Agribank kiến tạo dự án xanh bằng nguồn vốn vay ưu đãi

Phạm Giang
(TBTCO) - Không chỉ gắn bó mật thiết, là “bệ đỡ” cho các chương trình, dự án ở lĩnh vực “tam nông”, Agribank còn thực hiện đa dạng dòng tín dụng hướng đến các dự án xanh, tuần hoàn, ESG, hướng đến phát triển bền vững. Tính đến hết quý III/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt hơn 28.300 tỷ đồng.
aa

Hỗ trợ lãi suất 2% cho dự án xanh, tuần hoàn và ESG

Việt Nam và rất nhiều quốc gia trên thế giới đang thực hiện “cuộc chuyển mình” mạnh mẽ từ kinh tế “nâu” sang “xanh”, hướng đến phát triển bền vững. Muốn đạt được mục tiêu này, Việt Nam phải có sự bứt phá mạnh mẽ trong cuộc đua “chuyển đổi kép” - chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây là hai trụ cột chiến lược trong giai đoạn phát triển mới.

Để khẳng định cam kết vì cộng đồng của Việt Nam đối với thế giới, hướng đến phát triển bền vững, hàng loạt văn bản chiến lược đã được ban hành, như Chiến lược Tăng trưởng xanh quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050; Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh; Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn…

Agribank kiến tạo dự án xanh bằng nguồn vốn vay ưu đãi
Agribank đã triển khai các gói tín dụng xanh quy mô lớn tài trợ dự án đầu tư thuộc các ngành trọng điểm và dự án thuộc lĩnh vực xanh.

Nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng, những chiến lược, kế hoạch trên chính là “chìa khóa” để Việt Nam tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng bền vững hơn. Việc này sẽ giúp Việt Nam hướng tới sự thịnh vượng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Để làm được điều đó, cần một chiến lược tổng thể, có tầm nhìn dài hạn và sự vào cuộc hành động của cả hệ thống chính trị. Trong đó, hệ thống ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng với nguồn tín dụng xanh.

Mới đây, Văn phòng Chính phủ ra Thông báo số 611/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11/2025 về Nghị định hướng dẫn chính sách hỗ trợ lãi suất 2%/năm thông qua các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách cho các doanh nghiệp vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG); Nghị định về cơ chế thử nghiệm phát triển kinh tế tuần hoàn; Nghị định về hoạt động của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành; Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu, tiên phong.

Trong nhiều năm qua, Agribank đã thể hiện vai trò tiên phong “kiến tạo xanh” trong hệ thống ngân hàng. Đó là sự hiện diện từ dự án xanh quy mô quốc gia lên đến chục nghìn tỷ đồng, đến dự án lớn của doanh nghiệp và các khách hàng cá nhân. Sự quyết liệt của Agribank là một trong những minh chứng rõ nét nhất cho “cuộc cách mạng” chuyển đổi xanh, chuyển đổi số của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia và ban hành các quy định về quản lý, vận hành và khai thác trong tháng 12/2025; trình Thủ tướng Chính phủ Quyết định hướng dẫn xác định dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị trong tháng 11/2025.

Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Chính phủ trong tháng 11/2025 Nghị định hướng dẫn chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp vay vốn thực hiện dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị thông qua các ngân hàng thương mại.

Thực tế cho thấy, tại Việt Nam, hoạt động cho vay đối với các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn, ESG đã được nhiều ngân hàng hưởng ứng. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 30/9/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt 744.000 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cuối năm 2024, chiếm gần 4,2% tổng dư nợ nền kinh tế. Dư nợ tín dụng xanh tập trung chủ yếu vào các ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm hơn 37%) và nông nghiệp xanh (chiếm gần 27%).

“Kiến tạo xanh” - góc nhìn từ Agribank

Nhiều chuyên gia đánh giá, việc định hướng phát triển xanh, bền vững đã được Đảng, Nhà nước đưa ra chiến lược phát triển từ khá lâu, trong đó tập trung vào việc ưu tiên các dự án xanh, tuần hoàn, ESG. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh (Quyết định số 21) được xem là bước ngoặt quan trọng, tạo hành lang pháp lý và nền tảng phát triển cho hệ sinh thái tài chính xanh.

Nói về Quyết định số 21, bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng giám đốc Agribank nhấn mạnh, các ngân hàng đã mong chờ từ rất lâu đối với tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Quyết định số 21 đã tạo điều kiện thuận lợi để các ngân hàng triển khai các gói ưu đãi.

Bà Phùng Thị Bình dẫn chứng, Agribank đã triển khai các gói tín dụng xanh quy mô lớn, bao gồm gói 30.000 tỷ đồng tài trợ dự án đầu tư thuộc các ngành trọng điểm và dự án thuộc lĩnh vực xanh. Agribank cũng tiên phong dành nguồn vốn 50.000 tỷ đồng để triển khai chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch. Đáng chú ý, ngân hàng đã dành riêng 10.000 tỷ đồng triển khai chương trình cho vay “Tín dụng xanh”, ưu đãi dành cho khách hàng cá nhân…

Nhằm kịp thời triển khai chỉ đạo của Chính phủ, Agribank đã nhanh chóng ban hành Quyết định số 2525/QĐ-NHNo-TD về “Danh sách các ngành, nghề kinh doanh loại trừ hạn chế cấp tín dụng của Agribank về môi trường và xã hội”. Theo đó, quyết định của Agribank phân loại rõ ràng các ngành, nghề loại trừ và hạn chế cấp tín dụng dựa trên mức độ tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội.

Từ sự kịp thời trong công tác thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Agribank đã trở thành một trong những ngân hàng tiên phong trong “kiến tạo xanh”, cấp tín dụng cho các dự án xanh từ các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, phòng chống ô nhiễm.

Cụ thể, tính đến hết quý III/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt 28.355,5 tỷ đồng. Trong đó, dư nợ cho lĩnh vực nông nghiệp xanh là hơn 5.973 tỷ đồng; lâm nghiệp bền vững đạt 6.944,4 tỷ đồng; năng lượng tái tạo và năng lượng sạch chiếm 15.260 tỷ đồng; lĩnh vực tái chế, tái sử dụng tài nguyên đạt 76,6 tỷ đồng; xử lý chất thải, phòng chống ô nhiễm đạt 101,5 tỷ đồng.

Từ kết quả và hành động trên cho thấy, vai trò của các ngân hàng trong mục tiêu phát triển xanh, phát triển bền vững của đất nước là rất lớn.

Agribank chủ lực cấp tín dụng cho các dự án xanh

Điểm nhấn quan trọng của Agribank đối với việc cấp tín dụng cho các dự án xanh là “Đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” của Thủ tướng Chính phủ. Agribank đã thiết kế gói tín dụng 30.000 tỷ đồng, lãi suất thấp hơn từ 1 - 2% nếu các bên trong chuỗi cung vay tại ngân hàng để hướng đến giảm phát thải trong ngành nông nghiệp.

Bên cạnh đó, có thể kể đến sự hiện diện của Agribank tại dự án Nhà máy Điện mặt trời TTC Phong Điền (TP. Huế) với tổng mức đầu tư hơn 700 tỷ đồng, công suất thiết kế 35 MW, sản lượng điện khoảng 50 triệu KWh/năm.

Năm 2018, Agribank và Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC) đã ký kết Hợp đồng tín dụng đầu tư xây dựng dự án Nhà máy Điện mặt trời Điện lực miền Trung (Khánh Hòa) có tổng vốn đầu tư xây dựng là 1.372 tỷ đồng.

Không chỉ dừng lại ở các dự án lớn, Agribank còn hướng đến các khách hàng cá nhân với các gói cho vay hướng đến phát triển xanh, giảm phát thải và bảo vệ môi trường. Đó là chương trình cho vay ưu đãi lãi suất “Khởi hành xanh - Đồng hành cùng bạn” dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn mua xe điện với quy mô 2.000 tỷ đồng, lãi suất chỉ 4,5%/năm.

Phạm Giang

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80