Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Từ đầu tháng 2/2025 đến nay, tỷ giá trung tâm tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng mạnh, với mức tăng 430 đồng và gần tương đương mức tăng 469 đồng cả năm 2024. Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá mua giao ngay tại Sở giao dịch cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn và tỷ giá bán giao ngay thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần. Trước những động thái mới trong điều hành tỷ giá hai tháng đầu năm và những biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá, phóng viên TBTCVN đã có buổi phỏng vấn ông Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản toàn cầu.
aa
Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá
Dự báo biến động tỷ giá sẽ còn mạnh trong năm nay. Ảnh tư liệu

PV: Trước sự biến động khó lường của tỷ giá USD/VND những tháng đầu năm, xin ông cho biết Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã sử dụng những công cụ gì để linh hoạt điều hành tỷ giá?

Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Hiện chỉ số DXY phản ánh giá trị của đồng USD với 6 đồng tiền chủ chốt khác hiện giảm về khoảng 106 - 107 điểm, sụt giảm so với giai đoạn cao điểm đầu năm từng lên 110 điểm, nhưng vẫn neo ở mức cao. Như vậy, giá trị của đồng USD tăng lên đồng nghĩa với VND giảm giá.

Tỷ giá phản ánh đúng hơn với tín hiệu thị trường

Khi mức dự trữ ngoại hối thấp hơn, như hiện tại Việt Nam chỉ còn khoảng 2,5 tháng nhập khẩu, sẽ tạo ra áp lực lớn lên tỷ giá và tăng rủi ro đối với nền kinh tế. Điều này dẫn đến động thái Ngân hàng Nhà nước thả nổi một phần và không can thiệp thị trường qua việc bán ngoại tệ, để tỷ giá phản ánh đúng hơn với tín hiệu thị trường.

Dự báo biến động tỷ giá sẽ còn rất mạnh trong năm nay, một phần vì những yếu tố địa chính trị và các chính sách tài khóa, tiền tệ và ngoại thương của Mỹ đang thay đổi khó lường.

Trong bối cảnh đó, NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường thông qua việc tiếp tục kết hợp đồng bộ các công cụ. Một trong số đó là cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong biên độ 5%. NHNN cũng điều chỉnh thanh khoản hệ thống trong ngắn hạn thông qua nghiệp vụ trên thị trường mở, mua bán tín phiếu để điều hòa lượng tiền trong lưu thông hợp lý nhằm hạ nhiệt tỷ giá. Tuy nhiên, tất cả các công cụ này đều có hạn chế, nếu sử dụng quá mạnh tay thì "phóng lao phải theo lao" sẽ gây rủi ro, đi ngược lại thị trường.

PV: Những tháng đầu năm, tỷ giá biến động mạnh song nhà điều hành chưa bán ngoại tệ can thiệp để điều tiết thị trường. Ông đánh giá thế nào về những thách thức trong công tác điều hành và duy trì ổn định thị trường ngoại tệ trong năm nay, đặt trong bối cảnh quỹ dự trữ ngoại hối suy giảm do áp lực tỷ giá trong năm 2024?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Nếu NHNN bán nhiều ngoại tệ để điều chỉnh thị trường, quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia có thể bị thiếu hụt. Dự trữ ngoại hối được khuyến nghị giữ ở mức 3 tháng nhập khẩu nhằm đảm bảo theo thông lệ quốc tế, đủ sức chống đỡ các cú sốc ngắn hạn.

Chắc chắn rằng, việc điều hành tỷ giá năm nay sẽ đối mặt với nhiều thách thức lớn hơn. Chưa nhắc đến tác động từ thị trường bên ngoài nhưng hiện tại, nền kinh tế Việt Nam có thể bước vào giai đoạn tăng trưởng nóng và khiến tỷ giá biến động mạnh. Nền kinh tế Việt Nam nếu muốn tăng trưởng mạnh hơn sẽ phải mở rộng hơn nữa hoạt động ngoại thương trong bối cảnh hiện tại, toàn cầu đang rất nhiều xáo trộn.

Xuất nhập khẩu là một cột trụ của quốc gia, trong khi đó, năm nay Chính phủ đang thúc đẩy tăng trưởng GDP mạnh mẽ, từ đó, sẽ phải đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, điều này có thể cần thêm ngoại tệ và đẩy tỷ giá lên cao. Cùng với đó, Việt Nam là nền kinh tế mở, với giá trị xuất nhập khẩu gấp 1,5 - 2 lần GDP, điều này khiến nền kinh tế Việt Nam chịu mức độ rủi ro lớn do dựa vào kinh tế thế giới, đặc biệt khi chính sách của Mỹ thay đổi hoặc biến động nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc. Vì vậy, khi nền kinh tế toàn cầu biến động, tỷ giá cũng chịu ảnh hưởng.

PV: Tỷ giá không chỉ bị chi phối bởi yếu tố nội tại mỗi quốc gia mà ảnh hưởng mạnh mẽ bởi biến động toàn cầu và quốc tế. Ông nhận định thế nào về tác động của chính sách thuế quan của chính quyền Trump 2.0 và các quyết định của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) lên sức mạnh đồng USD, từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá USD/VND?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: FED nhận thấy tỷ lệ lạm phát khó giảm về mục tiêu 2% mà họ đặt ra khi hai tháng đầu năm 2025 lạm phát nhích lên chứ không giảm. Dù trước đây đã có kỳ vọng rằng chính quyền Trump sẽ giúp kiềm chế lạm phát, nhưng thực tế lại không như vậy.

Lạm phát vẫn đang có xu hướng tăng, phần lớn do các yếu tố như: giá xăng dầu, thiếu hụt trứng do dịch cúm gia cầm, giá xăng dầu, giá hàng hóa tiêu dùng tại Mỹ đều trong xu hướng tăng. Hiện đang ở Mỹ, tôi nhận thấy những chính sách của chính quyền Donald Trump có thể đưa nước Mỹ và thế giới vào một cuộc khủng hoảng sắp tới.

FED hiện vẫn rất cẩn trọng trong việc giảm lãi suất, vì nếu giảm lãi suất lúc này, sẽ giống như "đổ thêm dầu vào lửa", làm lạm phát tăng mạnh hơn. Do đó, FED đang chần chừ trong việc giảm lãi suất và vẫn phải cân nhắc rất kỹ về các quyết định của mình, không loại trừ khả năng có thể tăng lãi suất trở lại thời gian tới, tùy theo tình hình kinh tế.

Còn chính quyền Trump thực sự tạo ra rất nhiều xáo trộn, đặc biệt trong các vấn đề địa chính trị và thuế quan.

Hai tháng sau khi nhậm chức, ông Trump đã ra quyết định ăng thuế hàng hóa nhập khẩu từ Canada và Mexico với mức thuế 25% và với Trung Quốc thêm 10% có hiệu lực ngày 4/3/2025. Những biến cố chính trị trong những ngày vừa qua, cụ thể là từ cuộc gặp gỡ trở thành cuộc tranh cãi giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Ukraine Zelensky vào cuối tuần qua tại Nhà Trắng đã tạo ra hiệu ứng tiêu cực toàn cầu.

PV: Ông cho rằng những chính sách này sẽ tác động như thế nào đến tỷ giá USD/VND và nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Khi chỉ số DXY ở mức cao, đồng USD mạnh lên sẽ tạo sức ép lớn lên các đồng tiền khác, trong đó có VND. Nếu Mỹ duy trì mức lãi suất cao, điều này sẽ làm tăng giá trị đồng USD và tác động trực tiếp đến điều hành chính sách tỷ giá tại Việt Nam. Chính sách thuế quan của chính quyền Trump và các căng thẳng địa chính trị có thể khiến tình hình trở nên khó đoán, khiến tỷ giá USD/VND có thể tiếp tục tăng trong năm 2025.

Bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách của Mỹ, từ thuế quan đến lãi suất, đều có thể đẩy tỷ giá lên mức cao hơn, tạo áp lực cho nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam nằm trong top 10 nước xuất khẩu lớn vào Mỹ, không loại trừ khả năng Việt Nam cũng ảnh hưởng bởi chính sách này và tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của chúng ta.

Tất cả những chính sách này có thể tạo ra một hiệu ứng làm tăng giá cả tại Mỹ, tạo ra sự bất lợi cho nền kinh tế Mỹ. Cộng với việc FED vẫn giữ lãi suất cao, chỉ số DXY vẫn mạnh, đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên, làm gia tăng áp lực lên tỷ giá. Chính sách của Mỹ và FED có thể khiến đồng USD mạnh hơn, địa chính trị căng thẳng, cuộc chiến thuế quan… tất cả điều này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến tỷ giá, tạo ra một vòng xoáy khó lường đối với nền kinh tế Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông!

Chống đỡ biến động tỷ giá

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, để đối phó với biến động tỷ giá và các thách thức toàn cầu hiện nay, Việt Nam cần phải tiếp tục duy trì chính sách ngoại thương mở rộng, tăng cường xuất khẩu và thu hút ngoại tệ, khi cung ngoại tệ tăng sẽ hạ nhiệt tỷ giá; đồng thời, đa dạng hóa đồng tiền thanh toán, tránh phụ thuộc vào đồng USD. Chúng ta cũng cần phải vận động để có dòng kiều hối mạnh hơn, có lượng dự trữ ngoại hối rất lớn và từ đó sẽ giảm sức ép tỷ giá.

Bên cạnh đó, cần thận trọng trong việc quản lý quỹ dự trữ quốc gia và các công cụ điều chỉnh tỷ giá để không bị lâm vào tình trạng mất kiểm soát. "Trong bối cảnh toàn cầu đang rất xáo trộn, nếu Việt Nam không quản lý tốt việc điều hành tỷ giá và dự trữ ngoại hối, sẽ rất dễ bị tổn thương bởi những biến động từ bên ngoài" - ông Hiếu lưu ý.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Tỷ giá USD hôm nay (17/10): USD tự do giảm sâu, DXY mất mốc 102 điểm trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/10): USD tự do giảm sâu, DXY mất mốc 102 điểm trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 17/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.637 đồng, tăng 8 đồng so với cuối tuần trước, đảo chiều sau hai tuần giảm liên tiếp. Ngược lại, USD tự do giảm mạnh lùi dưới 26.000 đồng, trong khi chỉ số DXY mất mốc 102 điểm. Lạm phát Mỹ gia tăng, trong khi Chủ tịch Fed chưa hé lộ lộ trình lãi suất trước cuộc họp ngày 27 - 28/10.
Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 12 - 16/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 8.188,63 tỷ đồng sau hai tuần hút mạnh trên 90.000 tỷ đồng, trong khi lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt ở các kỳ hạn ngắn. Thị trường ngoại hối diễn biến trái chiều khi USD thị trường tự do giảm 130 đồng, trong khi DXY mất mốc 102 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (16/10): USD trong nước đồng loạt giảm, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (16/10): USD trong nước đồng loạt giảm, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng 16/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.637 đồng, USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY nhích 0,05% lên 102,03 điểm sau phiên giảm trước đó. Dữ liệu CPI và PPI Mỹ cho thấy áp lực lạm phát gia tăng, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm tín hiệu về chính sách lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 14,200
Miếng SJC Nghệ An 13,900 14,200
Miếng SJC Thái Bình 13,900 14,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
Trang sức 99.9 13,430 14,030
Trang sức 99.99 13,440 14,040
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 14,202
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 14,203
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 142
Cập nhật: 24/10/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17596 17869 18448
CAD 17917 18192 18810
CHF 30722 31098 31744
CNY 0 3831 3927
EUR 28297 28514 29597
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3163 3366
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14375 14962
SGD 19677 19958 20530
THB 681 744 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 24/10/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30