Dự báo áp lực thanh khoản cuối năm khi huy động "hụt hơi" so với tín dụng

Ánh Tuyết
Theo VDSC, đến hết quý III/2025, tín dụng của các ngân hàng niêm yết tăng 14,5% so với đầu năm và cao nhất trong 5 năm giúp thu nhập lãi thuần tăng và lợi nhuận nhóm này tăng 25%. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng vượt huy động (11,4%), khiến khoảng cách hai chỉ tiêu lên âm 3,1%, dự báo sẽ tạo áp lực tăng lãi suất huy động những tháng cuối năm.
aa
Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Ngân hàng vẫn dẫn dắt dòng vốn, quy mô dư nợ tín dụng dự kiến gấp 2 lần sau 5 năm

Trong báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh quý III/2025 ngành ngân hàng mới công bố, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết, lợi nhuận trước thuế 27 ngân hàng niêm yết tăng trưởng 25% so với cùng kỳ năm trước ở nhiều cấu phần thu nhập, đạt 87 nghìn tỷ đồng, song giảm 2% so với quý II/2025.

Tín dụng và thu ngoài lãi cùng khởi sắc, lợi nhuận hoàn thành 74%

Trong đó, thu nhập lãi thuần tăng 13% so với cùng kỳ tiếp tục là động lực tăng trưởng chính cho tổng thu nhập hoạt động (tăng 16% so với cùng kỳ). Các nguồn thu nhập khác cũng ghi nhận mức tăng tích cực trở lại gồm: thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng 20%, thu nhập kinh doanh ngoại hối tăng 18%, thu nhập từ mua bán trái phiếu tăng gấp 14 lần và thu nhập khác tăng 20%.

Tuy nhiên, tăng trưởng thu nhập khác đã chậm lại do hoạt động thu hồi nợ xấu ngoại bảng (đã xử lý rủi ro) chỉ tăng 8% so với cùng kỳ, do nền cao của năm trước, đạt hơn 11 nghìn tỷ đồng.

Các cấu phần chi phí gồm chi phí hoạt động và chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đều ghi nhận mức tăng một chữ số (tăng 9% so với cùng kỳ), thấp hơn tốc độ tăng của tổng thu nhập hoạt động, qua đó, củng cố tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của quý III/2025.

Theo VDSC, lũy kế 9 tháng 2025, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng này đạt gần 260 nghìn tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2024.

Trong đó, thu nhập lãi thuần - cấu phần quan trọng nhất trong cơ cấu thu nhập tăng 9% so với cùng kỳ nhờ quy mô tín dụng 9 tháng đầu năm 2025 của các ngân hàng niêm yết đạt 13,8 triệu tỷ đồng, chiếm 78% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế.

Với các diễn biến trên, ngành ngân hàng đang bám sát kế hoạch lợi nhuận cả năm với tỷ lệ hoàn thành đạt 74%.

Dự báo áp lực thanh khoản cuối năm khi huy động

Tuy nhiên, tín dụng tăng trưởng khả quan, nới rộng khoảng cách với huy động và có thể tạo áp lực lên chi phí vốn trong quý cuối năm.

"Tính đến hết quý III/2025, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng niêm yết đạt 14,5% so với đầu năm, là mức cao nhất trong 5 năm gần đây. Mặc dù mức tăng có chậm lại do yếu tố mùa vụ, nhưng vẫn tích cực so với cùng kỳ nhờ chính sách hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của Chính phủ" - VDSC nhìn nhận.

Tính đến ngày 15/10/2025, tăng trưởng tín dụng đạt 13,8% so với đầu năm. Sự phân hóa về tốc độ tăng trưởng tín dụng giữa các ngân hàng không còn quá sâu sắc như quý trước khi nhiều ngân hàng đã gần chạm hạn mức được cấp từ đầu năm và dần ưu tiên tối ưu hóa biên lợi nhuận thay vì mở rộng quy mô.

Trong đó, VPBank (ngân hàng mẹ) là ngân hàng thương mại cổ phần duy nhất có mức tăng trưởng đột biến 29,1% so với đầu năm, trong khi VietinBank là ngân hàng quốc doanh duy nhất tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực với mức 15,6%.

Nhờ vậy, thị phần tín dụng đã trở nên cân bằng hơn giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn trong quý III/2025.

Xét theo kỳ hạn, tín dụng trung và dài hạn tăng nhanh hơn ngắn hạn, phản ánh sự phục hồi thực chất hơn của nhu cầu đầu tư và sản xuất, đồng thời cho thấy các ngân hàng đang cơ cấu lại danh mục cho vay sang kỳ hạn dài để cải thiện lợi suất tài sản trong trung hạn.

Dư địa cải thiện NIM hạn chế do lãi suất đầu vào tăng nhanh hơn

Về huy động, theo nhóm phân tích VDSC, tăng trưởng huy động vốn của các ngân hàng niêm yết tính đến hết quý III/2025 đạt 11,4%.

Tiền gửi giảm tốc quý III, khoảng cách với tăng trưởng tín dụng âm 3,1%

Theo VDSC, khoảng cách giữa tăng trưởng huy động và tăng trưởng tín dụng đã nới rộng lên mức âm 3,1 điểm phần trăm, sau khi gần cân bằng trong quý trước (chênh lệch chỉ 0,1 điểm phần trăm). Trong đó, tiền gửi khách hàng tăng 10,2% so với đầu năm (so với 8,3% trong quý II/2025), nhưng có dấu hiệu giảm tốc, còn tăng trưởng phát hành giấy tờ có giá giảm xuống 21,7% so với đầu năm (so với 25% trong quý II/2025) do lượng phát hành mới thấp hơn lượng đáo hạn.

Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) toàn thị trường giảm nhẹ 0,3 điểm phần trăm so với quý trước, xuống 21,9%.

VDSC cho rằng, điều này do một phần do tâm lý lo ngại của các hộ kinh doanh về việc bị kiểm soát theo Nghị định 70/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/6/2025.

Dòng tiền chảy ra khỏi hệ thống ngân hàng do nhu cầu đầu tư vào các loại tài sản chính thức như USD, tiền kỹ thuật số và vàng tăng mạnh có thể là nguyên nhân chính khiến huy động tiền gửi khách hàng chậm lại.

Để đảm bảo thanh khoản trong bối cảnh không phát hành nhiều giấy tờ có giá và huy động tiền gửi tăng chậm, các ngân hàng thương mại tăng cường đáng kể hoạt động trên thị trường liên ngân hàng (480 nghìn tỷ đồng) và tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động.

Bên cạnh đó là sự hỗ trợ thanh khoản từ việc Kho bạc Nhà nước tăng quy mô tiền gửi có kỳ hạn hơn 100 nghìn tỷ đồng tại các ngân hàng quốc doanh.

Dự báo áp lực thanh khoản cuối năm khi huy động

Trong quý III/2025, các nhóm ngân hàng quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần lớn và ngân hàng thương mại quy mô vừa tăng lãi suất huy động bình quân lần lượt 5 điểm cơ bản, 20 điểm cơ bản và 25 điểm cơ bản so với quý trước.

Bình quân lãi suất huy động tiền gửi khách hàng đã tăng 15 điểm cơ bản so với quý II và tăng 40 điểm cơ bản kể từ đầu năm, phù hợp với kỳ vọng tăng 50 - 60 điểm cơ bản trong cả năm 2025.

Cũng theo nhóm phân tích, biên lãi ròng (NIM) giảm 35 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống 3,15%, đây là mức thấp nhất kể từ năm 2018.

NIM quý III/2025 giảm nhẹ 10 điểm cơ bản so với quý trước và thấp hơn cùng kỳ 30 điểm cơ bản. Nguyên nhân là do lợi suất tài sản sinh lãi giảm 5 điểm cơ bản so với quý trước, còn 6,5%, dù lợi suất cho vay - cấu phần lớn nhất của lợi suất tài sản, lại gần như đi ngang.

Diễn biến này chịu ảnh hưởng bởi việc nợ quá hạn hình thành ròng (chủ yếu là nợ nhóm 2) tăng trở lại trong quý III/2025, trái ngược với quý II khi thu nhập lãi được hỗ trợ nhờ thu lãi ngoại bảng trong bối cảnh tổng nợ quá hạn giảm mạnh. Đồng thời, chi phí vốn tăng 5 điểm cơ bản lên 3,9%, chủ yếu do xu hướng tăng lãi suất huy động.

"Trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng dư địa cải thiện NIM được đánh giá là hạn chế do chi phí vốn tăng nhanh hơn lãi suất đầu ra" - chuyên gia VDSC đánh giá.

Áp lực huy động vốn tiếp tục tăng khi nhu cầu giải ngân tín dụng cuối năm thường cao và chênh lệch giữa tín dụng và huy động đang ở mức lớn. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản có thể giảm phần nào khi dòng vốn chi ngân sách, đặc biệt là giải ngân đầu tư công, tăng mạnh trong những tháng cuối năm.

Về lợi suất tài sản, mặc dù các khoản vay trung và dài hạn được ưu tiên giải ngân trong hai quý gần nhất, lợi suất cho vay khó có thể tăng ngay do phần lớn khoản vay trung và dài hạn cho khách hàng cá nhân thường được hưởng lãi suất ưu đãi trong 6 tháng đến 3 năm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị, chuẩn bị bước vào năm học mới, phụ huynh, học sinh, sinh viên chủ động kiểm tra giá trị sử dụng thẻ bảo hiểm y tế sau khi hoàn tất tham gia, nhằm kịp thời phát hiện và phản ánh nếu thông tin chưa được cập nhật hoặc chưa chính xác.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

(TBTCO) - Trong năm 2026, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân tai nạn giao thông. Tại Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa và một số địa phương, các khoản hỗ trợ được trao kịp thời, đúng đối tượng, góp phần chia sẻ khó khăn, giảm bớt gánh nặng cho gia đình người bị nạn. Qua đó, vai trò của Quỹ tiếp tục được phát huy không chỉ trong công tác hỗ trợ nhân đạo mà còn trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn giao thông và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.335,4 USD/ounce, kéo chênh lệch với vàng miếng trong nước lên khoảng 6,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng nhẹ, giá vàng miếng giao dịch quanh 144,3 triệu đồng/lượng.
VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

(TBTCO) - Với không gian trải nghiệm hiện đại và nhiều hoạt động tương tác hấp dẫn, gian hàng VPBank tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 18/8 tại Hà Nội) đã trở thành điểm dừng chân nổi bật tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng 2026. Chuỗi hoạt động giới thiệu sản phẩm, tư vấn giải pháp tài chính và trải nghiệm công nghệ thanh toán mới đã mang đến những góc nhìn trực quan về hành trình chuyển đổi số đang được VPBank đẩy mạnh.
BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

(TBTCO) - Mang tới giải pháp chi tiêu an toàn và thuận lợi, BAC A BANK dành tặng thêm chương trình ưu đãi “Mở thẻ mới - Quà tới tay” cho khách hàng mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK Mastercard.
NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

(TBTCO) - NCB dự kiến phát hành riêng lẻ 3,3 tỷ cổ phiếu, huy động 33.000 tỷ đồng. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng lên gần 62.280 tỷ đồng, gấp 3,2 lần đầu năm 2026, đánh dấu 5 lần tăng vốn trong 6 năm và đưa NCB vào top 10 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất thị trường.
Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

(TBTCO) - Phát biểu tại sự kiện “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026”, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, chuyển đổi số càng sâu, những vấn đề mới càng xuất hiện nhanh. Theo đó, toàn ngành cần tập trung 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đổi mới mạnh mẽ, nhưng có trọng tâm, có kiểm soát và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 142,600
Hà Nội - PNJ 139,100 142,600
Đà Nẵng - PNJ 139,100 142,600
Miền Tây - PNJ 139,100 142,600
Tây Nguyên - PNJ 139,100 142,600
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 142,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 14,320
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,630 14,230
Trang sức 99.99 13,640 14,240
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 1,407
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 139,307
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 105,686
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 95,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 85,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 82,186
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 58,828
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 20/08/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 20/08/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80