Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Những tháng đầu năm 2025, tỷ giá USD/VND chịu sức ép do những yếu tố bên ngoài tác động khó lường, căng thẳng thương mại leo thang cùng nhu cầu từ trong nước. Trong khi đó, doanh nghiệp vẫn bị động khi ứng phó và chịu nhiều thiệt hại trước biến động thất thường của tỷ giá. Trong giai đoạn đầy thử thách, nhà điều hành sử dụng linh hoạt nhiều biện pháp để hoá giải áp lực tỷ giá và hấp thụ những cú sốc bên ngoài, giúp ổn định kinh tế vĩ mô.
aa
Phát triển kinh tế tư nhân, tạo bứt phá cho tăng trưởng
Nguồn: NHNN. Đồ họa: tư liệu

Đong đếm tác động đến doanh nghiệp

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Đức Hoàn - Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư & Sản xuất Thái Hưng, một doanh nghiệp sản xuất bao bì chuyên cung cấp cho các doanh nghiệp FDI cho biết, gần đây khi tỷ giá biến động khiến doanh nghiệp lợi bất cập hại, do chi phí nguyên vật liệu nhập về gia tăng, không đủ bù đắp phần lãi chênh lệch tỷ giá thu được nhờ xuất khẩu.

Ông Hoàn cho biết tại Thái Hưng, tỷ trọng hàng xuất khẩu chiếm 12% tổng lượng hàng bán ra nên thực tế, công ty chịu thiệt khi tỷ giá tăng. Chỉ một số ngành nghề, lĩnh vực hưởng lợi khi tỷ giá tăng như: xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản, đồ gỗ, hay nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản..., còn trên tổng thể nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp chịu thiệt hại.

Thống kê cũng cho thấy, nhiều doanh nghiệp niêm yết đang có cơ cấu nợ vay bằng ngoại tệ khá lớn, kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau ghi nhận mức lỗ chênh lệch tỷ giá khá lớn năm vừa qua.

Chẳng hạn, tính đến cuối năm 2024, tổng dư nợ vay của một "ông lớn" kinh doanh bất động sản là 228 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với đầu năm, trong đó có tới 24,5% dư nợ vay là bằng USD. Trong số đó, nhiều khoản vay không có hợp đồng hoán đổi lãi suất thả nổi thành lãi suất cố định thì doanh nghiệp phải chịu lãi suất cố định trong kỳ lên tới

12%/năm; lãi suất thả nổi dao động từ 5,36 - 9,08%/năm. Với tỷ giá biến động như năm 2024, khoản lỗ tỷ giá của “ông lớn” này lên tới 2.974 tỷ đồng. Trước đó, năm 2023 và 2022, doanh nghiệp này cũng gánh lỗ 2.755 tỷ đồng và 1.848 tỷ đồng.

Tại Vietnam Airlines (mã chứng khoán: HVN), khoản nợ thuê tài chính, vay nợ một số ngân hàng bằng USD khá lớn. Biến động tỷ giá bất lợi khiến chi phí của hãng tăng, khoản lỗ vì tỷ giá năm 2024 là 1.487 tỷ đồng; trước đó, năm 2023 và 2022, lỗ vì tỷ giá lần lượt là 902 tỷ đồng và hơn 1.500 tỷ đồng. Lãnh đạo hãng bay từng bày tỏ khi tỷ giá thay đổi 1%, Vietnam Airlines mất 300 tỷ đồng, nếu thay đổi 5% thì chi phí tăng lên 1.500 tỷ đồng.

Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (Novaland) (mã chứng khoán: NVL) cũng chịu chi phí tài chính tăng cao từ khoản lỗ tỷ giá năm 2024 là 907 tỷ đồng do Novaland có nhiều khoản vay ngoại tệ từ các ngân hàng nước ngoài và huy động trái phiếu quốc tế bằng USD. Trước đó, năm 2023 và 2022, Novaland lỗ tỷ giá khoảng 500 tỷ đồng.

Khi đồng USD duy trì sức mạnh thời gian tới khiến VND tiếp tục bị mất giá mạnh hơn dự báo sẽ đẩy chi phí tăng và bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp. Ở chiều ngược lại, chỉ số ít doanh nghiệp ghi nhận tác động tích cực từ biến động tỷ giá.

Đơn cử, Tổng công ty cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel (mã chứng khoán: VGI) hoạt động tại 9 quốc gia trên khắp châu Á, châu Phi và châu Mỹ trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ nên nguồn thu USD lớn. Năm 2024, công ty này lãi gần 1.400 tỷ đồng nhờ chênh lệch tỷ giá.

Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (mã chứng khoán: PVS) có nhiều khách hàng là các công ty quốc tế hoạt động trong ngành dầu khí, với tỷ trọng doanh thu bằng ngoại tệ cao trên 80% những năm gần đây. PVS lãi hơn 100 tỷ đồng mỗi năm nhờ chênh lệch tỷ giá.

Ứng phó trước biến động

Sau một năm 2024 đầy thử thách với sự biến động mạnh mẽ của tỷ giá, trong bối cảnh toàn cầu có nhiều yếu tố tác động, tỷ giá USD/VND tiếp tục phải đối mặt với những áp lực đáng kể ngay từ những tháng đầu năm 2025.

Cơ chế điều hành linh hoạt, duy trì ổn định tỷ giá

Trước sức nóng của tỷ giá, từ ngày 10 - 27/2, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 94 nghìn tỷ đồng khỏi thị trường. Một động thái đáng chú ý là từ sau ngày 10/2, nhà điều hành cũng “thả nổi” giá bán USD cho các ngân hàng thương mại thấp 50 đồng so với tỷ giá trần, thay vì neo cứng tỷ giá USD liên ngân hàng như giai đoạn dài trước đó. Các biện pháp này giúp giảm bớt biến động, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Ngày 28/2, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nâng tỷ giá trung tâm lên mức 24.726 VND/USD, tăng 30 VND so với phiên trước đó. Tính từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm vẫn tiếp đà tăng mạnh, đặc biệt sau khi nghỉ Tết, với mức tăng 391 đồng, tương ứng 1,6%, đây là mức điều chỉnh rất mạnh nếu so với mức tăng 469 VND trong suốt năm 2024. Với biên độ 5%, tỷ giá trần ngày 28/2 là 25.962 VND/USD, tỷ giá sàn là 23.490 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN tăng lên thành 23.540 - 25.910 VND/USD, tăng 28 VND chiều mua vào và 32 đồng chiều bán ra.

Tỷ giá bán USD tại các ngân hàng cũng tăng mạnh. Chẳng hạn, tỷ giá USD được Vietcombank niêm yết ở mức 25.745 VND/USD chiều bán ra, đây cũng là mức cao nhất ngân hàng này từng niêm yết; còn chiều mua vào ở mức 25.355 VND/USD, tương ứng tăng 5 đồng cả hai chiều so với phiên trước đó. Từ đầu năm đến nay, tỷ giá USD được Vietcombank bán ra tăng 194 đồng, tương ứng tăng 0,8%.

Theo giới phân tích, tỷ giá USD/VND chịu ảnh hưởng lớn từ các biến động kinh tế toàn cầu, đặc biệt từ cuộc chiến thuế quan từ chính quyền Mỹ đe doạ nhiều quốc gia. Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) chần chừ hạ lãi suất và giữ lãi suất neo cao giúp đồng USD duy trì sức mạnh, tạo áp lực với các đồng tiền khác, trong đó có VND. Lãi suất cao của Mỹ kéo theo dòng vốn đầu tư quốc tế đổ vào USD để tìm kiếm lợi suất cao, điều này làm cho nhu cầu đồng USD tăng mạnh, tạo ra sức ép lớn lên tỷ giá USD/VND. Áp lực cũng rõ rệt trong bối cảnh Việt Nam vẫn duy trì mức lãi suất thấp hơn so với các nước phát triển để hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng.

Một yếu tố khác khiến tỷ giá USD/VND chịu tác động mạnh mẽ là nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là nguyên vật liệu sản xuất, vẫn duy trì ở mức cao, khiến cán cân thanh toán của Việt Nam nhiều thời điểm mất cân đối, có thể gây ra áp lực mua ngoại tệ để thanh toán cho các khoản nhập khẩu.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, nửa đầu tháng 2/2025, Việt Nam chi 17,3 tỷ USD để nhập khẩu, tăng 80% so cùng kỳ. Hai mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam có kim ngạch tỷ USD đó là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với 5,61 tỷ USD, tăng 92%; nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 1,89 tỷ USD, tăng 82%... Điều này đồng nghĩa với việc lượng ngoại tệ mà Việt Nam phải chi tiêu cho các hoạt động nhập khẩu cũng lớn hơn, từ đó đẩy tỷ giá USD/VND.

Thực tế, khi tỷ giá tăng, chỉ doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu bằng ngoại tệ được hưởng lợi từ việc quy đổi nguồn thu từ ngoại tệ sang VND. Tuy nhiên, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam nhiều khi phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu, có những doanh nghiệp vay nợ nước ngoài, do đó, tỷ giá tăng thì hầu hết đều rơi vào tình trạng lợi bất cập hại. Dù vậy, doanh nghiệp Việt vẫn bị động khi ứng phó những biến động thất thường của tỷ giá và chưa quen sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

Ông Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế: Tác động đa chiều của biến động tỷ giá
Phát triển kinh tế tư nhân, tạo bứt phá cho tăng trưởng

Tác động của biến động tỷ giá đến nền kinh tế Việt Nam ở trên nhiều khía cạnh. Thứ nhất, ảnh hưởng đến xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại. Đồng VND yếu giúp hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu đạt 405,53 tỷ USD, tăng 14,3%. Tuy nhiên, tỷ giá tăng làm giá hàng nhập khẩu cao hơn, dẫn đến tăng chi phí sản xuất cho doanh nghiệp phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu.

Thứ hai, tác động lên lạm phát, đầu tư và tăng trưởng GDP. Tỷ giá tăng có thể gây áp lực lạm phát do giá hàng nhập khẩu tăng. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng nhà nước (NHNN) giúp kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý. Đồng VND yếu có thể thu hút đầu tư nước ngoài do chi phí đầu tư thấp hơn. Năm 2024, vốn FDI thực hiện đạt 25,35 tỷ USD, tăng 9,4%. Xuất khẩu tăng và đầu tư nước ngoài gia tăng đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP. Năm 2024, GDP Việt Nam tăng 7,09%, vượt mức 5,05% của năm 2023.

Thứ ba, ảnh hưởng đến doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vay nợ bằng ngoại tệ. Doanh nghiệp xuất khẩu hưởng lợi từ tỷ giá cao do doanh thu bằng USD tăng khi quy đổi sang VND. Doanh nghiệp nhập khẩu và vay nợ ngoại tệ chịu áp lực do chi phí nhập khẩu và trả nợ tăng khi VND mất giá. Doanh nghiệp cần áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro tỷ giá như sử dụng hợp đồng kỳ hạn hoặc đa dạng hóa nguồn cung ứng.

Ông Trần Ngọc Báu - chuyên gia kinh tế, Tổng Giám đốc WiGroup: Tỷ giá chịu áp lực trong ngắn hạn

Phát triển kinh tế tư nhân, tạo bứt phá cho tăng trưởng

Trong dịp nghỉ Tết, đồng USD tăng mạnh và gây áp lực lên tỷ giá. Khi NHNN nới không gian, ngay lập tức tỷ giá ngân hàng thương mại tăng vọt, nhưng tỷ giá trên thị trường tự do lại trầm lắng. Điều này thể hiện chủ yếu biến động của tỷ giá mang yếu tố về tâm lý. Sau thời gian dài chúng ta cũng không nâng tỷ giá trung tâm, không nâng biên độ nên khi nâng tỷ giá trung tâm thì các ngân hàng thương mại ngay lập tức tăng giá bán lên. Đây là điều rất bình thường theo quy luật về cung cầu thị trường sau khi ở trạng thái kìm nén một thời gian dài.

Vì vậy, tỷ giá tăng ngay từ đầu năm cũng là một điều hoàn toàn bình thường, không đáng lo ngại. Nếu tiếp tục ghìm tỷ giá thì NHNN sẽ phải tiếp tục bán dự trữ ngoại hối, hút tiền về, khiến ngân hàng tiếp tục chịu áp lực về lãi suất huy động, cho nên biến động như hiện nay đang vận hành khá đúng quy luật. Về chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng, tỷ giá vẫn đang chịu áp lực trong ngắn hạn, nhưng không quá lớn như thị trường đang lo ngại.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80