Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần qua (19 - 23/5) ghi nhận tỷ giá trung tâm ổn định ở mức 24.960 VND/USD, trong khi tỷ giá USD tự do giảm mạnh 170 đồng. Nhiều đồng tiền mạnh bật tăng theo đà suy yếu của đồng bạc xanh. Lãi suất liên ngân hàng qua đêm giữ nhịp hợp lý 3,86%, duy trì dưới 4%.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số

Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều

Thử thách giữ mặt bằng lãi suất huy động thấp trong bối cảnh áp lực gia tăng

Ngày 16/5, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm thêm 5 đồng, lên 24.960 VND/USD. Với biên độ dao động 5%, các ngân hàng thương mại được phép niêm yết tỷ giá giao dịch trong khoảng 23.712 VND/USD - 26.208 VND/USD. Đồng thời, tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng tăng, với mức mua vào là 23.762 VND/USD và bán ra là 26.158 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm đứng yên, thị trường tự do giảm nhiệt

Tính trong tuần qua, từ ngày 19 - 23/5, thị trường ngoại hối trong nước ghi nhận diễn biến tương đối ổn định, điều chỉnh nhẹ các phiên trong tuần. Kết tuần, tỷ giá trung tâm giữ nguyên so với cuối tuần trước, ở mức 24.960 VND/USD.

Thị trường ngoại hối trong nước tuần qua (19-23/5) diễn biến ổn định, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 24.960 VND/USD. Tỷ giá USD tại ngân hàng tăng nhẹ, trong khi tỷ giá tự do giảm đáng kể 170 đồng cả hai chiều so với phiên cuối tuần trước. Ở chiều ngược lại, tỷ giá EUR bật tăng mạnh theo đà suy yếu của đồng USD.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD cũng dao động không đáng kể. Đơn cử, Vietcombank bán USD quanh mức 26.120 - 26.150 VND/USD, mức giá chốt phiên ngày 23/5 là 26.130 VND/USD, tăng nhẹ 10 đồng so với đầu tuần và tăng 20 đồng so với tuần trước. Kết phiên ngày 23/5, BIDV giao dịch ở mức 25.775 - 26.135 VND/USD, giảm 20 đồng so với phiên hôm qua, song tăng nhẹ 25 đồng hai chiều cả tuần.

Trong khi đó, tỷ giá USD tự do trong tuần giảm đáng kể. Từ mức 26.420 VND/USD đầu tuần, tỷ giá tự do giảm còn 26.380 VND/USD vào ngày 23/5, tương đương mức giảm 40 đồng trong tuần và giảm tới 170 đồng so với phiên cuối tuần trước. Diễn biến này phản ánh nguồn cung USD trên thị trường tự do đang dồi dào, trong khi nhu cầu nắm giữ ngoại tệ không còn nhiều áp lực.

Ở chiều ngược lại, tỷ giá EUR ghi nhận mức tăng đáng kể. Ngày 23/5, tỷ giá bán ra EUR tại ngân hàng Vietcombank đạt 30.170,45 VND/EUR, tăng khá mạnh 327 đồng so với đầu tuần, đảo chiều so với mức giảm 170 đồng so với cùng kỳ tuần trước.

Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà
Biến động tỷ giá USD/VND thời gian qua. Ảnh: T.L.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt giảm 0,67%, đạt mức 99,17 điểm, tiếp đà giảm trong tuần trước, khi thị trường phản ứng trước các rủi ro liên quan đến chính sách thuế quan của Tổng thống Trump khiến đồng USD suy yếu trên hầu hết các cặp tiền tệ chính. Các đồng EUR, GBP, JPY và CAD đều ghi nhận mức tăng, không chỉ nhờ các yếu tố nội tại tích cực, mà còn do làn sóng bán tháo rộng rãi đối với đồng bạc xanh.

Đơn cử, EUR/USD tăng lên 1,133 nhờ hưởng lợi kép từ đà suy yếu của đồng USD và tâm lý lạc quan trên thị trường, sau khi Tổng thống Mỹ không giành được sự ủng hộ đầy đủ về dự luật thuế mở rộng do ông đề xuất. Còn GBP/USD tăng lên 1,3488, mức cao nhất kể từ tháng 02/2022, sau khi CPI của Anh bất ngờ tăng trong tháng 4, làm giảm kỳ vọng về việc Ngân hàng Anh cắt giảm lãi suất trong thời gian tới.

Đồng USD suy yếu cũng phản ánh lập trường thận trọng từ các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), cùng với kỳ vọng trong bối cảnh các mức thuế cao dần gỡ bỏ, Mỹ có ít động lực hơn để duy trì đồng USD mạnh tại các cuộc thảo luận G7 đang diễn ra.

Điều tiết thanh khoản, kiểm soát lãi suất liên ngân hàng

Trong báo cáo cập nhật vĩ mô mới phát hành, Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS) cho biết, NHNN nhiều lần điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm từ đầu 2025. Về những yếu tố tạo lực đỡ cho tỷ giá, theo nhóm phân tích, Việt Nam tiếp tục duy trì thặng dư thương mại hàng hóa, chủ yếu nhờ xuất siêu mạnh sang Mỹ và EU. Cùng với đó, Chính phủ đang tăng cường kiểm soát gian lận xuất xứ và đa dạng hóa thị trường để giảm thiểu rủi ro từ căng thẳng thương mại Mỹ - Việt.

Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà
Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà. Ảnh: T.L.

Tỷ giá chưa hết "sóng gió"

"Tỷ giá VND/USD sẽ tiếp tục chịu áp lực từ bất ổn kinh tế chính trị toàn cầu và thay đổi liên tục trong chính sách thương mại quốc tế, dù đồng USD có dấu hiệu hạ nhiệt khi thị trường bắt đầu kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất vào cuối quý III/2025. Trong nước, dù NHNN duy trì chính sách điều hành linh hoạt, kết hợp can thiệp kịp thời qua các phiên bản ngoại tệ kỳ hạn, áp lực từ nhu cầu nhập khẩu mùa cao điểm, cùng với dòng vốn FDI chưa ổn định hoàn toàn và rủi ro suy yếu từ cán cân thương mại khiến VND khó khăn để giữ vững giá" - nhóm phân tích từ VPBankS đánh giá.

Tại thị trường mở (OMO) NHNN tích cực điều tiết thanh khoản. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt, NHNN quay trở lại hút ròng chỉ 1.325,15 tỷ đồng.

Tuần qua, NHNN cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh OMO, với khối lượng đạt 24.953,82 tỷ đồng 19 - 23/05. Trong khi đó, khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 26.278,97 tỷ đồng. Lượng OMO đang lưu hành giảm còn 44.901,5 tỷ đồng.

Từ đầu tháng 4 đến nay, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng duy trì dao động quanh mốc 4%/năm cho hầu hết kỳ hạn, với xu hướng biến động nhẹ theo nhịp bơm - rút thanh khoản của NHNN.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận diễn biến phân hóa nhẹ giữa các kỳ hạn, phản ánh sự điều chỉnh cung - cầu thanh khoản trên thị trường. Theo đó, lãi suất qua đêm tăng lên 3,86%, tăng 8 điểm cơ bản so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần cũng tăng nhẹ lên 3,95% (tăng 3 điểm cơ bản). Riêng kỳ hạn 1 tháng tăng mạnh lên 4,30% (tăng 17 điểm cơ bản).

Ngược lại, kỳ hạn 2 tuần giảm nhẹ xuống 4,11% (giảm 2 điểm cơ bản). Ở kỳ hạn dài hơn, lãi suất 3 tháng duy trì ổn định quanh vùng 4,61 - 4,74%, kết tuần ở mức 4,61%, giảm nhẹ 1 điểm cơ bản.

Theo VPBankS, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô toàn cầu đang tiềm ẩn nhiều rủi ro từ căng thẳng địa chính trị khu vực và xung đột thuế quan giữa hai nền kinh tế lớn Mỹ - Trung Quốc, vai trò điều hành chính sách tiền tệ của NHNN luôn đóng vai trò thiết yếu.

NHNN phải linh hoạt sử dụng nhiều công cụ như lãi suất điều hành, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở để duy trì thanh khoản dồi dào cho hệ thống ngân hàng, đồng thời giữ lãi suất cho vay ở mức hợp lý, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Đồng thời, dưới áp lực từ biến động thương mại quốc tế và dòng vốn FDI, NHNN cần sẵn sàng can thiệp kịp thời để ổn định tỷ giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80