Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Từ đầu tháng 2/2025 đến nay, tỷ giá trung tâm tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng mạnh, với mức tăng 430 đồng và gần tương đương mức tăng 469 đồng cả năm 2024. Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá mua giao ngay tại Sở giao dịch cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn và tỷ giá bán giao ngay thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần. Trước những động thái mới trong điều hành tỷ giá hai tháng đầu năm và những biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá, phóng viên TBTCVN đã có buổi phỏng vấn ông Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản toàn cầu.
aa
Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá
Dự báo biến động tỷ giá sẽ còn mạnh trong năm nay. Ảnh tư liệu

PV: Trước sự biến động khó lường của tỷ giá USD/VND những tháng đầu năm, xin ông cho biết Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã sử dụng những công cụ gì để linh hoạt điều hành tỷ giá?

Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Hiện chỉ số DXY phản ánh giá trị của đồng USD với 6 đồng tiền chủ chốt khác hiện giảm về khoảng 106 - 107 điểm, sụt giảm so với giai đoạn cao điểm đầu năm từng lên 110 điểm, nhưng vẫn neo ở mức cao. Như vậy, giá trị của đồng USD tăng lên đồng nghĩa với VND giảm giá.

Tỷ giá phản ánh đúng hơn với tín hiệu thị trường

Khi mức dự trữ ngoại hối thấp hơn, như hiện tại Việt Nam chỉ còn khoảng 2,5 tháng nhập khẩu, sẽ tạo ra áp lực lớn lên tỷ giá và tăng rủi ro đối với nền kinh tế. Điều này dẫn đến động thái Ngân hàng Nhà nước thả nổi một phần và không can thiệp thị trường qua việc bán ngoại tệ, để tỷ giá phản ánh đúng hơn với tín hiệu thị trường.

Dự báo biến động tỷ giá sẽ còn rất mạnh trong năm nay, một phần vì những yếu tố địa chính trị và các chính sách tài khóa, tiền tệ và ngoại thương của Mỹ đang thay đổi khó lường.

Trong bối cảnh đó, NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường thông qua việc tiếp tục kết hợp đồng bộ các công cụ. Một trong số đó là cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong biên độ 5%. NHNN cũng điều chỉnh thanh khoản hệ thống trong ngắn hạn thông qua nghiệp vụ trên thị trường mở, mua bán tín phiếu để điều hòa lượng tiền trong lưu thông hợp lý nhằm hạ nhiệt tỷ giá. Tuy nhiên, tất cả các công cụ này đều có hạn chế, nếu sử dụng quá mạnh tay thì "phóng lao phải theo lao" sẽ gây rủi ro, đi ngược lại thị trường.

PV: Những tháng đầu năm, tỷ giá biến động mạnh song nhà điều hành chưa bán ngoại tệ can thiệp để điều tiết thị trường. Ông đánh giá thế nào về những thách thức trong công tác điều hành và duy trì ổn định thị trường ngoại tệ trong năm nay, đặt trong bối cảnh quỹ dự trữ ngoại hối suy giảm do áp lực tỷ giá trong năm 2024?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Nếu NHNN bán nhiều ngoại tệ để điều chỉnh thị trường, quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia có thể bị thiếu hụt. Dự trữ ngoại hối được khuyến nghị giữ ở mức 3 tháng nhập khẩu nhằm đảm bảo theo thông lệ quốc tế, đủ sức chống đỡ các cú sốc ngắn hạn.

Chắc chắn rằng, việc điều hành tỷ giá năm nay sẽ đối mặt với nhiều thách thức lớn hơn. Chưa nhắc đến tác động từ thị trường bên ngoài nhưng hiện tại, nền kinh tế Việt Nam có thể bước vào giai đoạn tăng trưởng nóng và khiến tỷ giá biến động mạnh. Nền kinh tế Việt Nam nếu muốn tăng trưởng mạnh hơn sẽ phải mở rộng hơn nữa hoạt động ngoại thương trong bối cảnh hiện tại, toàn cầu đang rất nhiều xáo trộn.

Xuất nhập khẩu là một cột trụ của quốc gia, trong khi đó, năm nay Chính phủ đang thúc đẩy tăng trưởng GDP mạnh mẽ, từ đó, sẽ phải đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, điều này có thể cần thêm ngoại tệ và đẩy tỷ giá lên cao. Cùng với đó, Việt Nam là nền kinh tế mở, với giá trị xuất nhập khẩu gấp 1,5 - 2 lần GDP, điều này khiến nền kinh tế Việt Nam chịu mức độ rủi ro lớn do dựa vào kinh tế thế giới, đặc biệt khi chính sách của Mỹ thay đổi hoặc biến động nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc. Vì vậy, khi nền kinh tế toàn cầu biến động, tỷ giá cũng chịu ảnh hưởng.

PV: Tỷ giá không chỉ bị chi phối bởi yếu tố nội tại mỗi quốc gia mà ảnh hưởng mạnh mẽ bởi biến động toàn cầu và quốc tế. Ông nhận định thế nào về tác động của chính sách thuế quan của chính quyền Trump 2.0 và các quyết định của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) lên sức mạnh đồng USD, từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá USD/VND?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: FED nhận thấy tỷ lệ lạm phát khó giảm về mục tiêu 2% mà họ đặt ra khi hai tháng đầu năm 2025 lạm phát nhích lên chứ không giảm. Dù trước đây đã có kỳ vọng rằng chính quyền Trump sẽ giúp kiềm chế lạm phát, nhưng thực tế lại không như vậy.

Lạm phát vẫn đang có xu hướng tăng, phần lớn do các yếu tố như: giá xăng dầu, thiếu hụt trứng do dịch cúm gia cầm, giá xăng dầu, giá hàng hóa tiêu dùng tại Mỹ đều trong xu hướng tăng. Hiện đang ở Mỹ, tôi nhận thấy những chính sách của chính quyền Donald Trump có thể đưa nước Mỹ và thế giới vào một cuộc khủng hoảng sắp tới.

FED hiện vẫn rất cẩn trọng trong việc giảm lãi suất, vì nếu giảm lãi suất lúc này, sẽ giống như "đổ thêm dầu vào lửa", làm lạm phát tăng mạnh hơn. Do đó, FED đang chần chừ trong việc giảm lãi suất và vẫn phải cân nhắc rất kỹ về các quyết định của mình, không loại trừ khả năng có thể tăng lãi suất trở lại thời gian tới, tùy theo tình hình kinh tế.

Còn chính quyền Trump thực sự tạo ra rất nhiều xáo trộn, đặc biệt trong các vấn đề địa chính trị và thuế quan.

Hai tháng sau khi nhậm chức, ông Trump đã ra quyết định ăng thuế hàng hóa nhập khẩu từ Canada và Mexico với mức thuế 25% và với Trung Quốc thêm 10% có hiệu lực ngày 4/3/2025. Những biến cố chính trị trong những ngày vừa qua, cụ thể là từ cuộc gặp gỡ trở thành cuộc tranh cãi giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Ukraine Zelensky vào cuối tuần qua tại Nhà Trắng đã tạo ra hiệu ứng tiêu cực toàn cầu.

PV: Ông cho rằng những chính sách này sẽ tác động như thế nào đến tỷ giá USD/VND và nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Khi chỉ số DXY ở mức cao, đồng USD mạnh lên sẽ tạo sức ép lớn lên các đồng tiền khác, trong đó có VND. Nếu Mỹ duy trì mức lãi suất cao, điều này sẽ làm tăng giá trị đồng USD và tác động trực tiếp đến điều hành chính sách tỷ giá tại Việt Nam. Chính sách thuế quan của chính quyền Trump và các căng thẳng địa chính trị có thể khiến tình hình trở nên khó đoán, khiến tỷ giá USD/VND có thể tiếp tục tăng trong năm 2025.

Bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách của Mỹ, từ thuế quan đến lãi suất, đều có thể đẩy tỷ giá lên mức cao hơn, tạo áp lực cho nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam nằm trong top 10 nước xuất khẩu lớn vào Mỹ, không loại trừ khả năng Việt Nam cũng ảnh hưởng bởi chính sách này và tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của chúng ta.

Tất cả những chính sách này có thể tạo ra một hiệu ứng làm tăng giá cả tại Mỹ, tạo ra sự bất lợi cho nền kinh tế Mỹ. Cộng với việc FED vẫn giữ lãi suất cao, chỉ số DXY vẫn mạnh, đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên, làm gia tăng áp lực lên tỷ giá. Chính sách của Mỹ và FED có thể khiến đồng USD mạnh hơn, địa chính trị căng thẳng, cuộc chiến thuế quan… tất cả điều này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến tỷ giá, tạo ra một vòng xoáy khó lường đối với nền kinh tế Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông!

Chống đỡ biến động tỷ giá

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, để đối phó với biến động tỷ giá và các thách thức toàn cầu hiện nay, Việt Nam cần phải tiếp tục duy trì chính sách ngoại thương mở rộng, tăng cường xuất khẩu và thu hút ngoại tệ, khi cung ngoại tệ tăng sẽ hạ nhiệt tỷ giá; đồng thời, đa dạng hóa đồng tiền thanh toán, tránh phụ thuộc vào đồng USD. Chúng ta cũng cần phải vận động để có dòng kiều hối mạnh hơn, có lượng dự trữ ngoại hối rất lớn và từ đó sẽ giảm sức ép tỷ giá.

Bên cạnh đó, cần thận trọng trong việc quản lý quỹ dự trữ quốc gia và các công cụ điều chỉnh tỷ giá để không bị lâm vào tình trạng mất kiểm soát. "Trong bối cảnh toàn cầu đang rất xáo trộn, nếu Việt Nam không quản lý tốt việc điều hành tỷ giá và dự trữ ngoại hối, sẽ rất dễ bị tổn thương bởi những biến động từ bên ngoài" - ông Hiếu lưu ý.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

(TBTCO) - Sáng ngày 7/5, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm 40 đồng xuống quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Còn DXY nhích nhẹ lên 98,03 điểm sau khi rơi dưới mốc 98 điểm, nhờ kỳ vọng căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt, eo biển Hormuz có thể được mở cửa trở lại và áp lực trú ẩn vào USD suy yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

(TBTCO) - Sáng ngày 6/5, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm về 26.620 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,28 điểm khi Mỹ sẽ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu thương mại qua Hormuz để chờ tiến triển đàm phán với Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.112 đồng sau kỳ nghỉ lễ, tỷ giá USD tự do lùi 60 đồng. DXY đầu tuần quanh 98,17 điểm, trong bối cảnh USD chịu áp lực trước khả năng Nhật Bản can thiệp tỷ giá, tuần này, thị trường tập trung vào đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm Mỹ.
Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 2/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng do kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Còn DXY chốt tuần ở 98,23 điểm, tăng 0,17% sau nhịp giảm dưới 98 điểm, song vẫn thấp hơn 0,72% so với tuần trước. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu hạ nhiệt xung đột Mỹ - Iran và ước tính Nhật Bản dùng 34,5 tỷ USD hỗ trợ đồng yên, song triển vọng vẫn tích cực nhờ lập trường chính sách của Fed.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80