Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Từ đầu tháng 2/2025 đến nay, tỷ giá trung tâm tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng mạnh, với mức tăng 430 đồng và gần tương đương mức tăng 469 đồng cả năm 2024. Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá mua giao ngay tại Sở giao dịch cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn và tỷ giá bán giao ngay thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần. Trước những động thái mới trong điều hành tỷ giá hai tháng đầu năm và những biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá, phóng viên TBTCVN đã có buổi phỏng vấn ông Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản toàn cầu.
aa
Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá
Dự báo biến động tỷ giá sẽ còn mạnh trong năm nay. Ảnh tư liệu

PV: Trước sự biến động khó lường của tỷ giá USD/VND những tháng đầu năm, xin ông cho biết Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã sử dụng những công cụ gì để linh hoạt điều hành tỷ giá?

Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Hiện chỉ số DXY phản ánh giá trị của đồng USD với 6 đồng tiền chủ chốt khác hiện giảm về khoảng 106 - 107 điểm, sụt giảm so với giai đoạn cao điểm đầu năm từng lên 110 điểm, nhưng vẫn neo ở mức cao. Như vậy, giá trị của đồng USD tăng lên đồng nghĩa với VND giảm giá.

Tỷ giá phản ánh đúng hơn với tín hiệu thị trường

Khi mức dự trữ ngoại hối thấp hơn, như hiện tại Việt Nam chỉ còn khoảng 2,5 tháng nhập khẩu, sẽ tạo ra áp lực lớn lên tỷ giá và tăng rủi ro đối với nền kinh tế. Điều này dẫn đến động thái Ngân hàng Nhà nước thả nổi một phần và không can thiệp thị trường qua việc bán ngoại tệ, để tỷ giá phản ánh đúng hơn với tín hiệu thị trường.

Dự báo biến động tỷ giá sẽ còn rất mạnh trong năm nay, một phần vì những yếu tố địa chính trị và các chính sách tài khóa, tiền tệ và ngoại thương của Mỹ đang thay đổi khó lường.

Trong bối cảnh đó, NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường thông qua việc tiếp tục kết hợp đồng bộ các công cụ. Một trong số đó là cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong biên độ 5%. NHNN cũng điều chỉnh thanh khoản hệ thống trong ngắn hạn thông qua nghiệp vụ trên thị trường mở, mua bán tín phiếu để điều hòa lượng tiền trong lưu thông hợp lý nhằm hạ nhiệt tỷ giá. Tuy nhiên, tất cả các công cụ này đều có hạn chế, nếu sử dụng quá mạnh tay thì "phóng lao phải theo lao" sẽ gây rủi ro, đi ngược lại thị trường.

PV: Những tháng đầu năm, tỷ giá biến động mạnh song nhà điều hành chưa bán ngoại tệ can thiệp để điều tiết thị trường. Ông đánh giá thế nào về những thách thức trong công tác điều hành và duy trì ổn định thị trường ngoại tệ trong năm nay, đặt trong bối cảnh quỹ dự trữ ngoại hối suy giảm do áp lực tỷ giá trong năm 2024?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Nếu NHNN bán nhiều ngoại tệ để điều chỉnh thị trường, quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia có thể bị thiếu hụt. Dự trữ ngoại hối được khuyến nghị giữ ở mức 3 tháng nhập khẩu nhằm đảm bảo theo thông lệ quốc tế, đủ sức chống đỡ các cú sốc ngắn hạn.

Chắc chắn rằng, việc điều hành tỷ giá năm nay sẽ đối mặt với nhiều thách thức lớn hơn. Chưa nhắc đến tác động từ thị trường bên ngoài nhưng hiện tại, nền kinh tế Việt Nam có thể bước vào giai đoạn tăng trưởng nóng và khiến tỷ giá biến động mạnh. Nền kinh tế Việt Nam nếu muốn tăng trưởng mạnh hơn sẽ phải mở rộng hơn nữa hoạt động ngoại thương trong bối cảnh hiện tại, toàn cầu đang rất nhiều xáo trộn.

Xuất nhập khẩu là một cột trụ của quốc gia, trong khi đó, năm nay Chính phủ đang thúc đẩy tăng trưởng GDP mạnh mẽ, từ đó, sẽ phải đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, điều này có thể cần thêm ngoại tệ và đẩy tỷ giá lên cao. Cùng với đó, Việt Nam là nền kinh tế mở, với giá trị xuất nhập khẩu gấp 1,5 - 2 lần GDP, điều này khiến nền kinh tế Việt Nam chịu mức độ rủi ro lớn do dựa vào kinh tế thế giới, đặc biệt khi chính sách của Mỹ thay đổi hoặc biến động nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc. Vì vậy, khi nền kinh tế toàn cầu biến động, tỷ giá cũng chịu ảnh hưởng.

PV: Tỷ giá không chỉ bị chi phối bởi yếu tố nội tại mỗi quốc gia mà ảnh hưởng mạnh mẽ bởi biến động toàn cầu và quốc tế. Ông nhận định thế nào về tác động của chính sách thuế quan của chính quyền Trump 2.0 và các quyết định của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) lên sức mạnh đồng USD, từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá USD/VND?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: FED nhận thấy tỷ lệ lạm phát khó giảm về mục tiêu 2% mà họ đặt ra khi hai tháng đầu năm 2025 lạm phát nhích lên chứ không giảm. Dù trước đây đã có kỳ vọng rằng chính quyền Trump sẽ giúp kiềm chế lạm phát, nhưng thực tế lại không như vậy.

Lạm phát vẫn đang có xu hướng tăng, phần lớn do các yếu tố như: giá xăng dầu, thiếu hụt trứng do dịch cúm gia cầm, giá xăng dầu, giá hàng hóa tiêu dùng tại Mỹ đều trong xu hướng tăng. Hiện đang ở Mỹ, tôi nhận thấy những chính sách của chính quyền Donald Trump có thể đưa nước Mỹ và thế giới vào một cuộc khủng hoảng sắp tới.

FED hiện vẫn rất cẩn trọng trong việc giảm lãi suất, vì nếu giảm lãi suất lúc này, sẽ giống như "đổ thêm dầu vào lửa", làm lạm phát tăng mạnh hơn. Do đó, FED đang chần chừ trong việc giảm lãi suất và vẫn phải cân nhắc rất kỹ về các quyết định của mình, không loại trừ khả năng có thể tăng lãi suất trở lại thời gian tới, tùy theo tình hình kinh tế.

Còn chính quyền Trump thực sự tạo ra rất nhiều xáo trộn, đặc biệt trong các vấn đề địa chính trị và thuế quan.

Hai tháng sau khi nhậm chức, ông Trump đã ra quyết định ăng thuế hàng hóa nhập khẩu từ Canada và Mexico với mức thuế 25% và với Trung Quốc thêm 10% có hiệu lực ngày 4/3/2025. Những biến cố chính trị trong những ngày vừa qua, cụ thể là từ cuộc gặp gỡ trở thành cuộc tranh cãi giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Ukraine Zelensky vào cuối tuần qua tại Nhà Trắng đã tạo ra hiệu ứng tiêu cực toàn cầu.

PV: Ông cho rằng những chính sách này sẽ tác động như thế nào đến tỷ giá USD/VND và nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Khi chỉ số DXY ở mức cao, đồng USD mạnh lên sẽ tạo sức ép lớn lên các đồng tiền khác, trong đó có VND. Nếu Mỹ duy trì mức lãi suất cao, điều này sẽ làm tăng giá trị đồng USD và tác động trực tiếp đến điều hành chính sách tỷ giá tại Việt Nam. Chính sách thuế quan của chính quyền Trump và các căng thẳng địa chính trị có thể khiến tình hình trở nên khó đoán, khiến tỷ giá USD/VND có thể tiếp tục tăng trong năm 2025.

Bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách của Mỹ, từ thuế quan đến lãi suất, đều có thể đẩy tỷ giá lên mức cao hơn, tạo áp lực cho nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam nằm trong top 10 nước xuất khẩu lớn vào Mỹ, không loại trừ khả năng Việt Nam cũng ảnh hưởng bởi chính sách này và tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của chúng ta.

Tất cả những chính sách này có thể tạo ra một hiệu ứng làm tăng giá cả tại Mỹ, tạo ra sự bất lợi cho nền kinh tế Mỹ. Cộng với việc FED vẫn giữ lãi suất cao, chỉ số DXY vẫn mạnh, đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên, làm gia tăng áp lực lên tỷ giá. Chính sách của Mỹ và FED có thể khiến đồng USD mạnh hơn, địa chính trị căng thẳng, cuộc chiến thuế quan… tất cả điều này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến tỷ giá, tạo ra một vòng xoáy khó lường đối với nền kinh tế Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông!

Chống đỡ biến động tỷ giá

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, để đối phó với biến động tỷ giá và các thách thức toàn cầu hiện nay, Việt Nam cần phải tiếp tục duy trì chính sách ngoại thương mở rộng, tăng cường xuất khẩu và thu hút ngoại tệ, khi cung ngoại tệ tăng sẽ hạ nhiệt tỷ giá; đồng thời, đa dạng hóa đồng tiền thanh toán, tránh phụ thuộc vào đồng USD. Chúng ta cũng cần phải vận động để có dòng kiều hối mạnh hơn, có lượng dự trữ ngoại hối rất lớn và từ đó sẽ giảm sức ép tỷ giá.

Bên cạnh đó, cần thận trọng trong việc quản lý quỹ dự trữ quốc gia và các công cụ điều chỉnh tỷ giá để không bị lâm vào tình trạng mất kiểm soát. "Trong bối cảnh toàn cầu đang rất xáo trộn, nếu Việt Nam không quản lý tốt việc điều hành tỷ giá và dự trữ ngoại hối, sẽ rất dễ bị tổn thương bởi những biến động từ bên ngoài" - ông Hiếu lưu ý.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 22/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.183 đồng, tăng 2 đồng. Tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.750 - 26.780 VND/USD, tăng mạnh 170 - 180 đồng hai chiều. Chỉ số DXY tăng lên 100,77 điểm, thị trường dõi theo nguy cơ đổ vỡ tiến trình hòa giải Mỹ - Iran, trong khi Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài.
Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Tỷ giá USD hôm nay (16/6): Tỷ giá trung tâm đứng yên, DXY suy yếu trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (16/6): Tỷ giá trung tâm đứng yên, DXY suy yếu trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 16/6, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.165 đồng; trong khi tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.300 - 26.320 VND/USD, thấp hơn tỷ giá ngân hàng. Chỉ số DXY ở mức 99,63 điểm khi đồng USD suy yếu, giữa lúc thị trường chờ cuộc họp của Fed và đón nhận thông tin Mỹ - Iran hướng tới chấm dứt xung đột.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17639 17912 18484
CAD 17963 18238 18853
CHF 31808 32189 32831
CNY 0 3830 3923
EUR 29298 29518 30596
GBP 33923 34313 35244
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14559 15146
SGD 19761 20043 20615
THB 705 768 821
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80