Agribank kiến tạo dự án xanh bằng nguồn vốn vay ưu đãi

Phạm Giang
(TBTCO) - Không chỉ gắn bó mật thiết, là “bệ đỡ” cho các chương trình, dự án ở lĩnh vực “tam nông”, Agribank còn thực hiện đa dạng dòng tín dụng hướng đến các dự án xanh, tuần hoàn, ESG, hướng đến phát triển bền vững. Tính đến hết quý III/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt hơn 28.300 tỷ đồng.
aa

Hỗ trợ lãi suất 2% cho dự án xanh, tuần hoàn và ESG

Việt Nam và rất nhiều quốc gia trên thế giới đang thực hiện “cuộc chuyển mình” mạnh mẽ từ kinh tế “nâu” sang “xanh”, hướng đến phát triển bền vững. Muốn đạt được mục tiêu này, Việt Nam phải có sự bứt phá mạnh mẽ trong cuộc đua “chuyển đổi kép” - chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây là hai trụ cột chiến lược trong giai đoạn phát triển mới.

Để khẳng định cam kết vì cộng đồng của Việt Nam đối với thế giới, hướng đến phát triển bền vững, hàng loạt văn bản chiến lược đã được ban hành, như Chiến lược Tăng trưởng xanh quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050; Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh; Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn…

Agribank kiến tạo dự án xanh bằng nguồn vốn vay ưu đãi
Agribank đã triển khai các gói tín dụng xanh quy mô lớn tài trợ dự án đầu tư thuộc các ngành trọng điểm và dự án thuộc lĩnh vực xanh.

Nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng, những chiến lược, kế hoạch trên chính là “chìa khóa” để Việt Nam tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng bền vững hơn. Việc này sẽ giúp Việt Nam hướng tới sự thịnh vượng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Để làm được điều đó, cần một chiến lược tổng thể, có tầm nhìn dài hạn và sự vào cuộc hành động của cả hệ thống chính trị. Trong đó, hệ thống ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng với nguồn tín dụng xanh.

Mới đây, Văn phòng Chính phủ ra Thông báo số 611/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11/2025 về Nghị định hướng dẫn chính sách hỗ trợ lãi suất 2%/năm thông qua các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách cho các doanh nghiệp vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG); Nghị định về cơ chế thử nghiệm phát triển kinh tế tuần hoàn; Nghị định về hoạt động của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành; Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu, tiên phong.

Trong nhiều năm qua, Agribank đã thể hiện vai trò tiên phong “kiến tạo xanh” trong hệ thống ngân hàng. Đó là sự hiện diện từ dự án xanh quy mô quốc gia lên đến chục nghìn tỷ đồng, đến dự án lớn của doanh nghiệp và các khách hàng cá nhân. Sự quyết liệt của Agribank là một trong những minh chứng rõ nét nhất cho “cuộc cách mạng” chuyển đổi xanh, chuyển đổi số của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia và ban hành các quy định về quản lý, vận hành và khai thác trong tháng 12/2025; trình Thủ tướng Chính phủ Quyết định hướng dẫn xác định dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị trong tháng 11/2025.

Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Chính phủ trong tháng 11/2025 Nghị định hướng dẫn chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp vay vốn thực hiện dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị thông qua các ngân hàng thương mại.

Thực tế cho thấy, tại Việt Nam, hoạt động cho vay đối với các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn, ESG đã được nhiều ngân hàng hưởng ứng. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 30/9/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt 744.000 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cuối năm 2024, chiếm gần 4,2% tổng dư nợ nền kinh tế. Dư nợ tín dụng xanh tập trung chủ yếu vào các ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm hơn 37%) và nông nghiệp xanh (chiếm gần 27%).

“Kiến tạo xanh” - góc nhìn từ Agribank

Nhiều chuyên gia đánh giá, việc định hướng phát triển xanh, bền vững đã được Đảng, Nhà nước đưa ra chiến lược phát triển từ khá lâu, trong đó tập trung vào việc ưu tiên các dự án xanh, tuần hoàn, ESG. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh (Quyết định số 21) được xem là bước ngoặt quan trọng, tạo hành lang pháp lý và nền tảng phát triển cho hệ sinh thái tài chính xanh.

Nói về Quyết định số 21, bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng giám đốc Agribank nhấn mạnh, các ngân hàng đã mong chờ từ rất lâu đối với tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Quyết định số 21 đã tạo điều kiện thuận lợi để các ngân hàng triển khai các gói ưu đãi.

Bà Phùng Thị Bình dẫn chứng, Agribank đã triển khai các gói tín dụng xanh quy mô lớn, bao gồm gói 30.000 tỷ đồng tài trợ dự án đầu tư thuộc các ngành trọng điểm và dự án thuộc lĩnh vực xanh. Agribank cũng tiên phong dành nguồn vốn 50.000 tỷ đồng để triển khai chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch. Đáng chú ý, ngân hàng đã dành riêng 10.000 tỷ đồng triển khai chương trình cho vay “Tín dụng xanh”, ưu đãi dành cho khách hàng cá nhân…

Nhằm kịp thời triển khai chỉ đạo của Chính phủ, Agribank đã nhanh chóng ban hành Quyết định số 2525/QĐ-NHNo-TD về “Danh sách các ngành, nghề kinh doanh loại trừ hạn chế cấp tín dụng của Agribank về môi trường và xã hội”. Theo đó, quyết định của Agribank phân loại rõ ràng các ngành, nghề loại trừ và hạn chế cấp tín dụng dựa trên mức độ tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội.

Từ sự kịp thời trong công tác thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Agribank đã trở thành một trong những ngân hàng tiên phong trong “kiến tạo xanh”, cấp tín dụng cho các dự án xanh từ các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, phòng chống ô nhiễm.

Cụ thể, tính đến hết quý III/2025, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt 28.355,5 tỷ đồng. Trong đó, dư nợ cho lĩnh vực nông nghiệp xanh là hơn 5.973 tỷ đồng; lâm nghiệp bền vững đạt 6.944,4 tỷ đồng; năng lượng tái tạo và năng lượng sạch chiếm 15.260 tỷ đồng; lĩnh vực tái chế, tái sử dụng tài nguyên đạt 76,6 tỷ đồng; xử lý chất thải, phòng chống ô nhiễm đạt 101,5 tỷ đồng.

Từ kết quả và hành động trên cho thấy, vai trò của các ngân hàng trong mục tiêu phát triển xanh, phát triển bền vững của đất nước là rất lớn.

Agribank chủ lực cấp tín dụng cho các dự án xanh

Điểm nhấn quan trọng của Agribank đối với việc cấp tín dụng cho các dự án xanh là “Đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” của Thủ tướng Chính phủ. Agribank đã thiết kế gói tín dụng 30.000 tỷ đồng, lãi suất thấp hơn từ 1 - 2% nếu các bên trong chuỗi cung vay tại ngân hàng để hướng đến giảm phát thải trong ngành nông nghiệp.

Bên cạnh đó, có thể kể đến sự hiện diện của Agribank tại dự án Nhà máy Điện mặt trời TTC Phong Điền (TP. Huế) với tổng mức đầu tư hơn 700 tỷ đồng, công suất thiết kế 35 MW, sản lượng điện khoảng 50 triệu KWh/năm.

Năm 2018, Agribank và Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC) đã ký kết Hợp đồng tín dụng đầu tư xây dựng dự án Nhà máy Điện mặt trời Điện lực miền Trung (Khánh Hòa) có tổng vốn đầu tư xây dựng là 1.372 tỷ đồng.

Không chỉ dừng lại ở các dự án lớn, Agribank còn hướng đến các khách hàng cá nhân với các gói cho vay hướng đến phát triển xanh, giảm phát thải và bảo vệ môi trường. Đó là chương trình cho vay ưu đãi lãi suất “Khởi hành xanh - Đồng hành cùng bạn” dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn mua xe điện với quy mô 2.000 tỷ đồng, lãi suất chỉ 4,5%/năm.

Phạm Giang

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▼200K 13,400 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▼200K 13,350 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
Hà Nội - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
Đà Nẵng - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
Miền Tây - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
Tây Nguyên - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,450 ▼100K 14,800 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,450 ▼100K 14,800 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,450 ▼100K 14,800 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,990 ▼100K 14,690 ▼100K
Trang sức 99.99 14,000 ▼100K 14,700 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▼15K 14,842 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▼15K 14,843 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 ▼20K 1,479 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 ▼20K 148 ▼1347K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼20K 1,459 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 ▼1486K 144,455 ▼1486K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 ▼1125K 109,586 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 ▼1020K 99,372 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 ▼915K 89,158 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 ▼875K 85,218 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 ▼626K 60,996 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cập nhật: 13/07/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17662 17935 18510
CAD 18020 18295 18907
CHF 31787 32168 32809
CNY 0 3829 3922
EUR 29313 29534 30610
GBP 34340 34732 35662
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14805 15389
SGD 19755 20036 20612
THB 702 765 818
USD (1,2) 26001 0 0
USD (5,10,20) 26042 0 0
USD (50,100) 26071 26085 26444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,327 29,350 30,856
JPY 157.65 157.93 167.45
GBP 34,506 34,599 35,791
AUD 17,856 17,921 18,596
CAD 18,200 18,258 18,931
CHF 32,033 32,133 33,071
SGD 19,869 19,931 20,718
CNY - 3,798 3,943
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.06 16.75 18.23
THB 750.16 759.42 813.01
NZD 14,784 14,921 15,362
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,937 4,076
NOK - 2,636 2,732
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,014.22 - 6,790.66
TWD 739.46 - 895.19
SAR - 6,877.01 7,243.49
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26065 26065 26481
AUD 17844 17944 18869
CAD 18188 18288 19303
CHF 32014 32044 33626
CNY 3811.3 3836.3 3971.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29476 29506 31232
GBP 34627 34677 36437
HKD 0 3355 0
JPY 158.54 159.04 169.57
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14923 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19907 20037 20768
THB 0 731.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,094 26,144 26,450
USD20 26,094 26,144 26,450
USD1 26,094 26,144 26,450
AUD 17,917 18,017 19,124
EUR 29,286 29,386 31,042
CAD 18,141 18,241 19,549
SGD 20,000 20,150 20,704
JPY 159.09 160.59 166.13
GBP 34,544 34,694 35,758
XAU 14,588,000 0 14,892,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/07/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80