Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (5 - 9/5) cho thấy, tỷ giá USD/VND có xu hướng giảm nhẹ trên cả thị trường chính thức và tự do, trong khi tỷ giá EUR cũng hạ nhiệt sau đợt tăng mạnh. Dù chỉ số DXY phục hồi nhẹ, tỷ giá trong nước vẫn chịu áp lực lớn bởi chênh lệch lãi suất VND - USD và cung ngoại tệ thắt chặt.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng Thị trường tiền tệ tuần 21-25/4: Tỷ giá tăng chậm lại, lãi suất liên ngân hàng lùi về dưới 4%

Ngày 9/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết ở mức 24.951 VND/USD, tăng thêm 24 đồng so với hôm qua. Như vậy, với biên độ giao dịch 5% so với tỷ giá trung tâm, tỷ giá trần được áp dụng là 26.199 VND/USD và tỷ giá sàn là 23.703 VND/USD. Tại Sở giao dịch NHNN, tỷ giá tham khảo cũng tăng tương ứng, hiện ở mức 23.754 VND/USD (mua vào) và 26.148 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá USD đi ngang, EUR thoái lui sau đợt tăng mạnh

Tỷ giá USD tại các ngân hàng tiếp tục duy trì ổn định hoặc tăng nhẹ. Đơn cử, cuối ngày 9/5, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.760 - 26.150 VND/USD, không đổi so với phiên hôm qua. Trong khi đó, BIDV nâng tỷ giá USD thêm 10 đồng chiều mua lên 25.800 VND/USD và 10 đồng chiều bán lên 26.160 VND/USD.

Trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng USD được giao dịch ở mức 26.375 - 26.475 VND/USD, giảm 35 đồng so với ngày hôm qua.

Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều
Biến động tỷ giá USD/VND tuần qua. Ảnh: T.L.

Tỷ giá USD đồng loạt giảm

Về diễn biến trong tuần qua (5-9/5), tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 5 đồng; trong đó, chỉ riêng phiên cuối tuần điều chỉnh tăng 24 đồng, còn lại các phiên đều giảm. Tỷ giá USD các ngân hàng thương mại cũng trải qua 1 tuần hạ nhiệt, giảm khoảng 30 đồng chiều bán ra. Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua cũng biến động cùng chiều, giảm 35 đồng.

Tuần qua, tỷ giá EUR bán ra tại các ngân hàng thương mại cũng có phần hạ nhiệt, giảm khoảng 200 VND/EUR sau khi tăng mạnh trong tháng 4/2025 gần 2.000 VND/EUR, tương ứng tăng 7%, lên khoảng 30.500 VND/EUR.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, có tuần tăng nhẹ vượt mốc 100 điểm, phản ánh đà phục hồi đáng kể sau khi chạm đáy trong tháng 4/2025. Tuy nhiên, đây vẫn là mức thấp trong vòng 3 năm qua và giảm khoảng 10% so với đầu năm.

Tuần qua, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định giữ nguyên lãi suất tham chiếu ở mức 4,25 - 4,5%. Việc thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Anh làm dấy lên kỳ vọng về các hiệp định tương tự, góp phần giảm lo ngại suy thoái kinh tế do căng thẳng thương mại toàn cầu.

Ngoài ra, các rủi ro địa chính trị kéo dài như xung đột Nga - Ukraine, căng thẳng ở Trung Đông và tại biên giới Ấn Độ - Pakistan tiếp tục củng cố vai trò trú ẩn an toàn của đồng USD trong ngắn hạn. Tuy nhiên, thị trường đang thận trọng, chờ đợi các tín hiệu chính sách mới từ Fed.

Trên thị trường quốc tế, từ đầu năm đến nay, đồng EUR tăng vọt và lên mức cao nhất trong ba năm so với đồng USD trong tháng 4/2025 trong bối cảnh thị trường biến động do thuế quan, khiến các nhà đầu tư bán tháo tài sản của Mỹ và tìm kiếm sự an toàn ở các loại tiền tệ trú ẩn. Cùng với đồng EUR, các loại tiền tệ khác cũng tăng giá so với đồng bạc xanh, đặc biệt là các loại tiền tệ trú ẩn truyền thống như đồng franc Thụy Sĩ và đồng yên Nhật.

Sóng ngầm khiến tỷ giá "neo" cao

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho biết, mặc dù chỉ số DXY đã giảm mạnh 9,7% so với đỉnh trong năm 2025, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng vẫn duy trì ở ngưỡng cao trong tháng 4. Theo nhóm phân tích, việc tỷ giá "neo" cao được cho là chịu ảnh hưởng từ một số yếu tố chính.

Thứ nhất, trong tháng 4, Kho bạc Nhà nước tiếp tục mua vào USD từ các ngân hàng thương mại với tổng giá trị 110 triệu USD, qua đó phần nào làm thắt chặt nguồn cung ngoại tệ trên thị trường.

Thứ hai, trong bối cảnh thương mại toàn cầu đối mặt với nhiều bất ổn liên quan đến chính sách thuế quan khó lường từ Mỹ, nhu cầu ngoại tệ của doanh nghiệp trong nước có xu hướng tăng mạnh.

Thứ ba, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu về mức thấp nhất trong 13 tháng vào cuối tháng đã khiến chênh lệch lãi suất VND - USD đảo chiều âm, đạt mức cao nhất kể từ đầu năm đến nay.

Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều
Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều. Ảnh: T.L.

"Những yếu tố này đã tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá, khiến tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng tăng 1,4% so với cuối tháng 3, lên mức 25.994 VND/USD, tương ứng mức tăng 2,1% so với đầu năm. Trên thị trường tự do, tỷ giá cũng tăng lên mức 26.470 VND/USD, trong khi tỷ giá trung tâm do NHNN công bố đạt 24.956 VND/USD, tăng lần lượt 2,8% và 2,5% so với đầu năm 2025" - Chứng khoán MBS phân tích.

Tỷ giá có thể duy trì quanh ngưỡng 26.000 USD/VND năm 2025

"Chúng tôi kỳ vọng tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 25.500 - 26.000 VND/USD trong năm 2025, khi các kế hoạch nới lỏng tài khóa của chính quyền mới, kết hợp với các chính sách nhập cư chặt chẽ hơn, cùng với mặt bằng lãi suất cao và chủ nghĩa bảo hộ tương đối cao của Mỹ, được dự báo sẽ hỗ trợ cho việc gia tăng giá trị của đồng USD trong năm tới" - nhóm phân tích từ Chứng khoán MBS dự báo.

Dù có những "lực đẩy" khiến tỷ giá tăng, song ở chiều ngược lại, vẫn tồn tại nhiều "lực kéo" giúp hạ nhiệt và giữ tỷ giá ổn định.

Theo MBS, các yếu tố nội tại vẫn ghi nhận những kết quả tích cực được kỳ vọng sẽ tiếp tục hỗ trợ cho đồng VND. Trong đó, thặng dư thương mại đạt khoảng 3,79 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm 2025; vốn FDI giải ngân đạt 6,74 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ, sự phục hồi của lượng khách du lịch quốc tế với mức tăng 23,8%.

Trong bối cảnh áp lực tỷ giá gia tăng, NHNN quay trở lại hút ròng thanh khoản trong tháng 4 với tổng trị giá ước đạt gần 22,2 nghìn tỷ đồng. Cụ thể, NHNN bơm khoảng 220,3 nghìn tỷ đồng thông qua kênh OMO, với mức lãi suất 4% và kỳ hạn từ 7 đến 91 ngày. Tuy nhiên, tổng lượng vốn đáo hạn trong tháng lại lên tới hơn 242,4 nghìn tỷ đồng.

Mặc dù có những động thái hút ròng từ phía nhà điều hành, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm sau khi duy trì quanh mức 4 - 4,4% trong nửa đầu tháng 4 giảm mạnh về mức đáy 13 tháng, chạm 2,2% vào ngày 25/4, cho thấy thanh khoản hệ thống đang dư thừa. Diễn biến này ảnh hưởng đáng kể đến chênh lệch lãi suất VND - USD và tạo thêm áp lực lên tỷ giá.

Cụ thể, nếu từ đầu năm đến nửa đầu tháng 4, lãi suất qua đêm bằng USD chỉ cao hơn VND từ 0,2 - 1,2%/năm, thì gần cuối tháng, mức chênh lệch này tăng mạnh lên 2,1%/năm, mức cao nhất kể từ đầu năm. Đến cuối tháng, lãi suất qua đêm ở mức 3,8%, trong khi lãi suất các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động quanh mức 3,9 - 4,1%./.

Bơm ròng hơn 4.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dưới 4%

Hiện NHNN vẫn đang đẩy mạnh việc cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh thị trường mở (OMO), với khối lượng đạt 38.094,34 tỷ đồng trong tuần qua 05 - 09/05; khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 33.748,41 tỷ đồng. Tính chung tuần qua, lượng tiền bơm ròng là 4.345,93 tỷ đồng.

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 8/5, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND kỳ hạn qua đêm duy trì dưới 4%, song tăng mạnh so với cuối tháng 4 (2,46%) ở mức 3,96%; 1 tuần: 4,03%; 2 tuần: 4,23%; 1 tháng: 4,84%; 3 tháng: 4,82%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giữ đà trên 4.600 USD/ounce, trong khi vàng trong nước đi ngang, vàng miếng duy trì mức bán ra 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.600 USD/ounce, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 23/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.600 USD/ounce, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce sau tuần tăng thứ ba liên tiếp. Trong nước, vàng miếng tiếp đà đi lên, trong khi vàng nhẫn có nơi lên 149,5 triệu đồng/lượng.
SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

(TBTCO) - Ngày 21/8, theo công bố của FTSE Russell, SHB là một trong 8 cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam nằm trong FTSE Global All Cap - một cấu phần của FTSE Global Equity Index Series (GEIS). Đây là danh mục được công bố ngay trước thềm chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

(TBTCO) - Những thỏa thuận mới giữa Shinhan Life Việt Nam - Nam A Bank, Hanwha Life Việt Nam - ABBank…, cùng xu hướng mở rộng các hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm cho thấy kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) vẫn còn nhiều dư địa. Những “cái bắt tay” mới đang đưa hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, với trọng tâm chuyển từ mở rộng doanh số sang nâng cao chất lượng tư vấn, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững của hợp đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 150,000
Hà Nội - PNJ 146,800 150,000
Đà Nẵng - PNJ 146,800 150,000
Miền Tây - PNJ 146,800 150,000
Tây Nguyên - PNJ 146,800 150,000
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 150,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 15,000
Miếng SJC Nghệ An 14,700 15,000
Miếng SJC Thái Bình 14,700 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 15,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 15,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 15,200
NL 99.99 14,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050
Trang sức 99.9 14,510 15,110
Trang sức 99.99 14,520 15,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 15,002
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 15,003
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 1,495
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 1,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 146,535
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 111,161
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 1,008
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 90,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 86,443
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 61,872
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Cập nhật: 25/08/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Cập nhật: 25/08/2026 04:00
Ngân hàng