Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (14 - 18/4) cho thấy, tỷ giá trung tâm giảm 25 đồng còn 24.898 VND/USD cùng đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế, song tỷ giá USD/VND lại nóng hầm hập tại các ngân hàng thương mại và chợ đen. Áp lực lên tỷ giá đến từ chính sách thuế quan từ Mỹ và giá vàng tăng sốc 15 triệu đồng/lượng chỉ sau 1 tuần.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi

Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/3: Tỷ giá leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt

Ngày 18/4, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết ở mức 24.898 đồng/USD, tăng 5 đồng so với hôm qua. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong khoảng 23.653 - 26.143 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo cũng tăng 5 đồng, hiện ở mức 23.704 - 26.092 VND/USD.

Tỷ giá USD tăng vọt trong nước dù đồng USD đuối sức

Tại các ngân hàng thương mại, nhiều đơn vị lại điều chỉnh tăng mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được điều chỉnh tăng mạnh 60 đồng, lên mức 25.730 - 26.120 VND/USD (mua vào - bán ra). Tương tự, BIDV cũng nâng tỷ giá USD thêm 60 đồng cả hai chiều, lên 25.760 - 26.120 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng
Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng. Ảnh tư liệu.

Tỷ giá USD bật tăng mạnh tại ngân hàng và chợ đen

Trái lại, trong tuần qua (14 - 18/4), tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng thương mại và trên thị trường tự do lại bật tăng mạnh. Theo đó, tỷ giá USD các ngân hàng thương mại bán ra tăng khoảng 200 đồng tuần qua, trái ngược với mức hạ nhiệt 40 đồng tuần trước và giao dịch trên 26.100 VND/USD. Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua biến động mạnh hơn, với mức tăng 265 đồng chiều bán ra tuần qua, giao dịch ở 26.285 - 26.385 VND/USD.

Về diễn biến trong tuần qua (14 - 18/4), tỷ giá trung tâm được điều chỉnh giảm mạnh phiên đầu tuần 37 đồng, sau đó tăng giảm đan xen, tổng cộng tuần qua giảm 25 đồng sau khi tăng miệt mài 5 tuần liên tiếp.

Tỷ giá USD trong nước tiếp tục tăng mạnh, bất chấp diễn biến suy yếu của đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế. Chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, vẫn lặn ngụp dưới mốc 100 điểm, thấp nhất trong vòng 3 năm qua.

DXY hiện ở mức 99,31 điểm, dù Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) mới đây khẳng định chưa vội cắt giảm lãi suất. Điều này phản ánh sự suy giảm niềm tin của thị trường vào đồng bạc xanh như một tài sản trú ẩn an toàn, do căng thẳng thương mại khơi lại tâm lý sợ rủi ro của nhà đầu tư.

Sự bất ổn về thuế quan thúc đẩy dòng tiền đổ vào nơi trú ẩn an toàn, khiến tỷ giá USD/CHF hiện đang giao dịch ở mức khoảng 0,81 và thấp nhất trong vòng 15 năm qua. Đồng Yên Nhật (JPY) cũng tiếp tục mạnh lên so với USD tính trong 6 tháng qua, khiến tỷ giá USD/JPY giảm dần, tiến sát mốc 142,33.

Chính sách thuế quan từ Mỹ và giá vàng tạo áp lực lớn

Trong báo cáo phân tích mới đây, Công ty chứng khoán KB Việt Nam cho biết, áp lực lên tỷ giá gia tăng rõ rệt kể từ thời điểm Mỹ công bố chính sách thuế đối ứng 46% áp dụng với hàng hóa từ Việt Nam. Tỷ giá có thời điểm chạm trần 26.000 VND/USD theo quy định của NHNN, phản ánh tâm lý lo ngại về khả năng xuất khẩu sang Mỹ suy giảm và hệ quả gián tiếp đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới.

Dù vậy, trong những phiên sau đó, áp lực tỷ giá phần nào được xoa dịu sau quyết định tạm hoãn áp thuế trong 90 ngày và chỉ số DXY giảm xuống vùng 99 - 101 điểm, phản ánh lo ngại của thị trường về sức mạnh của đồng USD khi Mỹ có nguy cơ rơi vào suy thoái. Tính đến ngày 15/4, tỷ giá trung tâm ở mức 24.886 VND/USD, tăng 2,2% so với đầu năm.

Tỷ giá trên thị trường chợ đen cũng có diễn biến tương tự, thậm chí căng thẳng hơn do thị trường này phản ứng mạnh mẽ trước các biến động kinh tế. Ngoài ra, sự bất định tương đối lớn của kinh tế toàn cầu trong thời điểm hiện tại khiến các tài sản trú ẩn như vàng tăng giá mạnh mẽ. Giá vàng thế giới trong những tuần qua lần đầu tiên vượt mức 3.300 USD/ounce, thiết lập đỉnh mới, đồng thời ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong 5 năm trở lại đây.

Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng
Chỉ trong vòng Giá bán vàng tăng 15 triệu đồng/lượng chỉ sau 1 tuần. Ảnh tư liệu.

Vàng tăng sốc đẩy tỷ giá chợ đen biến động mạnh

Theo ghi nhận ngày 18/4, giá vàng trong nước tăng mạnh, vượt 120 triệu đồng/lượng nhưng chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế tương đối lớn, lên tới 15 triệu đồng/lượng. Điều này gián tiếp gây áp lực lên tỷ giá của thị trường tự do khi nhu cầu nhập vàng lậu tăng cao. Tính đến thời điểm hiện tại, tỷ giá chợ đen đang ở mức 26.385 VND/USD.

"Chúng tôi nâng mức dự báo biên độ dao động của tỷ giá, theo đó tỷ giá USD/VND có thể tăng xấp xỉ 4% so với thời điểm cuối năm 2024. Diễn biến tỷ giá trong thời gian tới sẽ tiếp tục phụ thuộc vào hai yếu tố chính: cung - cầu ngoại tệ, đặc biệt là các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cán cân thương mại và lượng kiều hối; xu hướng vận động của đồng USD trên thị trường quốc tế, thể hiện qua chỉ số DXY" - nhóm phân tích Chứng khoán KB đánh giá.

Trong đó, việc đồng USD suy yếu trở lại sau giai đoạn tăng mạnh sẽ là yếu tố hỗ trợ giúp giảm bớt áp lực lên tỷ giá trong ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu căng thẳng thương mại kéo dài làm suy giảm nguồn cung ngoại tệ vào Việt Nam, tỷ giá vẫn có thể đối mặt với áp lực tăng trong các quý còn lại của năm.

Trong bối cảnh chính sách thuế quan của Mỹ khiến thị trường lo ngại về áp lực tỷ giá, NHNN cam kết vẫn hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng nhằm ổn định lãi suất. Cụ thể, NHNN đã ngưng phát hành tín phiếu từ 1 tháng trước, thay vào đó tăng cường bơm ròng thông qua nghiệp vụ mua kỳ hạn, với khối lượng đạt 63.678,83 tỷ đồng trong tuần qua 14 - 18/04/2025. Có 111.448,95 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố; không có tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Tuy nhiên, khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 72.035,4 tỷ đồng. Tính chung tuần qua, lượng tiền hút ròng khỏi hệ thống là 8.356,67 tỷ đồng, trái ngược với khoản bơm ròng tuần trước (23.920,25 tỷ đồng).

Ngoài ra, NHNN cũng bổ sung thêm các kỳ hạn dài hơn như 35 ngày và 91 ngày, cho thấy định hướng hỗ trợ thanh khoản mang tính dài hạn, ổn định hơn cho hệ thống ngân hàng. Việc duy trì thanh khoản dồi dào thể hiện rõ định hướng ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hiện nay.

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 17/4, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND kỳ hạn qua đêm ít biến động so với tuần trước, giao dịch ở 4,07% (tăng 4 điểm cơ bản); 1 tuần: 4,21% (giảm 14 điểm cơ bản); 2 tuần: 4,7% (tăng 29 điểm cơ bản); 1 tháng: 4,64% (tăng mạnh nhất 42 điểm cơ bản); 3 tháng: 4,73% (giảm nhẹ 8 điểm cơ bản)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
SSI: Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, nhưng nợ xấu quý II lên mức cao nhất kể từ năm 2020

SSI: Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, nhưng nợ xấu quý II lên mức cao nhất kể từ năm 2020

(TBTCO) - Dù lợi nhuận ngân hàng tiếp tục vượt kỳ vọng, SSI Research vẫn giữ quan điểm thận trọng khi chất lượng tài sản suy giảm rõ nét đằng sau bức tranh lợi nhuận khả quan. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 1,97%, cao nhất trong quý II kể từ năm 2020, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 83%.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

(TBTCO) - Hành trình tăng trưởng bền bỉ tiếp tục đưa VBI giữ vững Top 3 Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ uy tín năm 2026. Với doanh thu 6 tháng đầu năm gần chạm mốc 3.500 tỷ đồng, VBI không chỉ mở rộng quy mô, mà còn đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển sản phẩm lấy khách hàng làm trung tâm, sẵn sàng đón đầu chu kỳ tăng trưởng mới của thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì đà tăng lên hơn 4.240 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước cũng ghi nhận diễn biến tích cực khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá.
MB bứt tốc hướng tới lợi nhuận 39.500 tỷ đồng, không ngại đặt mục tiêu lớn để tạo động lực phát triển nhanh hơn

MB bứt tốc hướng tới lợi nhuận 39.500 tỷ đồng, không ngại đặt mục tiêu lớn để tạo động lực phát triển nhanh hơn

(TBTCO) - Giữa bối cảnh kinh tế và thị trường tài chính nhiều biến động, MB ghi nhận nhiều chỉ tiêu kinh doanh tích cực, báo lãi trước thuế 20,2 nghìn tỷ đồng, lọt top 3 toàn ngành và tự tin hoàn thành mục tiêu 39,5 nghìn tỷ đồng cả năm. Ngân hàng hướng tới tăng trưởng tín dụng và huy động 30 - 35% trong nửa cuối năm, bứt tốc trong 3 năm tới và thu hẹp khoảng cách với nhóm "big 4".
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,900
Hà Nội - PNJ 140,000 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,900
Miền Tây - PNJ 140,000 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,400
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 09/08/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18254 18833
CAD 18254 18530 19155
CHF 31764 32145 32806
CNY 0 3840 3940
EUR 29646 29868 30949
GBP 34531 34923 35875
HKD 0 3208 3411
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15128 15714
SGD 19945 20227 20812
THB 707 771 825
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 09/08/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80