Thiết kế cơ chế ưu đãi lãi suất minh bạch khi “mở van” tín dụng xanh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Danh mục phân loại xanh cùng chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cho các dự án xanh được xem là “bộ đôi” chính sách then chốt thúc đẩy tín dụng xanh. Trong cuộc trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, cần thiết kế chính sách trên nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm, minh bạch từng khâu để kiểm soát rủi ro và hướng dòng vốn ưu đãi đến đúng đích.
aa

PV: Trong dự thảo Nghị định về hỗ trợ lãi suất cho các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và ESG, Ngân hàng Nhà nước đề xuất cơ chế chi trả qua ngân sách địa phương thay vì qua ngân hàng thương mại như trước. Ông đánh giá thế nào về cách tiếp cận mới này, nhất là khi nhiều gói hỗ trợ trước đây từng gặp vướng mắc, giải ngân chậm?

Thiết kế cơ chế ưu đãi lãi suất minh bạch khi “mở van” tín dụng xanh
PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ: Cơ chế hỗ trợ lãi suất qua ngân sách địa phương được xem là hướng đi mới trong quá trình hoàn thiện chính sách tín dụng xanh, thể hiện sự thay đổi tư duy quản lý, chuyển trọng tâm từ mô hình tập trung qua hệ thống ngân hàng sang mô hình phân quyền có sự tham gia trực tiếp của chính quyền địa phương.

Từ đó, tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong việc điều phối nguồn lực, giám sát dự án và bảo đảm ưu đãi đến đúng đối tượng, trong bối cảnh phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải trở thành yêu cầu cấp thiết.

Vai trò của ngân sách địa phương được tăng cường, giúp quá trình triển khai chính sách sát hơn với thực tế kinh tế - xã hội từng vùng, nâng cao tính linh hoạt và khả năng thích ứng với điều kiện địa phương.

Ngân sách địa phương chịu trách nhiệm thanh toán phần hỗ trợ và giám sát việc sử dụng vốn ưu đãi; ngân hàng tập trung vào nghiệp vụ chuyên môn gồm thẩm định tín dụng, đánh giá rủi ro, quản lý dòng vốn. Điều này tạo ra ranh giới rõ giữa thẩm quyền tài chính và trách nhiệm hành chính, giúp giảm thiểu xung đột khi triển khai và tăng tính minh bạch dòng tiền.

PV: Cơ chế hỗ trợ lãi suất qua ngân sách địa phương tuy được kỳ vọng tạo cú hích cho tín dụng xanh, nhưng nhiều ý kiến cho rằng cũng tiềm ẩn không ít thách thức trong quá trình triển khai. Theo ông, đâu là những vấn đề cần lưu ý?

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ: Mô hình hỗ trợ qua ngân sách địa phương cũng tiềm ẩn rủi ro mới nếu thiếu hệ thống nghiệp vụ thống nhất, đến tình trạng triển khai không đồng bộ giữa các địa phương. Bởi mỗi tỉnh, thành phố có năng lực quản lý và trình độ cán bộ khác nhau, do đó, nếu không hướng dẫn chi tiết, tiêu chuẩn chung sẽ dễ dẫn đến sai lệch trong xác định đối tượng hỗ trợ.

Cùng với đó, rủi ro có thể phát sinh cơ chế xin - cho, xác nhận dự án và chi trả ưu đãi do cơ quan quản lý nhà nước địa phương trực tiếp thực hiện. Nếu không có hệ thống kiểm soát độc lập thì nguy cơ trục lợi, thao túng, lợi ích nhóm hoàn toàn có thể xảy ra.

Ngoài ra, đối với các dự án xanh, việc đánh giá tiêu chí môi trường đòi hỏi hiểu biết sâu về phân loại xanh và các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan. Đội ngũ quản lý ở cấp địa phương có thể chưa đáp ứng đầy đủ.

Thiết kế cơ chế ưu đãi lãi suất minh bạch khi “mở van” tín dụng xanh
Chính sách hỗ trợ lãi suất 2% được coi là "đòn bẩy" thúc đẩy đầu tư vào công nghệ carbon thấp, năng lượng sạch, hệ thống thu hồi và tái chế tài nguyên... Ảnh tư liệu

PV: Theo ông, cơ chế phối hợp và giám sát nên được thiết kế như thế nào để vừa bảo đảm tính minh bạch, vừa ngăn ngừa nguy cơ trục lợi trong quá trình thực thi chính sách?

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ: Để cơ chế hỗ trợ lãi suất qua ngân sách địa phương phát huy hiệu quả, cần thiết kế chính sách với nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm và đảm bảo tính minh bạch từng khâu.

Đầu tiên, xác nhận dự án đủ điều kiện hỗ trợ. Cần quy định bắt buộc dự án phải được xác nhận theo Quyết định 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh (Quyết định 21) trước khi nhận ưu đãi. Việc xác nhận nên có sự tham gia của các tổ chức độc lập để đảm bảo khách quan. Ngân hàng thương mại giữ vai trò thẩm định tín dụng, đánh giá khả năng trả nợ và thực hiện giải ngân. Khoản vay được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng là đối tượng nhận hỗ trợ lãi suất, từ đó, kiểm soát rủi ro tín dụng trong toàn hệ thống.

Quy trình thanh toán phần hỗ trợ thực hiện theo hình thức thanh toán trực tiếp hoặc hoàn lại qua ngân sách. Cơ quan tài chính địa phương chi trả phần chênh lệch 2% lãi suất cho doanh nghiệp vay hoặc hoàn lại cho ngân hàng định kỳ, dựa trên báo cáo xác nhận đã giải ngân và sử dụng vốn đúng mục đích. Dòng tiền hỗ trợ được tách biệt hoàn toàn với dòng vốn tín dụng, tránh "nhập nhằng" giữa chính sách tài khóa và hoạt động ngân hàng.

Cơ chế mới phân cấp cho địa phương, gỡ "rào cản" giải ngân

"Cơ chế mới giúp giải quyết phần nào rào cản mà hệ thống ngân hàng từng gặp phải trong các gói hỗ trợ lãi suất trước đây. Trong quá khứ, nhiều ngân hàng thương mại e ngại trách nhiệm pháp lý khi xác định đối tượng được hưởng hỗ trợ, lo ngại rủi ro bị thu hồi vốn ngân sách sau thanh tra, dẫn đến tiến độ giải ngân chậm. Khi chuyển cơ chế chi trả sang ngân sách địa phương, vai trò của ngân hàng được tái định nghĩa rõ ràng".

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường

Để bảo đảm tính công khai, cần xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa ngân hàng và cơ quan quản lý, các thông tin về khoản vay, mức lãi suất và tình trạng dự án được cập nhật định kỳ trên nền tảng số.

Cùng với đó, cơ chế giám sát và hậu kiểm cần hình thành các nhóm kiểm toán chuyên biệt, tập trung vào việc đối chiếu tiêu chí xanh của dự án, kiểm tra chứng từ chi trả và xác nhận kết quả thực hiện. Khi có dấu hiệu trục lợi hoặc khai sai thông tin, cơ quan chức năng xử lý kịp thời và công khai kết quả, tạo tính răn đe. Minh bạch trong giám sát bảo vệ ngân sách tạo niềm tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư quốc tế khi tham gia vào các dự án xanh tại Việt Nam.

Cần xây dựng cơ quan đầu mối tại địa phương, có thể giao cho Sở Tài chính đảm nhận vai trò tiếp nhận hồ sơ, xác nhận điều kiện dự án, phối hợp với cơ quan tài chính chi trả. Chính phủ nên ban hành hạn mức và mục tiêu cụ thể cho từng tỉnh, tránh tình trạng dồn vốn vào một số địa phương, gây mất cân đối vùng miền.

Khi cơ chế phối hợp giữa trung ương, địa phương và ngân hàng được thiết lập chặt chẽ, chương trình hỗ trợ lãi suất qua ngân sách địa phương có thể trở thành công cụ tài chính hiệu quả, tạo động lực mới cho quá trình chuyển đổi xanh, giảm phát thải và phát triển bền vững.

PV: Với danh mục phân loại xanh đã ban hành và chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cho dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và ESG đang được xây dựng, theo ông, “bộ đôi" chính sách này sẽ tác động như thế nào trong việc thúc đẩy tín dụng xanh và hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng 0 đến năm 2050?

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ: Quyết định 21 xác lập khung pháp lý và tiêu chí kỹ thuật để nhận diện dự án xanh. Các tiêu chí trong Quyết định 21 hướng đến 7 lĩnh vực trọng tâm, việc xác định rõ ràng ranh giới và tiêu chuẩn của các hoạt động được coi là “xanh”, loại bỏ tình trạng đầu tư sai lệch hoặc gắn mác xanh giả tạo.

Chính sách khuyến khích các ngân hàng tái cấu trúc danh mục tín dụng, tăng tỷ trọng cho vay xanh, hình thành thị trường tài chính xanh với quy mô và chiều sâu lớn hơn. Cùng với đó, danh mục phân loại xanh được xây dựng trên nền tảng tiêu chí minh bạch và tiệm cận chuẩn mực toàn cầu, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tài chính quốc tế, quỹ đầu tư ESG và các định chế tham gia sâu hơn vào thị trường Việt Nam.

Chính sách hỗ trợ lãi suất 2% được coi là "đòn bẩy" thúc đẩy đầu tư vào công nghệ carbon thấp, năng lượng sạch, hệ thống thu hồi và tái chế tài nguyên... Khi dòng vốn rẻ được định hướng vào đúng những lĩnh vực có tác động giảm phát thải cao, tổng lượng phát thải quốc gia có thể được cắt giảm đáng kể trong trung và dài hạn.

Cơ chế "kép" cũng định hình hành vi đầu tư mới trong khu vực tư nhân. Quá trình chuyển đổi được hỗ trợ về định hướng tài chính, giúp các cam kết chính trị về net zero được cụ thể hóa bằng những dự án đầu tư thực chất, góp phần định hình nền kinh tế phát thải thấp, có năng lực cạnh tranh toàn cầu.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức xác định tỷ lệ LDR. Động thái này được đánh giá sẽ hỗ trợ đáng kể thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt với nhóm ngân hàng "big 4".
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80