Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/3: Tỷ giá leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Về diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (24 - 28/3), tỷ giá trung tâm lập đỉnh lịch sử trước khi điều chỉnh giảm nhẹ vào cuối tuần. Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm ở nhiều kỳ hạn, nhà điều hành duy trì bơm thanh khoản qua thị trường mở, nhưng áp lực đáo hạn khiến lượng bơm ròng không đáng kể.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/3: Tỷ giá lập đỉnh mới, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá Ngân hàng Nhà nước có thể hạ lãi suất OMO, tiếp tục bơm thanh khoản

Ngày 28/3, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 24.843 VND/USD, giảm 3 đồng so với phiên trước. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong khoảng 23.600 - 26.085 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được điều chỉnh giảm 3 đồng so với phiên trước, hiện ở mức 23.651 - 26.035 VND/USD.

Giá bán USD vẫn trên đỉnh

Tại các ngân hàng thương mại, nhiều đơn vị tăng chiều mua, song giảm chiều bán. Đơn cử, BIDV niêm yết ở mức 25.405 - 25.755 VND/USD, tăng 5 đồng chiều mua và giảm 5 đồng chiều bán. Vietinbank niêm yết ở mức 25.405 - 25.761 VND/USD, tăng 151 đồng chiều mua và giảm 69 đồng chiều bán. Còn Vietcombank tăng 10 đồng ở cả hai chiều mua - bán, giao dịch ở mức 25.370 - 25.760 VND/USD hai chiều mua vào - bán ra.

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/3: Tỷ giá leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt
Tỷ giá vẫn leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt trong tuần qua. Ảnh tư liệu

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh lịch sử, nhưng hạ nhiệt vào cuối tuần

Tính chung tuần qua (24 - 28/3), tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng ba phiên đầu tuần tổng cộng 38 đồng, trong đó hai phiên tăng mạnh (18 đồng và 16 đồng). Tỷ giá trung tâm lập đỉnh lịch sử vào ngày 26/3, đạt 24.851 VND/USD, sau đó, giảm nhẹ hai phiên cuối tuần. Chốt ngày 28/3, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 24.843 VND/USD, tăng 30 đồng so với phiên cuối tuần trước đó, thấp hơn mức tăng tuần trước (tăng 34 đồng).

Trên thị trường tự do, đồng USD được giao dịch ở mức 25.860 - 25.960 VND/USD, tăng 25 đồng chiều mua và 25 đồng chiều bán.

Tại các ngân hàng thương mại, giá USD bán ra vẫn ở mức cao và gần như không đổi so với tuần trước đó. Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua cũng ít biến động so với tuần trước. Chốt phiên 28/3, tỷ giá tự do giảm nhẹ 10 đồng ở cả hai chiều, thay vì mức tăng mạnh 130 đồng cuối tuần trước.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo lường giá trị của đồng USD so với rổ 6 loại tiền tệ chính trên thế giới chạm mức cao nhất trong ba tuần, khoảng 104,68 điểm, nhưng sau đó đã giảm nhẹ. Chỉ số DXY hiện khoảng 104,4 điểm, tương ứng giảm khoảng 3% trong tháng 3/2025.

Ngày 2/4 tới đây được Tổng thống Mỹ gọi “Ngày giải phóng”, khi Mỹ công bố các mức thuế đối ứng nhằm trả đũa các hàng rào thuế quan và phi thuế quan từ các quốc gia khác. Điều này dẫn đến đồng USD có diễn biến trái chiều vào tuần qua, khi các nhà giao dịch cân nhắc mức độ nghiêm trọng của các biện pháp thuế quan mà Tổng thống Mỹ Donald Trump dự kiến công bố vào tuần tới.

Bơm ròng hạn chế giữa áp lực tỷ giá

Ông Abel Lim - Giám đốc Tư vấn và Chiến lược Quản lý tài sản, Ngân hàng UOB (Singapore) cho rằng, chính sách tiền tệ toàn cầu sẽ bị chi phối bởi các tác động kinh tế và lạm phát từ các chính sách của Tổng thống Trump.

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/3: Tỷ giá leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt

Dự báo biến động tỷ giá USD/VND

"Hầu hết các đồng tiền châu Á đều suy yếu hơn so với USD trong giời gian gần đây, ví dụ như VND đã giảm chỉ còn khoảng 25.600 VND đổi một USD vào đầu tháng 3. Đà giảm này có thể sẽ tiếp tục do sự chững lại của kinh tế Trung Quốc và khả năng Mỹ áp thuế lên Việt Nam.

Tuy nhiên, một số yếu tố có thể giúp giảm áp lực mất giá của VND, bao gồm triển vọng tăng trưởng nội địa mạnh mẽ và cam kết của NHNN trong việc đảm bảo ổn định tỷ giá. Dự báo cập nhật của chúng tôi về tỷ giá USD/VND là 25.800 trong quý II/2025, 26.000 trong quý III/2025, 25.800 trong quý IV/2025 và 25.600 trong quý I/2026" - ông Abel Lim đánh giá.

Trước tình hình đó, các ngân hàng trung ương trên thế giới sẽ thận trọng theo dõi diễn biến lạm phát và thương mại để đưa ra quyết định điều chỉnh lãi suất phù hợp. Riêng tại Mỹ, quan điểm của chuyên gia Ngân hàng UOB cho rằng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) dự kiến sẽ chỉ cắt giảm lãi suất ở mức 25 điểm cơ bản trong quý II.

Về diễn biến của đồng USD, ông Abel Lim nhìn nhận, những lo ngại mới về tăng trưởng của Mỹ đã dẫn đến sự suy giảm của đồng USD gần đây và thị trường ngày càng kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất nhiều hơn trong năm nay. Mỹ hiện vẫn duy trì mức chênh lệch lãi suất đáng kể so với các nền kinh tế phát triển khác, điều này có thể khiến đồng USD phục hồi trong quý II/2025 trước khi giảm trở lại vào quý III/2025.

Hiện NHNN vẫn đang đẩy mạnh việc cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh thị trường mở (OMO). Theo đó, ở kênh cầm cố, phiên ngày 28/3, có 4.589,1 tỷ đồng trúng thầu, gồm 1.107,01 tỷ đồng ở kỳ hạn 7 ngày và 3.482,09 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày, lãi suất đều ở mức 4%; có 12.710,12 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN.

Như vậy, NHNN hút ròng 8.121,02 tỷ đồng từ thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm nay. Có 81.647,72 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố; không có tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Tính chung tuần qua, ở kênh cầm cố, có 53.094,85 tỷ đồng trúng thầu; trong đó, nhà điều hành bơm thanh khoản mạnh hai phiên đầu tuần. Tuy nhiên, do khối lượng các khoản vay cầm cố đến hạn phải thanh toán lớn, nên dù bơm thêm tiền vào hệ thống, lượng tiền ròng thực tế bổ sung cho thị trường vẫn không đáng kể, tương ứng mức bơm ròng 798,46 tỷ đồng tuần qua.

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 27/3, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm ở các kỳ hạn ngắn, trong khi tăng 6 điểm cơ bản kỳ hạn 3 tháng so với phiên trước đó. Cụ thể, qua đêm 3,88%; 1 tuần 4,34%; 2 tuần 4,4% và 1 tháng 4,6%.

Tính chung tuần qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng, VND cũng có xu hướng giảm ở kỳ hạn qua đêm, giảm 43 điểm cơ bản; 2 tuần giảm 13 điểm cơ bản; 3 tháng giảm 39 điểm cơ bản; ngược lại, kỳ hạn 1 tuần nhích tăng nhẹ 1 điểm cơ bản và 1 tháng tăng 41 điểm cơ bản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80