Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (14 - 18/4) cho thấy, tỷ giá trung tâm giảm 25 đồng còn 24.898 VND/USD cùng đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế, song tỷ giá USD/VND lại nóng hầm hập tại các ngân hàng thương mại và chợ đen. Áp lực lên tỷ giá đến từ chính sách thuế quan từ Mỹ và giá vàng tăng sốc 15 triệu đồng/lượng chỉ sau 1 tuần.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi

Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/3: Tỷ giá leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt

Ngày 18/4, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết ở mức 24.898 đồng/USD, tăng 5 đồng so với hôm qua. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong khoảng 23.653 - 26.143 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo cũng tăng 5 đồng, hiện ở mức 23.704 - 26.092 VND/USD.

Tỷ giá USD tăng vọt trong nước dù đồng USD đuối sức

Tại các ngân hàng thương mại, nhiều đơn vị lại điều chỉnh tăng mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được điều chỉnh tăng mạnh 60 đồng, lên mức 25.730 - 26.120 VND/USD (mua vào - bán ra). Tương tự, BIDV cũng nâng tỷ giá USD thêm 60 đồng cả hai chiều, lên 25.760 - 26.120 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng
Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng. Ảnh tư liệu.

Tỷ giá USD bật tăng mạnh tại ngân hàng và chợ đen

Trái lại, trong tuần qua (14 - 18/4), tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng thương mại và trên thị trường tự do lại bật tăng mạnh. Theo đó, tỷ giá USD các ngân hàng thương mại bán ra tăng khoảng 200 đồng tuần qua, trái ngược với mức hạ nhiệt 40 đồng tuần trước và giao dịch trên 26.100 VND/USD. Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua biến động mạnh hơn, với mức tăng 265 đồng chiều bán ra tuần qua, giao dịch ở 26.285 - 26.385 VND/USD.

Về diễn biến trong tuần qua (14 - 18/4), tỷ giá trung tâm được điều chỉnh giảm mạnh phiên đầu tuần 37 đồng, sau đó tăng giảm đan xen, tổng cộng tuần qua giảm 25 đồng sau khi tăng miệt mài 5 tuần liên tiếp.

Tỷ giá USD trong nước tiếp tục tăng mạnh, bất chấp diễn biến suy yếu của đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế. Chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, vẫn lặn ngụp dưới mốc 100 điểm, thấp nhất trong vòng 3 năm qua.

DXY hiện ở mức 99,31 điểm, dù Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) mới đây khẳng định chưa vội cắt giảm lãi suất. Điều này phản ánh sự suy giảm niềm tin của thị trường vào đồng bạc xanh như một tài sản trú ẩn an toàn, do căng thẳng thương mại khơi lại tâm lý sợ rủi ro của nhà đầu tư.

Sự bất ổn về thuế quan thúc đẩy dòng tiền đổ vào nơi trú ẩn an toàn, khiến tỷ giá USD/CHF hiện đang giao dịch ở mức khoảng 0,81 và thấp nhất trong vòng 15 năm qua. Đồng Yên Nhật (JPY) cũng tiếp tục mạnh lên so với USD tính trong 6 tháng qua, khiến tỷ giá USD/JPY giảm dần, tiến sát mốc 142,33.

Chính sách thuế quan từ Mỹ và giá vàng tạo áp lực lớn

Trong báo cáo phân tích mới đây, Công ty chứng khoán KB Việt Nam cho biết, áp lực lên tỷ giá gia tăng rõ rệt kể từ thời điểm Mỹ công bố chính sách thuế đối ứng 46% áp dụng với hàng hóa từ Việt Nam. Tỷ giá có thời điểm chạm trần 26.000 VND/USD theo quy định của NHNN, phản ánh tâm lý lo ngại về khả năng xuất khẩu sang Mỹ suy giảm và hệ quả gián tiếp đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới.

Dù vậy, trong những phiên sau đó, áp lực tỷ giá phần nào được xoa dịu sau quyết định tạm hoãn áp thuế trong 90 ngày và chỉ số DXY giảm xuống vùng 99 - 101 điểm, phản ánh lo ngại của thị trường về sức mạnh của đồng USD khi Mỹ có nguy cơ rơi vào suy thoái. Tính đến ngày 15/4, tỷ giá trung tâm ở mức 24.886 VND/USD, tăng 2,2% so với đầu năm.

Tỷ giá trên thị trường chợ đen cũng có diễn biến tương tự, thậm chí căng thẳng hơn do thị trường này phản ứng mạnh mẽ trước các biến động kinh tế. Ngoài ra, sự bất định tương đối lớn của kinh tế toàn cầu trong thời điểm hiện tại khiến các tài sản trú ẩn như vàng tăng giá mạnh mẽ. Giá vàng thế giới trong những tuần qua lần đầu tiên vượt mức 3.300 USD/ounce, thiết lập đỉnh mới, đồng thời ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong 5 năm trở lại đây.

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng
Chỉ trong vòng Giá bán vàng tăng 15 triệu đồng/lượng chỉ sau 1 tuần. Ảnh tư liệu.

Vàng tăng sốc đẩy tỷ giá chợ đen biến động mạnh

Theo ghi nhận ngày 18/4, giá vàng trong nước tăng mạnh, vượt 120 triệu đồng/lượng nhưng chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế tương đối lớn, lên tới 15 triệu đồng/lượng. Điều này gián tiếp gây áp lực lên tỷ giá của thị trường tự do khi nhu cầu nhập vàng lậu tăng cao. Tính đến thời điểm hiện tại, tỷ giá chợ đen đang ở mức 26.385 VND/USD.

"Chúng tôi nâng mức dự báo biên độ dao động của tỷ giá, theo đó tỷ giá USD/VND có thể tăng xấp xỉ 4% so với thời điểm cuối năm 2024. Diễn biến tỷ giá trong thời gian tới sẽ tiếp tục phụ thuộc vào hai yếu tố chính: cung - cầu ngoại tệ, đặc biệt là các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cán cân thương mại và lượng kiều hối; xu hướng vận động của đồng USD trên thị trường quốc tế, thể hiện qua chỉ số DXY" - nhóm phân tích Chứng khoán KB đánh giá.

Trong đó, việc đồng USD suy yếu trở lại sau giai đoạn tăng mạnh sẽ là yếu tố hỗ trợ giúp giảm bớt áp lực lên tỷ giá trong ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu căng thẳng thương mại kéo dài làm suy giảm nguồn cung ngoại tệ vào Việt Nam, tỷ giá vẫn có thể đối mặt với áp lực tăng trong các quý còn lại của năm.

Trong bối cảnh chính sách thuế quan của Mỹ khiến thị trường lo ngại về áp lực tỷ giá, NHNN cam kết vẫn hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng nhằm ổn định lãi suất. Cụ thể, NHNN đã ngưng phát hành tín phiếu từ 1 tháng trước, thay vào đó tăng cường bơm ròng thông qua nghiệp vụ mua kỳ hạn, với khối lượng đạt 63.678,83 tỷ đồng trong tuần qua 14 - 18/04/2025. Có 111.448,95 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố; không có tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Tuy nhiên, khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 72.035,4 tỷ đồng. Tính chung tuần qua, lượng tiền hút ròng khỏi hệ thống là 8.356,67 tỷ đồng, trái ngược với khoản bơm ròng tuần trước (23.920,25 tỷ đồng).

Ngoài ra, NHNN cũng bổ sung thêm các kỳ hạn dài hơn như 35 ngày và 91 ngày, cho thấy định hướng hỗ trợ thanh khoản mang tính dài hạn, ổn định hơn cho hệ thống ngân hàng. Việc duy trì thanh khoản dồi dào thể hiện rõ định hướng ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện nay.

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 17/4, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND kỳ hạn qua đêm ít biến động so với tuần trước, giao dịch ở 4,07% (tăng 4 điểm cơ bản); 1 tuần: 4,21% (giảm 14 điểm cơ bản); 2 tuần: 4,7% (tăng 29 điểm cơ bản); 1 tháng: 4,64% (tăng mạnh nhất 42 điểm cơ bản); 3 tháng: 4,73% (giảm nhẹ 8 điểm cơ bản)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17887 18462
CAD 17959 18234 18849
CHF 31793 32174 32816
CNY 0 3827 3920
EUR 29285 29505 30581
GBP 33887 34276 35218
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14546 15136
SGD 19758 20039 20616
THB 703 766 819
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80