Dự báo áp lực thanh khoản cuối năm khi huy động "hụt hơi" so với tín dụng

Ánh Tuyết
Theo VDSC, đến hết quý III/2025, tín dụng của các ngân hàng niêm yết tăng 14,5% so với đầu năm và cao nhất trong 5 năm giúp thu nhập lãi thuần tăng và lợi nhuận nhóm này tăng 25%. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng vượt huy động (11,4%), khiến khoảng cách hai chỉ tiêu lên âm 3,1%, dự báo sẽ tạo áp lực tăng lãi suất huy động những tháng cuối năm.
aa
Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Ngân hàng vẫn dẫn dắt dòng vốn, quy mô dư nợ tín dụng dự kiến gấp 2 lần sau 5 năm

Trong báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh quý III/2025 ngành ngân hàng mới công bố, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết, lợi nhuận trước thuế 27 ngân hàng niêm yết tăng trưởng 25% so với cùng kỳ năm trước ở nhiều cấu phần thu nhập, đạt 87 nghìn tỷ đồng, song giảm 2% so với quý II/2025.

Tín dụng và thu ngoài lãi cùng khởi sắc, lợi nhuận hoàn thành 74%

Trong đó, thu nhập lãi thuần tăng 13% so với cùng kỳ tiếp tục là động lực tăng trưởng chính cho tổng thu nhập hoạt động (tăng 16% so với cùng kỳ). Các nguồn thu nhập khác cũng ghi nhận mức tăng tích cực trở lại gồm: thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng 20%, thu nhập kinh doanh ngoại hối tăng 18%, thu nhập từ mua bán trái phiếu tăng gấp 14 lần và thu nhập khác tăng 20%.

Tuy nhiên, tăng trưởng thu nhập khác đã chậm lại do hoạt động thu hồi nợ xấu ngoại bảng (đã xử lý rủi ro) chỉ tăng 8% so với cùng kỳ, do nền cao của năm trước, đạt hơn 11 nghìn tỷ đồng.

Các cấu phần chi phí gồm chi phí hoạt động và chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đều ghi nhận mức tăng một chữ số (tăng 9% so với cùng kỳ), thấp hơn tốc độ tăng của tổng thu nhập hoạt động, qua đó, củng cố tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của quý III/2025.

Theo VDSC, lũy kế 9 tháng 2025, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng này đạt gần 260 nghìn tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2024.

Trong đó, thu nhập lãi thuần - cấu phần quan trọng nhất trong cơ cấu thu nhập tăng 9% so với cùng kỳ nhờ quy mô tín dụng 9 tháng đầu năm 2025 của các ngân hàng niêm yết đạt 13,8 triệu tỷ đồng, chiếm 78% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế.

Với các diễn biến trên, ngành ngân hàng đang bám sát kế hoạch lợi nhuận cả năm với tỷ lệ hoàn thành đạt 74%.

Dự báo áp lực thanh khoản cuối năm khi huy động

Tuy nhiên, tín dụng tăng trưởng khả quan, nới rộng khoảng cách với huy động và có thể tạo áp lực lên chi phí vốn trong quý cuối năm.

"Tính đến hết quý III/2025, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng niêm yết đạt 14,5% so với đầu năm, là mức cao nhất trong 5 năm gần đây. Mặc dù mức tăng có chậm lại do yếu tố mùa vụ, nhưng vẫn tích cực so với cùng kỳ nhờ chính sách hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của Chính phủ" - VDSC nhìn nhận.

Tính đến ngày 15/10/2025, tăng trưởng tín dụng đạt 13,8% so với đầu năm. Sự phân hóa về tốc độ tăng trưởng tín dụng giữa các ngân hàng không còn quá sâu sắc như quý trước khi nhiều ngân hàng đã gần chạm hạn mức được cấp từ đầu năm và dần ưu tiên tối ưu hóa biên lợi nhuận thay vì mở rộng quy mô.

Trong đó, VPBank (ngân hàng mẹ) là ngân hàng thương mại cổ phần duy nhất có mức tăng trưởng đột biến 29,1% so với đầu năm, trong khi VietinBank là ngân hàng quốc doanh duy nhất tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực với mức 15,6%.

Nhờ vậy, thị phần tín dụng đã trở nên cân bằng hơn giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn trong quý III/2025.

Xét theo kỳ hạn, tín dụng trung và dài hạn tăng nhanh hơn ngắn hạn, phản ánh sự phục hồi thực chất hơn của nhu cầu đầu tư và sản xuất, đồng thời cho thấy các ngân hàng đang cơ cấu lại danh mục cho vay sang kỳ hạn dài để cải thiện lợi suất tài sản trong trung hạn.

Dư địa cải thiện NIM hạn chế do lãi suất đầu vào tăng nhanh hơn

Về huy động, theo nhóm phân tích VDSC, tăng trưởng huy động vốn của các ngân hàng niêm yết tính đến hết quý III/2025 đạt 11,4%.

Tiền gửi giảm tốc quý III, khoảng cách với tăng trưởng tín dụng âm 3,1%

Theo VDSC, khoảng cách giữa tăng trưởng huy động và tăng trưởng tín dụng đã nới rộng lên mức âm 3,1 điểm phần trăm, sau khi gần cân bằng trong quý trước (chênh lệch chỉ 0,1 điểm phần trăm). Trong đó, tiền gửi khách hàng tăng 10,2% so với đầu năm (so với 8,3% trong quý II/2025), nhưng có dấu hiệu giảm tốc, còn tăng trưởng phát hành giấy tờ có giá giảm xuống 21,7% so với đầu năm (so với 25% trong quý II/2025) do lượng phát hành mới thấp hơn lượng đáo hạn.

Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) toàn thị trường giảm nhẹ 0,3 điểm phần trăm so với quý trước, xuống 21,9%.

VDSC cho rằng, điều này do một phần do tâm lý lo ngại của các hộ kinh doanh về việc bị kiểm soát theo Nghị định 70/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/6/2025.

Dòng tiền chảy ra khỏi hệ thống ngân hàng do nhu cầu đầu tư vào các loại tài sản chính thức như USD, tiền kỹ thuật số và vàng tăng mạnh có thể là nguyên nhân chính khiến huy động tiền gửi khách hàng chậm lại.

Để đảm bảo thanh khoản trong bối cảnh không phát hành nhiều giấy tờ có giá và huy động tiền gửi tăng chậm, các ngân hàng thương mại tăng cường đáng kể hoạt động trên thị trường liên ngân hàng (480 nghìn tỷ đồng) và tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động.

Bên cạnh đó là sự hỗ trợ thanh khoản từ việc Kho bạc Nhà nước tăng quy mô tiền gửi có kỳ hạn hơn 100 nghìn tỷ đồng tại các ngân hàng quốc doanh.

Dự báo áp lực thanh khoản cuối năm khi huy động

Trong quý III/2025, các nhóm ngân hàng quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần lớn và ngân hàng thương mại quy mô vừa tăng lãi suất huy động bình quân lần lượt 5 điểm cơ bản, 20 điểm cơ bản và 25 điểm cơ bản so với quý trước.

Bình quân lãi suất huy động tiền gửi khách hàng đã tăng 15 điểm cơ bản so với quý II và tăng 40 điểm cơ bản kể từ đầu năm, phù hợp với kỳ vọng tăng 50 - 60 điểm cơ bản trong cả năm 2025.

Cũng theo nhóm phân tích, biên lãi ròng (NIM) giảm 35 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống 3,15%, đây là mức thấp nhất kể từ năm 2018.

NIM quý III/2025 giảm nhẹ 10 điểm cơ bản so với quý trước và thấp hơn cùng kỳ 30 điểm cơ bản. Nguyên nhân là do lợi suất tài sản sinh lãi giảm 5 điểm cơ bản so với quý trước, còn 6,5%, dù lợi suất cho vay - cấu phần lớn nhất của lợi suất tài sản, lại gần như đi ngang.

Diễn biến này chịu ảnh hưởng bởi việc nợ quá hạn hình thành ròng (chủ yếu là nợ nhóm 2) tăng trở lại trong quý III/2025, trái ngược với quý II khi thu nhập lãi được hỗ trợ nhờ thu lãi ngoại bảng trong bối cảnh tổng nợ quá hạn giảm mạnh. Đồng thời, chi phí vốn tăng 5 điểm cơ bản lên 3,9%, chủ yếu do xu hướng tăng lãi suất huy động.

"Trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng dư địa cải thiện NIM được đánh giá là hạn chế do chi phí vốn tăng nhanh hơn lãi suất đầu ra" - chuyên gia VDSC đánh giá.

Áp lực huy động vốn tiếp tục tăng khi nhu cầu giải ngân tín dụng cuối năm thường cao và chênh lệch giữa tín dụng và huy động đang ở mức lớn. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản có thể giảm phần nào khi dòng vốn chi ngân sách, đặc biệt là giải ngân đầu tư công, tăng mạnh trong những tháng cuối năm.

Về lợi suất tài sản, mặc dù các khoản vay trung và dài hạn được ưu tiên giải ngân trong hai quý gần nhất, lợi suất cho vay khó có thể tăng ngay do phần lớn khoản vay trung và dài hạn cho khách hàng cá nhân thường được hưởng lãi suất ưu đãi trong 6 tháng đến 3 năm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80