Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Những tháng đầu năm 2025, tỷ giá USD/VND chịu sức ép do những yếu tố bên ngoài tác động khó lường, căng thẳng thương mại leo thang cùng nhu cầu từ trong nước. Trong khi đó, doanh nghiệp vẫn bị động khi ứng phó và chịu nhiều thiệt hại trước biến động thất thường của tỷ giá. Trong giai đoạn đầy thử thách, nhà điều hành sử dụng linh hoạt nhiều biện pháp để hoá giải áp lực tỷ giá và hấp thụ những cú sốc bên ngoài, giúp ổn định kinh tế vĩ mô.
aa
Phát triển kinh tế tư nhân, tạo bứt phá cho tăng trưởng
Nguồn: NHNN. Đồ họa: tư liệu

Đong đếm tác động đến doanh nghiệp

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Đức Hoàn - Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư & Sản xuất Thái Hưng, một doanh nghiệp sản xuất bao bì chuyên cung cấp cho các doanh nghiệp FDI cho biết, gần đây khi tỷ giá biến động khiến doanh nghiệp lợi bất cập hại, do chi phí nguyên vật liệu nhập về gia tăng, không đủ bù đắp phần lãi chênh lệch tỷ giá thu được nhờ xuất khẩu.

Ông Hoàn cho biết tại Thái Hưng, tỷ trọng hàng xuất khẩu chiếm 12% tổng lượng hàng bán ra nên thực tế, công ty chịu thiệt khi tỷ giá tăng. Chỉ một số ngành nghề, lĩnh vực hưởng lợi khi tỷ giá tăng như: xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản, đồ gỗ, hay nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản..., còn trên tổng thể nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp chịu thiệt hại.

Thống kê cũng cho thấy, nhiều doanh nghiệp niêm yết đang có cơ cấu nợ vay bằng ngoại tệ khá lớn, kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau ghi nhận mức lỗ chênh lệch tỷ giá khá lớn năm vừa qua.

Chẳng hạn, tính đến cuối năm 2024, tổng dư nợ vay của một "ông lớn" kinh doanh bất động sản là 228 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với đầu năm, trong đó có tới 24,5% dư nợ vay là bằng USD. Trong số đó, nhiều khoản vay không có hợp đồng hoán đổi lãi suất thả nổi thành lãi suất cố định thì doanh nghiệp phải chịu lãi suất cố định trong kỳ lên tới

12%/năm; lãi suất thả nổi dao động từ 5,36 - 9,08%/năm. Với tỷ giá biến động như năm 2024, khoản lỗ tỷ giá của “ông lớn” này lên tới 2.974 tỷ đồng. Trước đó, năm 2023 và 2022, doanh nghiệp này cũng gánh lỗ 2.755 tỷ đồng và 1.848 tỷ đồng.

Tại Vietnam Airlines (mã chứng khoán: HVN), khoản nợ thuê tài chính, vay nợ một số ngân hàng bằng USD khá lớn. Biến động tỷ giá bất lợi khiến chi phí của hãng tăng, khoản lỗ vì tỷ giá năm 2024 là 1.487 tỷ đồng; trước đó, năm 2023 và 2022, lỗ vì tỷ giá lần lượt là 902 tỷ đồng và hơn 1.500 tỷ đồng. Lãnh đạo hãng bay từng bày tỏ khi tỷ giá thay đổi 1%, Vietnam Airlines mất 300 tỷ đồng, nếu thay đổi 5% thì chi phí tăng lên 1.500 tỷ đồng.

Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (Novaland) (mã chứng khoán: NVL) cũng chịu chi phí tài chính tăng cao từ khoản lỗ tỷ giá năm 2024 là 907 tỷ đồng do Novaland có nhiều khoản vay ngoại tệ từ các ngân hàng nước ngoài và huy động trái phiếu quốc tế bằng USD. Trước đó, năm 2023 và 2022, Novaland lỗ tỷ giá khoảng 500 tỷ đồng.

Khi đồng USD duy trì sức mạnh thời gian tới khiến VND tiếp tục bị mất giá mạnh hơn dự báo sẽ đẩy chi phí tăng và bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp. Ở chiều ngược lại, chỉ số ít doanh nghiệp ghi nhận tác động tích cực từ biến động tỷ giá.

Đơn cử, Tổng công ty cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel (mã chứng khoán: VGI) hoạt động tại 9 quốc gia trên khắp châu Á, châu Phi và châu Mỹ trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ nên nguồn thu USD lớn. Năm 2024, công ty này lãi gần 1.400 tỷ đồng nhờ chênh lệch tỷ giá.

Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (mã chứng khoán: PVS) có nhiều khách hàng là các công ty quốc tế hoạt động trong ngành dầu khí, với tỷ trọng doanh thu bằng ngoại tệ cao trên 80% những năm gần đây. PVS lãi hơn 100 tỷ đồng mỗi năm nhờ chênh lệch tỷ giá.

Ứng phó trước biến động

Sau một năm 2024 đầy thử thách với sự biến động mạnh mẽ của tỷ giá, trong bối cảnh toàn cầu có nhiều yếu tố tác động, tỷ giá USD/VND tiếp tục phải đối mặt với những áp lực đáng kể ngay từ những tháng đầu năm 2025.

Cơ chế điều hành linh hoạt, duy trì ổn định tỷ giá

Trước sức nóng của tỷ giá, từ ngày 10 - 27/2, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 94 nghìn tỷ đồng khỏi thị trường. Một động thái đáng chú ý là từ sau ngày 10/2, nhà điều hành cũng “thả nổi” giá bán USD cho các ngân hàng thương mại thấp 50 đồng so với tỷ giá trần, thay vì neo cứng tỷ giá USD liên ngân hàng như giai đoạn dài trước đó. Các biện pháp này giúp giảm bớt biến động, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Ngày 28/2, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nâng tỷ giá trung tâm lên mức 24.726 VND/USD, tăng 30 VND so với phiên trước đó. Tính từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm vẫn tiếp đà tăng mạnh, đặc biệt sau khi nghỉ Tết, với mức tăng 391 đồng, tương ứng 1,6%, đây là mức điều chỉnh rất mạnh nếu so với mức tăng 469 VND trong suốt năm 2024. Với biên độ 5%, tỷ giá trần ngày 28/2 là 25.962 VND/USD, tỷ giá sàn là 23.490 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN tăng lên thành 23.540 - 25.910 VND/USD, tăng 28 VND chiều mua vào và 32 đồng chiều bán ra.

Tỷ giá bán USD tại các ngân hàng cũng tăng mạnh. Chẳng hạn, tỷ giá USD được Vietcombank niêm yết ở mức 25.745 VND/USD chiều bán ra, đây cũng là mức cao nhất ngân hàng này từng niêm yết; còn chiều mua vào ở mức 25.355 VND/USD, tương ứng tăng 5 đồng cả hai chiều so với phiên trước đó. Từ đầu năm đến nay, tỷ giá USD được Vietcombank bán ra tăng 194 đồng, tương ứng tăng 0,8%.

Theo giới phân tích, tỷ giá USD/VND chịu ảnh hưởng lớn từ các biến động kinh tế toàn cầu, đặc biệt từ cuộc chiến thuế quan từ chính quyền Mỹ đe doạ nhiều quốc gia. Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) chần chừ hạ lãi suất và giữ lãi suất neo cao giúp đồng USD duy trì sức mạnh, tạo áp lực với các đồng tiền khác, trong đó có VND. Lãi suất cao của Mỹ kéo theo dòng vốn đầu tư quốc tế đổ vào USD để tìm kiếm lợi suất cao, điều này làm cho nhu cầu đồng USD tăng mạnh, tạo ra sức ép lớn lên tỷ giá USD/VND. Áp lực cũng rõ rệt trong bối cảnh Việt Nam vẫn duy trì mức lãi suất thấp hơn so với các nước phát triển để hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng.

Một yếu tố khác khiến tỷ giá USD/VND chịu tác động mạnh mẽ là nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là nguyên vật liệu sản xuất, vẫn duy trì ở mức cao, khiến cán cân thanh toán của Việt Nam nhiều thời điểm mất cân đối, có thể gây ra áp lực mua ngoại tệ để thanh toán cho các khoản nhập khẩu.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, nửa đầu tháng 2/2025, Việt Nam chi 17,3 tỷ USD để nhập khẩu, tăng 80% so cùng kỳ. Hai mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam có kim ngạch tỷ USD đó là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với 5,61 tỷ USD, tăng 92%; nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 1,89 tỷ USD, tăng 82%... Điều này đồng nghĩa với việc lượng ngoại tệ mà Việt Nam phải chi tiêu cho các hoạt động nhập khẩu cũng lớn hơn, từ đó đẩy tỷ giá USD/VND.

Thực tế, khi tỷ giá tăng, chỉ doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu bằng ngoại tệ được hưởng lợi từ việc quy đổi nguồn thu từ ngoại tệ sang VND. Tuy nhiên, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam nhiều khi phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu, có những doanh nghiệp vay nợ nước ngoài, do đó, tỷ giá tăng thì hầu hết đều rơi vào tình trạng lợi bất cập hại. Dù vậy, doanh nghiệp Việt vẫn bị động khi ứng phó những biến động thất thường của tỷ giá và chưa quen sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

Ông Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế: Tác động đa chiều của biến động tỷ giá
Phát triển kinh tế tư nhân, tạo bứt phá cho tăng trưởng

Tác động của biến động tỷ giá đến nền kinh tế Việt Nam ở trên nhiều khía cạnh. Thứ nhất, ảnh hưởng đến xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại. Đồng VND yếu giúp hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu đạt 405,53 tỷ USD, tăng 14,3%. Tuy nhiên, tỷ giá tăng làm giá hàng nhập khẩu cao hơn, dẫn đến tăng chi phí sản xuất cho doanh nghiệp phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu.

Thứ hai, tác động lên lạm phát, đầu tư và tăng trưởng GDP. Tỷ giá tăng có thể gây áp lực lạm phát do giá hàng nhập khẩu tăng. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng nhà nước (NHNN) giúp kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý. Đồng VND yếu có thể thu hút đầu tư nước ngoài do chi phí đầu tư thấp hơn. Năm 2024, vốn FDI thực hiện đạt 25,35 tỷ USD, tăng 9,4%. Xuất khẩu tăng và đầu tư nước ngoài gia tăng đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP. Năm 2024, GDP Việt Nam tăng 7,09%, vượt mức 5,05% của năm 2023.

Thứ ba, ảnh hưởng đến doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vay nợ bằng ngoại tệ. Doanh nghiệp xuất khẩu hưởng lợi từ tỷ giá cao do doanh thu bằng USD tăng khi quy đổi sang VND. Doanh nghiệp nhập khẩu và vay nợ ngoại tệ chịu áp lực do chi phí nhập khẩu và trả nợ tăng khi VND mất giá. Doanh nghiệp cần áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro tỷ giá như sử dụng hợp đồng kỳ hạn hoặc đa dạng hóa nguồn cung ứng.

Ông Trần Ngọc Báu - chuyên gia kinh tế, Tổng Giám đốc WiGroup: Tỷ giá chịu áp lực trong ngắn hạn

Phát triển kinh tế tư nhân, tạo bứt phá cho tăng trưởng

Trong dịp nghỉ Tết, đồng USD tăng mạnh và gây áp lực lên tỷ giá. Khi NHNN nới không gian, ngay lập tức tỷ giá ngân hàng thương mại tăng vọt, nhưng tỷ giá trên thị trường tự do lại trầm lắng. Điều này thể hiện chủ yếu biến động của tỷ giá mang yếu tố về tâm lý. Sau thời gian dài chúng ta cũng không nâng tỷ giá trung tâm, không nâng biên độ nên khi nâng tỷ giá trung tâm thì các ngân hàng thương mại ngay lập tức tăng giá bán lên. Đây là điều rất bình thường theo quy luật về cung cầu thị trường sau khi ở trạng thái kìm nén một thời gian dài.

Vì vậy, tỷ giá tăng ngay từ đầu năm cũng là một điều hoàn toàn bình thường, không đáng lo ngại. Nếu tiếp tục ghìm tỷ giá thì NHNN sẽ phải tiếp tục bán dự trữ ngoại hối, hút tiền về, khiến ngân hàng tiếp tục chịu áp lực về lãi suất huy động, cho nên biến động như hiện nay đang vận hành khá đúng quy luật. Về chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng, tỷ giá vẫn đang chịu áp lực trong ngắn hạn, nhưng không quá lớn như thị trường đang lo ngại.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17639 17912 18484
CAD 17963 18238 18853
CHF 31808 32189 32831
CNY 0 3830 3923
EUR 29298 29518 30596
GBP 33923 34313 35244
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14559 15146
SGD 19761 20043 20615
THB 705 768 821
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80