Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Từ đầu tháng 2/2025 đến nay, tỷ giá trung tâm tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng mạnh, với mức tăng 430 đồng và gần tương đương mức tăng 469 đồng cả năm 2024. Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá mua giao ngay tại Sở giao dịch cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn và tỷ giá bán giao ngay thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần. Trước những động thái mới trong điều hành tỷ giá hai tháng đầu năm và những biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá, phóng viên TBTCVN đã có buổi phỏng vấn ông Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản toàn cầu.
aa
Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá
Dự báo biến động tỷ giá sẽ còn mạnh trong năm nay. Ảnh tư liệu

PV: Trước sự biến động khó lường của tỷ giá USD/VND những tháng đầu năm, xin ông cho biết Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã sử dụng những công cụ gì để linh hoạt điều hành tỷ giá?

Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Hiện chỉ số DXY phản ánh giá trị của đồng USD với 6 đồng tiền chủ chốt khác hiện giảm về khoảng 106 - 107 điểm, sụt giảm so với giai đoạn cao điểm đầu năm từng lên 110 điểm, nhưng vẫn neo ở mức cao. Như vậy, giá trị của đồng USD tăng lên đồng nghĩa với VND giảm giá.

Tỷ giá phản ánh đúng hơn với tín hiệu thị trường

Khi mức dự trữ ngoại hối thấp hơn, như hiện tại Việt Nam chỉ còn khoảng 2,5 tháng nhập khẩu, sẽ tạo ra áp lực lớn lên tỷ giá và tăng rủi ro đối với nền kinh tế. Điều này dẫn đến động thái Ngân hàng Nhà nước thả nổi một phần và không can thiệp thị trường qua việc bán ngoại tệ, để tỷ giá phản ánh đúng hơn với tín hiệu thị trường.

Dự báo biến động tỷ giá sẽ còn rất mạnh trong năm nay, một phần vì những yếu tố địa chính trị và các chính sách tài khóa, tiền tệ và ngoại thương của Mỹ đang thay đổi khó lường.

Trong bối cảnh đó, NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường thông qua việc tiếp tục kết hợp đồng bộ các công cụ. Một trong số đó là cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong biên độ 5%. NHNN cũng điều chỉnh thanh khoản hệ thống trong ngắn hạn thông qua nghiệp vụ trên thị trường mở, mua bán tín phiếu để điều hòa lượng tiền trong lưu thông hợp lý nhằm hạ nhiệt tỷ giá. Tuy nhiên, tất cả các công cụ này đều có hạn chế, nếu sử dụng quá mạnh tay thì "phóng lao phải theo lao" sẽ gây rủi ro, đi ngược lại thị trường.

PV: Những tháng đầu năm, tỷ giá biến động mạnh song nhà điều hành chưa bán ngoại tệ can thiệp để điều tiết thị trường. Ông đánh giá thế nào về những thách thức trong công tác điều hành và duy trì ổn định thị trường ngoại tệ trong năm nay, đặt trong bối cảnh quỹ dự trữ ngoại hối suy giảm do áp lực tỷ giá trong năm 2024?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Nếu NHNN bán nhiều ngoại tệ để điều chỉnh thị trường, quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia có thể bị thiếu hụt. Dự trữ ngoại hối được khuyến nghị giữ ở mức 3 tháng nhập khẩu nhằm đảm bảo theo thông lệ quốc tế, đủ sức chống đỡ các cú sốc ngắn hạn.

Chắc chắn rằng, việc điều hành tỷ giá năm nay sẽ đối mặt với nhiều thách thức lớn hơn. Chưa nhắc đến tác động từ thị trường bên ngoài nhưng hiện tại, nền kinh tế Việt Nam có thể bước vào giai đoạn tăng trưởng nóng và khiến tỷ giá biến động mạnh. Nền kinh tế Việt Nam nếu muốn tăng trưởng mạnh hơn sẽ phải mở rộng hơn nữa hoạt động ngoại thương trong bối cảnh hiện tại, toàn cầu đang rất nhiều xáo trộn.

Xuất nhập khẩu là một cột trụ của quốc gia, trong khi đó, năm nay Chính phủ đang thúc đẩy tăng trưởng GDP mạnh mẽ, từ đó, sẽ phải đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, điều này có thể cần thêm ngoại tệ và đẩy tỷ giá lên cao. Cùng với đó, Việt Nam là nền kinh tế mở, với giá trị xuất nhập khẩu gấp 1,5 - 2 lần GDP, điều này khiến nền kinh tế Việt Nam chịu mức độ rủi ro lớn do dựa vào kinh tế thế giới, đặc biệt khi chính sách của Mỹ thay đổi hoặc biến động nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc. Vì vậy, khi nền kinh tế toàn cầu biến động, tỷ giá cũng chịu ảnh hưởng.

PV: Tỷ giá không chỉ bị chi phối bởi yếu tố nội tại mỗi quốc gia mà ảnh hưởng mạnh mẽ bởi biến động toàn cầu và quốc tế. Ông nhận định thế nào về tác động của chính sách thuế quan của chính quyền Trump 2.0 và các quyết định của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) lên sức mạnh đồng USD, từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá USD/VND?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: FED nhận thấy tỷ lệ lạm phát khó giảm về mục tiêu 2% mà họ đặt ra khi hai tháng đầu năm 2025 lạm phát nhích lên chứ không giảm. Dù trước đây đã có kỳ vọng rằng chính quyền Trump sẽ giúp kiềm chế lạm phát, nhưng thực tế lại không như vậy.

Lạm phát vẫn đang có xu hướng tăng, phần lớn do các yếu tố như: giá xăng dầu, thiếu hụt trứng do dịch cúm gia cầm, giá xăng dầu, giá hàng hóa tiêu dùng tại Mỹ đều trong xu hướng tăng. Hiện đang ở Mỹ, tôi nhận thấy những chính sách của chính quyền Donald Trump có thể đưa nước Mỹ và thế giới vào một cuộc khủng hoảng sắp tới.

FED hiện vẫn rất cẩn trọng trong việc giảm lãi suất, vì nếu giảm lãi suất lúc này, sẽ giống như "đổ thêm dầu vào lửa", làm lạm phát tăng mạnh hơn. Do đó, FED đang chần chừ trong việc giảm lãi suất và vẫn phải cân nhắc rất kỹ về các quyết định của mình, không loại trừ khả năng có thể tăng lãi suất trở lại thời gian tới, tùy theo tình hình kinh tế.

Còn chính quyền Trump thực sự tạo ra rất nhiều xáo trộn, đặc biệt trong các vấn đề địa chính trị và thuế quan.

Hai tháng sau khi nhậm chức, ông Trump đã ra quyết định ăng thuế hàng hóa nhập khẩu từ Canada và Mexico với mức thuế 25% và với Trung Quốc thêm 10% có hiệu lực ngày 4/3/2025. Những biến cố chính trị trong những ngày vừa qua, cụ thể là từ cuộc gặp gỡ trở thành cuộc tranh cãi giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Ukraine Zelensky vào cuối tuần qua tại Nhà Trắng đã tạo ra hiệu ứng tiêu cực toàn cầu.

PV: Ông cho rằng những chính sách này sẽ tác động như thế nào đến tỷ giá USD/VND và nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Khi chỉ số DXY ở mức cao, đồng USD mạnh lên sẽ tạo sức ép lớn lên các đồng tiền khác, trong đó có VND. Nếu Mỹ duy trì mức lãi suất cao, điều này sẽ làm tăng giá trị đồng USD và tác động trực tiếp đến điều hành chính sách tỷ giá tại Việt Nam. Chính sách thuế quan của chính quyền Trump và các căng thẳng địa chính trị có thể khiến tình hình trở nên khó đoán, khiến tỷ giá USD/VND có thể tiếp tục tăng trong năm 2025.

Bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách của Mỹ, từ thuế quan đến lãi suất, đều có thể đẩy tỷ giá lên mức cao hơn, tạo áp lực cho nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam nằm trong top 10 nước xuất khẩu lớn vào Mỹ, không loại trừ khả năng Việt Nam cũng ảnh hưởng bởi chính sách này và tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của chúng ta.

Tất cả những chính sách này có thể tạo ra một hiệu ứng làm tăng giá cả tại Mỹ, tạo ra sự bất lợi cho nền kinh tế Mỹ. Cộng với việc FED vẫn giữ lãi suất cao, chỉ số DXY vẫn mạnh, đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên, làm gia tăng áp lực lên tỷ giá. Chính sách của Mỹ và FED có thể khiến đồng USD mạnh hơn, địa chính trị căng thẳng, cuộc chiến thuế quan… tất cả điều này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến tỷ giá, tạo ra một vòng xoáy khó lường đối với nền kinh tế Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông!

Chống đỡ biến động tỷ giá

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, để đối phó với biến động tỷ giá và các thách thức toàn cầu hiện nay, Việt Nam cần phải tiếp tục duy trì chính sách ngoại thương mở rộng, tăng cường xuất khẩu và thu hút ngoại tệ, khi cung ngoại tệ tăng sẽ hạ nhiệt tỷ giá; đồng thời, đa dạng hóa đồng tiền thanh toán, tránh phụ thuộc vào đồng USD. Chúng ta cũng cần phải vận động để có dòng kiều hối mạnh hơn, có lượng dự trữ ngoại hối rất lớn và từ đó sẽ giảm sức ép tỷ giá.

Bên cạnh đó, cần thận trọng trong việc quản lý quỹ dự trữ quốc gia và các công cụ điều chỉnh tỷ giá để không bị lâm vào tình trạng mất kiểm soát. "Trong bối cảnh toàn cầu đang rất xáo trộn, nếu Việt Nam không quản lý tốt việc điều hành tỷ giá và dự trữ ngoại hối, sẽ rất dễ bị tổn thương bởi những biến động từ bên ngoài" - ông Hiếu lưu ý.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/8, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng thêm 25 đồng, lên 25.405 đồng/USD, tiếp tục lập mức cao mới, trong khi giá bán USD tại các ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần trên 200 đồng. Chỉ số DXY nhích 0,03% lên 99,88 điểm khi nhà đầu tư theo dõi triển vọng đàm phán Mỹ - Iran và chờ báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào thứ Sáu.
Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

(TBTCO) - Sáng 4/8, tỷ giá trung tâm tăng mạnh thêm 22 đồng lên 25.380, trong khi tỷ giá USD thị trường tự do giảm mạnh, giá bán USD các ngân hàng thấp xa tỷ giá trần khoảng 180 đồng. Chỉ số DXY hồi nhẹ lên 99,97 điểm, đồng yên mạnh lên khi Nhật Bản được cho là chi thêm 34 tỷ USD can thiệp thị trường ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 3/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.358 đồng, tăng 20 đồng so với phiên trước. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,24% xuống 99,66 điểm, khi đồng USD lùi về mức thấp nhất trong 6 tuần. Thị trường đang hướng sự chú ý tới báo cáo việc làm phi nông nghiệp (NFP) tháng 7.
Tỷ giá USD hôm nay (1/8): Tỷ giá trung tâm tăng dù DXY suy yếu, Nhật Bản được ước tính đã dùng 53 tỷ USD hỗ trợ đồng yên

Tỷ giá USD hôm nay (1/8): Tỷ giá trung tâm tăng dù DXY suy yếu, Nhật Bản được ước tính đã dùng 53 tỷ USD hỗ trợ đồng yên

(TBTCO) - Sáng 1/8, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.338 đồng/USD, lập đỉnh lịch sử và đánh dấu tuần tăng thứ 12 liên tiếp; trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do đồng loạt giảm. Tuần qua, cả 3 ngân hàng trung ương cùng giữ nguyên lãi suất, trong khi Nhật Bản được ước tính đã can thiệp khoảng 53 tỷ USD để hỗ trợ đồng yên.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

(TBTCO) - Sáng 31/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 18 đồng lên 25.338 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm và thị trường tự do lùi về 26.250 - 26.280 VND/USD. Diễn biến trái chiều xuất hiện khi Fed giữ nguyên lãi suất, chỉ số DXY có thời điểm mất mốc 100 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc họp của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và khả năng can thiệp tỷ giá.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,900
Hà Nội - PNJ 140,000 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,900
Miền Tây - PNJ 140,000 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,400
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 09/08/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18254 18833
CAD 18254 18530 19155
CHF 31764 32145 32806
CNY 0 3840 3940
EUR 29646 29868 30949
GBP 34531 34923 35875
HKD 0 3208 3411
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15128 15714
SGD 19945 20227 20812
THB 707 771 825
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 09/08/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80