu đến từ chênh lệch lãi suất VND - USD kéo dài, cùng áp lực trả nợ nước ngoài gia tăng khiến nhu cầu ngoại tệ lớn, góp phần gia tăng tâm lý găm giữ USD.

Trong bối cảnh diễn biến tỷ giá biến động mạnh, trên thị trường mở tuần qua từ 16/06 - 20/06, ở kênh cầm cố, chỉ có duy nhất phiên 18/6 có 485,31 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 14 ngày, lãi suất 4%. Đáng chú ý, còn lại 4/5 phiên không có khối lượng trúng thầu, Ngân hàng Nhà nước cũng không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. Tuần qua có 8.894,49 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 8.409,18 tỷ đồng khỏi thị trường trong tuần qua. Còn 27.959,93 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Diễn biến đáng chú ý trên thị trường liên ngân hàng tuần qua 13 - 20/6 cho thấy, lãi suất tiếp tục xu hướng giảm rõ nét ở hầu hết các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống dồi dào và nhu cầu vay vốn ngắn hạn suy yếu. Theo đó, lãi suất qua đêm giảm mạnh 2,05%, xuống chỉ còn 1,67%, mức thấp nhất được ghi nhận từ tháng 4/2024. Kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần lần lượt giảm 1,65% và 0,7%, về mức 2,2% và 3,26%. Lãi suất 1 tháng cũng giảm 0,73% xuống còn 3,52%. Ngược lại, kỳ hạn 3 tháng tăng nhẹ 0,47% lên 5,03%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

(TBTCO) - Ngày 22/6/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trong đó, nổi bật là việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, sau chưa đầy 1 tuần công bố dự thảo để lấy ý kiến. Động thái mới được kỳ vọng mở rộng dư địa cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế.
Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

(TBTCO) - Thanh khoản ngân hàng vẫn chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động vốn, đặc biệt vào các giai đoạn "dồn toa", trong khi huy động không theo kịp. Sự suy giảm tỷ trọng tiền gửi khách hàng 13 điểm phần trăm sau khoảng 6 năm còn 68%, cùng áp lực cân đối nguồn vốn đòi hỏi phải phát triển mạnh các kênh dẫn vốn trung và dài hạn.
SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

(TBTCO) - Tại lễ trao giải Vietnam Awards 2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) được The Asian Banker - tổ chức đánh giá và xếp hạng uy tín hàng đầu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại châu Á - trao tặng giải thưởng “Best Merchant Service (Category Micro-Merchant)”.
NCB đồng hành chuyển đổi số ngành du lịch, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế

NCB đồng hành chuyển đổi số ngành du lịch, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đang từng bước khẳng định vai trò đồng hành cùng ngành du lịch qua việc phát triển các giải pháp thanh toán số an toàn, thuận tiện, góp phần tháo gỡ rào cản chi tiêu, gia tăng trải nghiệm cho du khách quốc tế và hỗ trợ doanh nghiệp du lịch nâng cao năng lực cạnh tranh.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17745 18018 18595
CAD 18019 18294 18913
CHF 31839 32220 32876
CNY 0 3838 3932
EUR 29376 29596 30680
GBP 33989 34379 35327
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14652 15240
SGD 19778 20060 20629
THB 708 771 825
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,448
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,581 29,605 30,943
JPY 158.49 158.78 167.98
GBP 34,232 34,325 35,426
AUD 17,979 18,044 18,680
CAD 18,225 18,284 18,913
CHF 32,164 32,264 33,133
SGD 19,920 19,982 20,719
CNY - 3,811 3,947
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.76 16.44 17.84
THB 756.9 766.25 817.94
NZD 14,652 14,788 15,193
SEK - 2,684 2,772
DKK - 3,958 4,087
NOK - 2,657 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,940.34 - 6,690.03
TWD 750.56 - 907.1
SAR - 6,898.04 7,248.34
KWD - 83,341 88,465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,448
EUR 29,513 29,632 30,813
GBP 34,234 34,371 35,383
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 31,999 32,128 33,022
JPY 158.78 159.42 167.22
AUD 18,045 18,117 18,707
SGD 19,998 20,078 20,657
THB 779 782 816
CAD 18,251 18,324 18,884
NZD 0 14,761 15,293
KRW 0 16.41 17.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26132 26132 26448
AUD 17956 18056 18982
CAD 18204 18304 19318
CHF 32079 32109 33695
CNY 3819.7 3844.7 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29572 29602 31327
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3355 0
JPY 159.56 160.06 170.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14777 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20798
THB 0 739 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,448
USD20 26,151 26,201 26,448
USD1 26,151 26,201 26,448
AUD 18,077 18,177 19,285
EUR 29,780 29,780 31,188
CAD 18,184 18,284 19,588
SGD 20,044 20,194 20,757
JPY 159.91 161.41 165.97
GBP 34,257 34,607 35,703
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80