Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (5 - 9/5) cho thấy, tỷ giá USD/VND có xu hướng giảm nhẹ trên cả thị trường chính thức và tự do, trong khi tỷ giá EUR cũng hạ nhiệt sau đợt tăng mạnh. Dù chỉ số DXY phục hồi nhẹ, tỷ giá trong nước vẫn chịu áp lực lớn bởi chênh lệch lãi suất VND - USD và cung ngoại tệ thắt chặt.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng Thị trường tiền tệ tuần 21-25/4: Tỷ giá tăng chậm lại, lãi suất liên ngân hàng lùi về dưới 4%

Ngày 9/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết ở mức 24.951 VND/USD, tăng thêm 24 đồng so với hôm qua. Như vậy, với biên độ giao dịch 5% so với tỷ giá trung tâm, tỷ giá trần được áp dụng là 26.199 VND/USD và tỷ giá sàn là 23.703 VND/USD. Tại Sở giao dịch NHNN, tỷ giá tham khảo cũng tăng tương ứng, hiện ở mức 23.754 VND/USD (mua vào) và 26.148 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá USD đi ngang, EUR thoái lui sau đợt tăng mạnh

Tỷ giá USD tại các ngân hàng tiếp tục duy trì ổn định hoặc tăng nhẹ. Đơn cử, cuối ngày 9/5, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.760 - 26.150 VND/USD, không đổi so với phiên hôm qua. Trong khi đó, BIDV nâng tỷ giá USD thêm 10 đồng chiều mua lên 25.800 VND/USD và 10 đồng chiều bán lên 26.160 VND/USD.

Trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng USD được giao dịch ở mức 26.375 - 26.475 VND/USD, giảm 35 đồng so với ngày hôm qua.

Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều
Biến động tỷ giá USD/VND tuần qua. Ảnh: T.L.

Tỷ giá USD đồng loạt giảm

Về diễn biến trong tuần qua (5-9/5), tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 5 đồng; trong đó, chỉ riêng phiên cuối tuần điều chỉnh tăng 24 đồng, còn lại các phiên đều giảm. Tỷ giá USD các ngân hàng thương mại cũng trải qua 1 tuần hạ nhiệt, giảm khoảng 30 đồng chiều bán ra. Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua cũng biến động cùng chiều, giảm 35 đồng.

Tuần qua, tỷ giá EUR bán ra tại các ngân hàng thương mại cũng có phần hạ nhiệt, giảm khoảng 200 VND/EUR sau khi tăng mạnh trong tháng 4/2025 gần 2.000 VND/EUR, tương ứng tăng 7%, lên khoảng 30.500 VND/EUR.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, có tuần tăng nhẹ vượt mốc 100 điểm, phản ánh đà phục hồi đáng kể sau khi chạm đáy trong tháng 4/2025. Tuy nhiên, đây vẫn là mức thấp trong vòng 3 năm qua và giảm khoảng 10% so với đầu năm.

Tuần qua, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định giữ nguyên lãi suất tham chiếu ở mức 4,25 - 4,5%. Việc thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Anh làm dấy lên kỳ vọng về các hiệp định tương tự, góp phần giảm lo ngại suy thoái kinh tế do căng thẳng thương mại toàn cầu.

Ngoài ra, các rủi ro địa chính trị kéo dài như xung đột Nga - Ukraine, căng thẳng ở Trung Đông và tại biên giới Ấn Độ - Pakistan tiếp tục củng cố vai trò trú ẩn an toàn của đồng USD trong ngắn hạn. Tuy nhiên, thị trường đang thận trọng, chờ đợi các tín hiệu chính sách mới từ Fed.

Trên thị trường quốc tế, từ đầu năm đến nay, đồng EUR tăng vọt và lên mức cao nhất trong ba năm so với đồng USD trong tháng 4/2025 trong bối cảnh thị trường biến động do thuế quan, khiến các nhà đầu tư bán tháo tài sản của Mỹ và tìm kiếm sự an toàn ở các loại tiền tệ trú ẩn. Cùng với đồng EUR, các loại tiền tệ khác cũng tăng giá so với đồng bạc xanh, đặc biệt là các loại tiền tệ trú ẩn truyền thống như đồng franc Thụy Sĩ và đồng yên Nhật.

Sóng ngầm khiến tỷ giá "neo" cao

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho biết, mặc dù chỉ số DXY đã giảm mạnh 9,7% so với đỉnh trong năm 2025, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng vẫn duy trì ở ngưỡng cao trong tháng 4. Theo nhóm phân tích, việc tỷ giá "neo" cao được cho là chịu ảnh hưởng từ một số yếu tố chính.

Thứ nhất, trong tháng 4, Kho bạc Nhà nước tiếp tục mua vào USD từ các ngân hàng thương mại với tổng giá trị 110 triệu USD, qua đó phần nào làm thắt chặt nguồn cung ngoại tệ trên thị trường.

Thứ hai, trong bối cảnh thương mại toàn cầu đối mặt với nhiều bất ổn liên quan đến chính sách thuế quan khó lường từ Mỹ, nhu cầu ngoại tệ của doanh nghiệp trong nước có xu hướng tăng mạnh.

Thứ ba, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu về mức thấp nhất trong 13 tháng vào cuối tháng đã khiến chênh lệch lãi suất VND - USD đảo chiều âm, đạt mức cao nhất kể từ đầu năm đến nay.

Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều
Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều. Ảnh: T.L.

"Những yếu tố này đã tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá, khiến tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng tăng 1,4% so với cuối tháng 3, lên mức 25.994 VND/USD, tương ứng mức tăng 2,1% so với đầu năm. Trên thị trường tự do, tỷ giá cũng tăng lên mức 26.470 VND/USD, trong khi tỷ giá trung tâm do NHNN công bố đạt 24.956 VND/USD, tăng lần lượt 2,8% và 2,5% so với đầu năm 2025" - Chứng khoán MBS phân tích.

Tỷ giá có thể duy trì quanh ngưỡng 26.000 USD/VND năm 2025

"Chúng tôi kỳ vọng tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 25.500 - 26.000 VND/USD trong năm 2025, khi các kế hoạch nới lỏng tài khóa của chính quyền mới, kết hợp với các chính sách nhập cư chặt chẽ hơn, cùng với mặt bằng lãi suất cao và chủ nghĩa bảo hộ tương đối cao của Mỹ, được dự báo sẽ hỗ trợ cho việc gia tăng giá trị của đồng USD trong năm tới" - nhóm phân tích từ Chứng khoán MBS dự báo.

Dù có những "lực đẩy" khiến tỷ giá tăng, song ở chiều ngược lại, vẫn tồn tại nhiều "lực kéo" giúp hạ nhiệt và giữ tỷ giá ổn định.

Theo MBS, các yếu tố nội tại vẫn ghi nhận những kết quả tích cực được kỳ vọng sẽ tiếp tục hỗ trợ cho đồng VND. Trong đó, thặng dư thương mại đạt khoảng 3,79 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm 2025; vốn FDI giải ngân đạt 6,74 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ, sự phục hồi của lượng khách du lịch quốc tế với mức tăng 23,8%.

Trong bối cảnh áp lực tỷ giá gia tăng, NHNN quay trở lại hút ròng thanh khoản trong tháng 4 với tổng trị giá ước đạt gần 22,2 nghìn tỷ đồng. Cụ thể, NHNN bơm khoảng 220,3 nghìn tỷ đồng thông qua kênh OMO, với mức lãi suất 4% và kỳ hạn từ 7 đến 91 ngày. Tuy nhiên, tổng lượng vốn đáo hạn trong tháng lại lên tới hơn 242,4 nghìn tỷ đồng.

Mặc dù có những động thái hút ròng từ phía nhà điều hành, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm sau khi duy trì quanh mức 4 - 4,4% trong nửa đầu tháng 4 giảm mạnh về mức đáy 13 tháng, chạm 2,2% vào ngày 25/4, cho thấy thanh khoản hệ thống đang dư thừa. Diễn biến này ảnh hưởng đáng kể đến chênh lệch lãi suất VND - USD và tạo thêm áp lực lên tỷ giá.

Cụ thể, nếu từ đầu năm đến nửa đầu tháng 4, lãi suất qua đêm bằng USD chỉ cao hơn VND từ 0,2 - 1,2%/năm, thì gần cuối tháng, mức chênh lệch này tăng mạnh lên 2,1%/năm, mức cao nhất kể từ đầu năm. Đến cuối tháng, lãi suất qua đêm ở mức 3,8%, trong khi lãi suất các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động quanh mức 3,9 - 4,1%./.

Bơm ròng hơn 4.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dưới 4%

Hiện NHNN vẫn đang đẩy mạnh việc cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh thị trường mở (OMO), với khối lượng đạt 38.094,34 tỷ đồng trong tuần qua 05 - 09/05; khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 33.748,41 tỷ đồng. Tính chung tuần qua, lượng tiền bơm ròng là 4.345,93 tỷ đồng.

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 8/5, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND kỳ hạn qua đêm duy trì dưới 4%, song tăng mạnh so với cuối tháng 4 (2,46%) ở mức 3,96%; 1 tuần: 4,03%; 2 tuần: 4,23%; 1 tháng: 4,84%; 3 tháng: 4,82%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80