Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần qua (19 - 23/5) ghi nhận tỷ giá trung tâm ổn định ở mức 24.960 VND/USD, trong khi tỷ giá USD tự do giảm mạnh 170 đồng. Nhiều đồng tiền mạnh bật tăng theo đà suy yếu của đồng bạc xanh. Lãi suất liên ngân hàng qua đêm giữ nhịp hợp lý 3,86%, duy trì dưới 4%.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số

Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều

Thử thách giữ mặt bằng lãi suất huy động thấp trong bối cảnh áp lực gia tăng

Ngày 16/5, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm thêm 5 đồng, lên 24.960 VND/USD. Với biên độ dao động 5%, các ngân hàng thương mại được phép niêm yết tỷ giá giao dịch trong khoảng 23.712 VND/USD - 26.208 VND/USD. Đồng thời, tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng tăng, với mức mua vào là 23.762 VND/USD và bán ra là 26.158 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm đứng yên, thị trường tự do giảm nhiệt

Tính trong tuần qua, từ ngày 19 - 23/5, thị trường ngoại hối trong nước ghi nhận diễn biến tương đối ổn định, điều chỉnh nhẹ các phiên trong tuần. Kết tuần, tỷ giá trung tâm giữ nguyên so với cuối tuần trước, ở mức 24.960 VND/USD.

Thị trường ngoại hối trong nước tuần qua (19-23/5) diễn biến ổn định, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 24.960 VND/USD. Tỷ giá USD tại ngân hàng tăng nhẹ, trong khi tỷ giá tự do giảm đáng kể 170 đồng cả hai chiều so với phiên cuối tuần trước. Ở chiều ngược lại, tỷ giá EUR bật tăng mạnh theo đà suy yếu của đồng USD.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD cũng dao động không đáng kể. Đơn cử, Vietcombank bán USD quanh mức 26.120 - 26.150 VND/USD, mức giá chốt phiên ngày 23/5 là 26.130 VND/USD, tăng nhẹ 10 đồng so với đầu tuần và tăng 20 đồng so với tuần trước. Kết phiên ngày 23/5, BIDV giao dịch ở mức 25.775 - 26.135 VND/USD, giảm 20 đồng so với phiên hôm qua, song tăng nhẹ 25 đồng hai chiều cả tuần.

Trong khi đó, tỷ giá USD tự do trong tuần giảm đáng kể. Từ mức 26.420 VND/USD đầu tuần, tỷ giá tự do giảm còn 26.380 VND/USD vào ngày 23/5, tương đương mức giảm 40 đồng trong tuần và giảm tới 170 đồng so với phiên cuối tuần trước. Diễn biến này phản ánh nguồn cung USD trên thị trường tự do đang dồi dào, trong khi nhu cầu nắm giữ ngoại tệ không còn nhiều áp lực.

Ở chiều ngược lại, tỷ giá EUR ghi nhận mức tăng đáng kể. Ngày 23/5, tỷ giá bán ra EUR tại ngân hàng Vietcombank đạt 30.170,45 VND/EUR, tăng khá mạnh 327 đồng so với đầu tuần, đảo chiều so với mức giảm 170 đồng so với cùng kỳ tuần trước.

Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà
Biến động tỷ giá USD/VND thời gian qua. Ảnh: T.L.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt giảm 0,67%, đạt mức 99,17 điểm, tiếp đà giảm trong tuần trước, khi thị trường phản ứng trước các rủi ro liên quan đến chính sách thuế quan của Tổng thống Trump khiến đồng USD suy yếu trên hầu hết các cặp tiền tệ chính. Các đồng EUR, GBP, JPY và CAD đều ghi nhận mức tăng, không chỉ nhờ các yếu tố nội tại tích cực, mà còn do làn sóng bán tháo rộng rãi đối với đồng bạc xanh.

Đơn cử, EUR/USD tăng lên 1,133 nhờ hưởng lợi kép từ đà suy yếu của đồng USD và tâm lý lạc quan trên thị trường, sau khi Tổng thống Mỹ không giành được sự ủng hộ đầy đủ về dự luật thuế mở rộng do ông đề xuất. Còn GBP/USD tăng lên 1,3488, mức cao nhất kể từ tháng 02/2022, sau khi CPI của Anh bất ngờ tăng trong tháng 4, làm giảm kỳ vọng về việc Ngân hàng Anh cắt giảm lãi suất trong thời gian tới.

Đồng USD suy yếu cũng phản ánh lập trường thận trọng từ các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), cùng với kỳ vọng trong bối cảnh các mức thuế cao dần gỡ bỏ, Mỹ có ít động lực hơn để duy trì đồng USD mạnh tại các cuộc thảo luận G7 đang diễn ra.

Điều tiết thanh khoản, kiểm soát lãi suất liên ngân hàng

Trong báo cáo cập nhật vĩ mô mới phát hành, Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS) cho biết, NHNN nhiều lần điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm từ đầu 2025. Về những yếu tố tạo lực đỡ cho tỷ giá, theo nhóm phân tích, Việt Nam tiếp tục duy trì thặng dư thương mại hàng hóa, chủ yếu nhờ xuất siêu mạnh sang Mỹ và EU. Cùng với đó, Chính phủ đang tăng cường kiểm soát gian lận xuất xứ và đa dạng hóa thị trường để giảm thiểu rủi ro từ căng thẳng thương mại Mỹ - Việt.

Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà
Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà. Ảnh: T.L.

Tỷ giá chưa hết "sóng gió"

"Tỷ giá VND/USD sẽ tiếp tục chịu áp lực từ bất ổn kinh tế chính trị toàn cầu và thay đổi liên tục trong chính sách thương mại quốc tế, dù đồng USD có dấu hiệu hạ nhiệt khi thị trường bắt đầu kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất vào cuối quý III/2025. Trong nước, dù NHNN duy trì chính sách điều hành linh hoạt, kết hợp can thiệp kịp thời qua các phiên bản ngoại tệ kỳ hạn, áp lực từ nhu cầu nhập khẩu mùa cao điểm, cùng với dòng vốn FDI chưa ổn định hoàn toàn và rủi ro suy yếu từ cán cân thương mại khiến VND khó khăn để giữ vững giá" - nhóm phân tích từ VPBankS đánh giá.

Tại thị trường mở (OMO) NHNN tích cực điều tiết thanh khoản. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt, NHNN quay trở lại hút ròng chỉ 1.325,15 tỷ đồng.

Tuần qua, NHNN cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh OMO, với khối lượng đạt 24.953,82 tỷ đồng 19 - 23/05. Trong khi đó, khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 26.278,97 tỷ đồng. Lượng OMO đang lưu hành giảm còn 44.901,5 tỷ đồng.

Từ đầu tháng 4 đến nay, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng duy trì dao động quanh mốc 4%/năm cho hầu hết kỳ hạn, với xu hướng biến động nhẹ theo nhịp bơm - rút thanh khoản của NHNN.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận diễn biến phân hóa nhẹ giữa các kỳ hạn, phản ánh sự điều chỉnh cung - cầu thanh khoản trên thị trường. Theo đó, lãi suất qua đêm tăng lên 3,86%, tăng 8 điểm cơ bản so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần cũng tăng nhẹ lên 3,95% (tăng 3 điểm cơ bản). Riêng kỳ hạn 1 tháng tăng mạnh lên 4,30% (tăng 17 điểm cơ bản).

Ngược lại, kỳ hạn 2 tuần giảm nhẹ xuống 4,11% (giảm 2 điểm cơ bản). Ở kỳ hạn dài hơn, lãi suất 3 tháng duy trì ổn định quanh vùng 4,61 - 4,74%, kết tuần ở mức 4,61%, giảm nhẹ 1 điểm cơ bản.

Theo VPBankS, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô toàn cầu đang tiềm ẩn nhiều rủi ro từ căng thẳng địa chính trị khu vực và xung đột thuế quan giữa hai nền kinh tế lớn Mỹ - Trung Quốc, vai trò điều hành chính sách tiền tệ của NHNN luôn đóng vai trò thiết yếu.

NHNN phải linh hoạt sử dụng nhiều công cụ như lãi suất điều hành, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở để duy trì thanh khoản dồi dào cho hệ thống ngân hàng, đồng thời giữ lãi suất cho vay ở mức hợp lý, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Đồng thời, dưới áp lực từ biến động thương mại quốc tế và dòng vốn FDI, NHNN cần sẵn sàng can thiệp kịp thời để ổn định tỷ giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 144,900
Hà Nội - PNJ 141,900 144,900
Đà Nẵng - PNJ 141,900 144,900
Miền Tây - PNJ 141,900 144,900
Tây Nguyên - PNJ 141,900 144,900
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 144,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 14,490
Miếng SJC Nghệ An 14,190 14,490
Miếng SJC Thái Bình 14,190 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 14,540
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,850 14,450
Trang sức 99.99 13,860 14,460
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 14,492
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 14,493
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 1,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 14,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 107,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 97,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 87,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 83,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 59,954
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cập nhật: 23/09/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17973 18248 18827
CAD 18005 18280 18899
CHF 31130 31508 32152
CNY 0 3840 3937
EUR 29195 29415 30495
GBP 33957 34346 35297
HKD 0 3185 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19871 20153 20724
THB 702 765 818
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18156 18256 19181
CAD 18188 18288 19302
CHF 31370 31400 32974
CNY 3822.6 3847.6 3983.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29369 29399 31121
GBP 34253 34303 36072
HKD 0 3305 0
JPY 162.15 162.65 173.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14739 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20021 20151 20876
THB 0 729 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14190000 14190000 14490000
SBJ 13000000 13000000 14490000
Cập nhật: 23/09/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30