Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Những tháng đầu năm 2025, tỷ giá USD/VND chịu sức ép do những yếu tố bên ngoài tác động khó lường, căng thẳng thương mại leo thang cùng nhu cầu từ trong nước. Trong khi đó, doanh nghiệp vẫn bị động khi ứng phó và chịu nhiều thiệt hại trước biến động thất thường của tỷ giá. Trong giai đoạn đầy thử thách, nhà điều hành sử dụng linh hoạt nhiều biện pháp để hoá giải áp lực tỷ giá và hấp thụ những cú sốc bên ngoài, giúp ổn định kinh tế vĩ mô.
aa
Phát triển kinh tế tư nhân, tạo bứt phá cho tăng trưởng
Nguồn: NHNN. Đồ họa: tư liệu

Đong đếm tác động đến doanh nghiệp

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Đức Hoàn - Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư & Sản xuất Thái Hưng, một doanh nghiệp sản xuất bao bì chuyên cung cấp cho các doanh nghiệp FDI cho biết, gần đây khi tỷ giá biến động khiến doanh nghiệp lợi bất cập hại, do chi phí nguyên vật liệu nhập về gia tăng, không đủ bù đắp phần lãi chênh lệch tỷ giá thu được nhờ xuất khẩu.

Ông Hoàn cho biết tại Thái Hưng, tỷ trọng hàng xuất khẩu chiếm 12% tổng lượng hàng bán ra nên thực tế, công ty chịu thiệt khi tỷ giá tăng. Chỉ một số ngành nghề, lĩnh vực hưởng lợi khi tỷ giá tăng như: xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản, đồ gỗ, hay nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản..., còn trên tổng thể nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp chịu thiệt hại.

Thống kê cũng cho thấy, nhiều doanh nghiệp niêm yết đang có cơ cấu nợ vay bằng ngoại tệ khá lớn, kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau ghi nhận mức lỗ chênh lệch tỷ giá khá lớn năm vừa qua.

Chẳng hạn, tính đến cuối năm 2024, tổng dư nợ vay của một "ông lớn" kinh doanh bất động sản là 228 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với đầu năm, trong đó có tới 24,5% dư nợ vay là bằng USD. Trong số đó, nhiều khoản vay không có hợp đồng hoán đổi lãi suất thả nổi thành lãi suất cố định thì doanh nghiệp phải chịu lãi suất cố định trong kỳ lên tới

12%/năm; lãi suất thả nổi dao động từ 5,36 - 9,08%/năm. Với tỷ giá biến động như năm 2024, khoản lỗ tỷ giá của “ông lớn” này lên tới 2.974 tỷ đồng. Trước đó, năm 2023 và 2022, doanh nghiệp này cũng gánh lỗ 2.755 tỷ đồng và 1.848 tỷ đồng.

Tại Vietnam Airlines (mã chứng khoán: HVN), khoản nợ thuê tài chính, vay nợ một số ngân hàng bằng USD khá lớn. Biến động tỷ giá bất lợi khiến chi phí của hãng tăng, khoản lỗ vì tỷ giá năm 2024 là 1.487 tỷ đồng; trước đó, năm 2023 và 2022, lỗ vì tỷ giá lần lượt là 902 tỷ đồng và hơn 1.500 tỷ đồng. Lãnh đạo hãng bay từng bày tỏ khi tỷ giá thay đổi 1%, Vietnam Airlines mất 300 tỷ đồng, nếu thay đổi 5% thì chi phí tăng lên 1.500 tỷ đồng.

Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (Novaland) (mã chứng khoán: NVL) cũng chịu chi phí tài chính tăng cao từ khoản lỗ tỷ giá năm 2024 là 907 tỷ đồng do Novaland có nhiều khoản vay ngoại tệ từ các ngân hàng nước ngoài và huy động trái phiếu quốc tế bằng USD. Trước đó, năm 2023 và 2022, Novaland lỗ tỷ giá khoảng 500 tỷ đồng.

Khi đồng USD duy trì sức mạnh thời gian tới khiến VND tiếp tục bị mất giá mạnh hơn dự báo sẽ đẩy chi phí tăng và bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp. Ở chiều ngược lại, chỉ số ít doanh nghiệp ghi nhận tác động tích cực từ biến động tỷ giá.

Đơn cử, Tổng công ty cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel (mã chứng khoán: VGI) hoạt động tại 9 quốc gia trên khắp châu Á, châu Phi và châu Mỹ trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ nên nguồn thu USD lớn. Năm 2024, công ty này lãi gần 1.400 tỷ đồng nhờ chênh lệch tỷ giá.

Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (mã chứng khoán: PVS) có nhiều khách hàng là các công ty quốc tế hoạt động trong ngành dầu khí, với tỷ trọng doanh thu bằng ngoại tệ cao trên 80% những năm gần đây. PVS lãi hơn 100 tỷ đồng mỗi năm nhờ chênh lệch tỷ giá.

Ứng phó trước biến động

Sau một năm 2024 đầy thử thách với sự biến động mạnh mẽ của tỷ giá, trong bối cảnh toàn cầu có nhiều yếu tố tác động, tỷ giá USD/VND tiếp tục phải đối mặt với những áp lực đáng kể ngay từ những tháng đầu năm 2025.

Cơ chế điều hành linh hoạt, duy trì ổn định tỷ giá

Trước sức nóng của tỷ giá, từ ngày 10 - 27/2, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 94 nghìn tỷ đồng khỏi thị trường. Một động thái đáng chú ý là từ sau ngày 10/2, nhà điều hành cũng “thả nổi” giá bán USD cho các ngân hàng thương mại thấp 50 đồng so với tỷ giá trần, thay vì neo cứng tỷ giá USD liên ngân hàng như giai đoạn dài trước đó. Các biện pháp này giúp giảm bớt biến động, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Ngày 28/2, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nâng tỷ giá trung tâm lên mức 24.726 VND/USD, tăng 30 VND so với phiên trước đó. Tính từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm vẫn tiếp đà tăng mạnh, đặc biệt sau khi nghỉ Tết, với mức tăng 391 đồng, tương ứng 1,6%, đây là mức điều chỉnh rất mạnh nếu so với mức tăng 469 VND trong suốt năm 2024. Với biên độ 5%, tỷ giá trần ngày 28/2 là 25.962 VND/USD, tỷ giá sàn là 23.490 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN tăng lên thành 23.540 - 25.910 VND/USD, tăng 28 VND chiều mua vào và 32 đồng chiều bán ra.

Tỷ giá bán USD tại các ngân hàng cũng tăng mạnh. Chẳng hạn, tỷ giá USD được Vietcombank niêm yết ở mức 25.745 VND/USD chiều bán ra, đây cũng là mức cao nhất ngân hàng này từng niêm yết; còn chiều mua vào ở mức 25.355 VND/USD, tương ứng tăng 5 đồng cả hai chiều so với phiên trước đó. Từ đầu năm đến nay, tỷ giá USD được Vietcombank bán ra tăng 194 đồng, tương ứng tăng 0,8%.

Theo giới phân tích, tỷ giá USD/VND chịu ảnh hưởng lớn từ các biến động kinh tế toàn cầu, đặc biệt từ cuộc chiến thuế quan từ chính quyền Mỹ đe doạ nhiều quốc gia. Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) chần chừ hạ lãi suất và giữ lãi suất neo cao giúp đồng USD duy trì sức mạnh, tạo áp lực với các đồng tiền khác, trong đó có VND. Lãi suất cao của Mỹ kéo theo dòng vốn đầu tư quốc tế đổ vào USD để tìm kiếm lợi suất cao, điều này làm cho nhu cầu đồng USD tăng mạnh, tạo ra sức ép lớn lên tỷ giá USD/VND. Áp lực cũng rõ rệt trong bối cảnh Việt Nam vẫn duy trì mức lãi suất thấp hơn so với các nước phát triển để hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng.

Một yếu tố khác khiến tỷ giá USD/VND chịu tác động mạnh mẽ là nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là nguyên vật liệu sản xuất, vẫn duy trì ở mức cao, khiến cán cân thanh toán của Việt Nam nhiều thời điểm mất cân đối, có thể gây ra áp lực mua ngoại tệ để thanh toán cho các khoản nhập khẩu.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, nửa đầu tháng 2/2025, Việt Nam chi 17,3 tỷ USD để nhập khẩu, tăng 80% so cùng kỳ. Hai mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam có kim ngạch tỷ USD đó là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với 5,61 tỷ USD, tăng 92%; nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 1,89 tỷ USD, tăng 82%... Điều này đồng nghĩa với việc lượng ngoại tệ mà Việt Nam phải chi tiêu cho các hoạt động nhập khẩu cũng lớn hơn, từ đó đẩy tỷ giá USD/VND.

Thực tế, khi tỷ giá tăng, chỉ doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu bằng ngoại tệ được hưởng lợi từ việc quy đổi nguồn thu từ ngoại tệ sang VND. Tuy nhiên, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam nhiều khi phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu, có những doanh nghiệp vay nợ nước ngoài, do đó, tỷ giá tăng thì hầu hết đều rơi vào tình trạng lợi bất cập hại. Dù vậy, doanh nghiệp Việt vẫn bị động khi ứng phó những biến động thất thường của tỷ giá và chưa quen sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

Ông Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế: Tác động đa chiều của biến động tỷ giá
Phát triển kinh tế tư nhân, tạo bứt phá cho tăng trưởng

Tác động của biến động tỷ giá đến nền kinh tế Việt Nam ở trên nhiều khía cạnh. Thứ nhất, ảnh hưởng đến xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại. Đồng VND yếu giúp hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu đạt 405,53 tỷ USD, tăng 14,3%. Tuy nhiên, tỷ giá tăng làm giá hàng nhập khẩu cao hơn, dẫn đến tăng chi phí sản xuất cho doanh nghiệp phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu.

Thứ hai, tác động lên lạm phát, đầu tư và tăng trưởng GDP. Tỷ giá tăng có thể gây áp lực lạm phát do giá hàng nhập khẩu tăng. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng nhà nước (NHNN) giúp kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý. Đồng VND yếu có thể thu hút đầu tư nước ngoài do chi phí đầu tư thấp hơn. Năm 2024, vốn FDI thực hiện đạt 25,35 tỷ USD, tăng 9,4%. Xuất khẩu tăng và đầu tư nước ngoài gia tăng đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP. Năm 2024, GDP Việt Nam tăng 7,09%, vượt mức 5,05% của năm 2023.

Thứ ba, ảnh hưởng đến doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vay nợ bằng ngoại tệ. Doanh nghiệp xuất khẩu hưởng lợi từ tỷ giá cao do doanh thu bằng USD tăng khi quy đổi sang VND. Doanh nghiệp nhập khẩu và vay nợ ngoại tệ chịu áp lực do chi phí nhập khẩu và trả nợ tăng khi VND mất giá. Doanh nghiệp cần áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro tỷ giá như sử dụng hợp đồng kỳ hạn hoặc đa dạng hóa nguồn cung ứng.

Ông Trần Ngọc Báu - chuyên gia kinh tế, Tổng Giám đốc WiGroup: Tỷ giá chịu áp lực trong ngắn hạn

Phát triển kinh tế tư nhân, tạo bứt phá cho tăng trưởng

Trong dịp nghỉ Tết, đồng USD tăng mạnh và gây áp lực lên tỷ giá. Khi NHNN nới không gian, ngay lập tức tỷ giá ngân hàng thương mại tăng vọt, nhưng tỷ giá trên thị trường tự do lại trầm lắng. Điều này thể hiện chủ yếu biến động của tỷ giá mang yếu tố về tâm lý. Sau thời gian dài chúng ta cũng không nâng tỷ giá trung tâm, không nâng biên độ nên khi nâng tỷ giá trung tâm thì các ngân hàng thương mại ngay lập tức tăng giá bán lên. Đây là điều rất bình thường theo quy luật về cung cầu thị trường sau khi ở trạng thái kìm nén một thời gian dài.

Vì vậy, tỷ giá tăng ngay từ đầu năm cũng là một điều hoàn toàn bình thường, không đáng lo ngại. Nếu tiếp tục ghìm tỷ giá thì NHNN sẽ phải tiếp tục bán dự trữ ngoại hối, hút tiền về, khiến ngân hàng tiếp tục chịu áp lực về lãi suất huy động, cho nên biến động như hiện nay đang vận hành khá đúng quy luật. Về chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng, tỷ giá vẫn đang chịu áp lực trong ngắn hạn, nhưng không quá lớn như thị trường đang lo ngại.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80