Giá vàng hôm nay (17/8): Vàng miếng SJC cao hơn vàng thế giới 18,1 triệu đồng/lượng

Bất chấp đà đi xuống liên tục của giá thế giới, giá vàng miếng SJC hôm nay (17/8) vẫn ổn định ở mức cao. Cụ thể, giá vàng miếng SJC hiện được các thương hiệu SJC, DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu đồng loạt niêm yết giá ở mức 123,5 - 124,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), cao hơn vàng thế giới 18,1 triệu đồng/lượng.
aa
Giá vàng hôm nay (17/8): Vàng miếng SJC cao hơn vàng thế giới 18,1 triệu đồng/lượng
Giá vàng trong nước thời gian này vẫn đang "lệch sóng" với giá vàng thế giới. Ảnh tư liệu

Thị trường trong nước

Giá vàng miếng hôm nay giữ ổn định so với phiên giao dịch rạng sáng qua. Các thương hiệu SJC, DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu đồng loạt niêm yết giá vàng miếng ở mức 123,5 - 124,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), không đổi ở cả hai chiều.

Phú Quý SJC mua vào thấp hơn 800 nghìn đồng/lượng, hiện giao dịch ở ngưỡng 122,7 - 124,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giữ nguyên giá ở cả hai chiều.

Cùng chiều diễn biến với vàng miếng, giá vàng nhẫn hôm nay đi ngang ở hầu hết các thương hiệu. Cụ thể, SJC niêm yết vàng nhẫn ở ngưỡng 116,6 - 119,1 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), ổn định ở cả hai chiều.

Vàng nhẫn thương hiệu DOJI giao dịch ở mức 116,5 - 119,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), không đổi ở cả hai chiều.

PNJ giữ nguyên giá vàng nhẫn ở mức 116,6 - 119,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).

Bảo Tín Minh Châu cũng bình ổn giá vàng nhẫn ở ngưỡng 116,8 - 119,8 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).

Riêng vàng nhẫn thương hiệu Phú Quý giảm 100 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện niêm yết ở mức 116,4 - 119,4 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).

Thị trường thế giới

Giá vàng thế giới hôm nay giảm 3,05 USD/ounce trong 24 giờ qua (tương đương giảm 0,09%), với giá vàng giao ngay hiện ở mức 3.335,06 USD/ounce (tương đương khoảng 106,4 triệu đồng/lượng quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, chưa thuế, phí). Như vậy, giá vàng miếng SJC trong nước đang cao hơn giá vàng thế giới 18,1 triệu đồng/lượng.

Thị trường vàng tuần này loay hoay tìm chỗ đứng sau những rối ren thuế quan từ tuần trước, trong khi dữ liệu lạm phát và tiêu dùng pha trộn không đủ sức hấp dẫn để lôi kéo giới đầu tư mở thêm vị thế mới.

Sự tăng vọt của giá sản xuất đã làm lung lay gần như chắc chắn kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9, kéo giá vàng giảm sâu về mức đáy tuần ở ngưỡng 3.330 USD/ounce vào trưa thứ Năm.

Từ đó, vàng gần như đi ngang trong biên độ rất hẹp chỉ 10 USD cho đến khi thị trường đóng cửa cuối tuần, bất chấp báo cáo doanh số bán lẻ và niềm tin tiêu dùng hầu như không tạo biến động.

Khảo sát vàng hằng tuần của Kitco News cho thấy, đa số chuyên gia Phố Wall dự đoán thị trường sẽ tiếp tục đi ngang, trong khi phần lớn nhà đầu tư Main Street vẫn tin rằng vàng có thể tăng giá vào tuần tới.

Tuần này, trong số 10 chuyên gia tham gia khảo sát của Kitco, chỉ 1 người (10%) dự đoán giá vàng tăng, 1 người dự đoán giảm, còn lại 8 người (80%) dự báo vàng sẽ tiếp tục đi ngang.

Trong khi đó, 183 nhà đầu tư nhỏ lẻ tham gia khảo sát trực tuyến cho thấy: 63% kỳ vọng giá vàng tăng, 18% dự đoán giảm, còn 19% cho rằng giá vàng sẽ đi ngang.

Dự báo

Theo ông Ole Hansen, Giám đốc chiến lược hàng hóa tại Ngân hàng Saxo, dù chỉ số PPI của Mỹ tăng mạnh hơn dự kiến, điều này sẽ không ngăn cản Fed cắt giảm lãi suất. Thông tin này đã gây áp lực lên giá vàng, vì thị trường lo ngại Fed sẽ thận trọng hơn trong chính sách tiền tệ.

Ông Hansen cho rằng, chi phí sản xuất tăng có thể làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp hoặc đẩy lạm phát lên cao hơn, nhưng điều này không làm thay đổi triển vọng dài hạn của vàng. "Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) cuối cùng sẽ phải cân bằng giữa việc kiểm soát lạm phát và hỗ trợ kinh tế", ông nói.

Giá vàng đang giao dịch trong biên độ hẹp, dao động quanh mức 3.350 USD/ounce. Nhu cầu từ các quỹ giao dịch hoán đổi (ETF) vẫn rất vững chắc. Dữ liệu từ Bloomberg cho thấy, lượng vàng do các quỹ ETF nắm giữ đã tăng lên mức cao nhất trong 2 năm qua, đạt 2.878 tấn.

Theo ông Marc Chandler, Giám đốc điều hành tại Bannockburn Global Forex, giá vàng giao ngay đã xây dựng được một nền tảng vững chắc quanh mức 3.330 USD/ounce. Ông đánh giá thị trường đang trong giai đoạn tích lũy, giá chủ yếu dao động trong khoảng 3.250 - 3.400 USD.

Ông Chandler dự báo khả năng giá vàng sẽ tiếp tục đi ngang trong tuần tới do lịch kinh tế không có nhiều sự kiện lớn. Chandler dự đoán mức giá thấp nhất là vào cuối tháng 8, gần 3.270 USD - cơ hội hấp dẫn để mua vào.

Trong khi đó, giá vàng trong nước thời gian này vẫn đang "lệch sóng" với giá vàng thế giới. Mức độ tăng giảm của vàng trong nước vẫn lạc nhịp với giá thế giới, SJC bứt lên đỉnh kỷ lục mới bất chấp giá vàng quốc tế đi ngang. Việc nguồn cung còn hạn chế, cộng với tâm lý ưa chuộng vàng như loại tài sản tiết kiệm an toàn có thể đẩy SJC lên tầm cao mới./.

Tuấn Anh (tổng hợp)

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 23/3, giá vàng trong nước đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ nguyên giá, với mặt bằng giao dịch phổ biến quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 22/3 đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến hơn 5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giá lùi về quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 21/3 đảo chiều tăng trở lại tại hầu hết doanh nghiệp lớn. Mặt bằng giá được điều chỉnh tăng từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/3 giảm mạnh tại hầu hết doanh nghiệp, với mức điều chỉnh lên tới 7,5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về quanh 172 - 175 triệu đồng/lượng.
Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

(TBTCO) - Vàng và bạc cùng tham gia đợt bán tháo trên diện rộng vào ngày 19/3, với giá giảm lần lượt khoảng 5% và 10%, do lo ngại về cuộc chiến tại Iran và lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu.
WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) vừa công bố sáng kiến “Vàng như một dịch vụ” (Gold-as-a-Service) nhằm xây dựng hạ tầng mới, mở ra giai đoạn phát triển tiếp theo cho vàng kỹ thuật số. Mô hình này được kỳ vọng định hình lại cách phát hành, vận hành các sản phẩm, tăng tính liên thông, thanh khoản; qua đó, vàng kỹ thuật số có thể dùng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay.
Giá vàng hôm nay ngày 19/3:  Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

Giá vàng hôm nay ngày 19/3: Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

(TBTCO) - Sáng ngày 19/3, giá vàng nhẫn được niêm yết quanh vùng 178,8 - 182,9 triệu đồng/lượng, ghi nhận điều chỉnh giảm tại một số doanh nghiệp lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 17/3 ghi nhận tăng nhẹ khi nhiều doanh nghiệp đồng loạt nâng giá vàng miếng và vàng nhẫn thêm khoảng 500.000 đồng/lượng.
Xem thêm
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80