Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/3: Tỷ giá lập đỉnh mới, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tuần qua (17 - 21/3), tỷ giá trung tâm tăng 19 đồng so với phiên cuối tuần trước đó, niêm yết ở mức 24.813 VND/USD, đánh dấu mức cao kỷ lục mới. Ngân hàng Nhà nước cũng nâng giá bán USD tham khảo lên 26.003 VND/USD, lần đầu tiên vượt ngưỡng 26.000 VND/USD.
aa
Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm Cân bằng các sức ép, tỷ giá và lãi suất sẽ sớm ổn định Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ngày 21/3, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 24.813 VND/USD, tăng 6 đồng so với hôm trước, đánh dấu mức cao kỷ lục mới. Với biên độ dao động 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong khoảng 23.572 - 26.054 VND/USD. Đồng thời, NHNN cũng nâng giá bán USD tham khảo lên 26.003 VND/USD, lần đầu tiên vượt ngưỡng 26.000 VND.

Đồng USD suy yếu, tỷ giá vẫn đối diện áp lực

Tại các ngân hàng thương mại, giá USD mua vào dao động từ 25.350 - 25.380 VND/USD, trong khi giá bán ra nằm trong khoảng 25.740 - 25.760 VND/USD. So với cuối tuần trước, giá USD tại các ngân hàng đã tăng khoảng 50 đồng, tiến sát mức đỉnh 25.780 đồng/USD được ghi nhận vào đầu tháng 3.

Trên thị trường tự do, giá USD được giao dịch ở mức 25.870 - 25.970 VND/USD (mua - bán). Từ đầu tuần đến nay, giá USD trên thị trường tự do tăng khoảng 150 đồng, tiến gần đến mức đỉnh 26.000 VND/USD ghi nhận vào cuối tháng 6/2024.

"Mệt mỏi với thuế quan", chỉ số DXY suy yếu

Mặc dù đồng bạc xanh đã suy yếu trên thị trường quốc tế kể từ giữa tháng 1/2025, tỷ giá USD/VND trong nước vẫn duy trì xu hướng tăng. Hiện chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của đồng USD so với các đồng tiền chủ chốt, dao động quanh mức 104 điểm, giảm gần 4% so với cuối năm 2024.

Tính chung tuần qua (17 - 21/3), tỷ giá trung tâm được điều chỉnh giảm hai phiên đầu tuần rồi tăng trở lại. Chốt ngày 21/3, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 24.813 VND/USD, tăng 19 đồng so với phiên cuối tuần trước đó, thấp hơn mức tăng tuần trước (tăng 25 đồng) và cũng thấp hơn mức điều chỉnh mạnh trong tháng 02/2025.

Tại nhiều ngân hàng thương mại, giá USD bán ra tăng khoảng 40 VND/USD, cao hơn mức 10 VND/USD tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua cũng biến động hơn tuần trước. Chốt phiên 21/3, tỷ giá tự do tăng 130 đồng ở chiều mua vào và 170 đồng chiều bán ra, cao hơn đáng kể so với chốt phiên cuối tuần trước, chỉ lần lượt ở mức 30 đồng và 20 đồng.

Trong khi đó, chỉ số DXY đứt đà tăng nhiều tháng liên tiếp khi đối mặt với nhiều sự bất ổn về chính sách cũng như các dữ liệu kinh tế không quá tích cực. Khởi đầu tháng 02/2025 ở mức 109 điểm, chỉ số DXY đã duy trì xu hướng giảm.

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/3: Tỷ giá lập đỉnh mới, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm
Sức ép tỷ giá vẫn còn, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm. Ảnh tư liệu.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới công bố, Chứng khoán MBS cho rằng, một yếu tố gây áp lực lên đồng USD trong tháng là chính sách thuế quan. Kể từ đầu tháng 2, chính quyền Mỹ liên tục công bố các mức thuế mới gần như mỗi tuần, đồng USD vẫn giảm 2,4% trong tháng. Qua đó dường như cho thấy thị trường đã rơi vào trạng thái "mệt mỏi với thuế quan", khi các phản ứng không còn mạnh mẽ như trong giai đoạn hậu bầu cử.

"Tỷ giá biến động mạnh mẽ trong suốt tháng 2 dưới áp lực từ nhiều yếu tố. Về các yếu tố bên ngoài, mặc dù đồng USD suy yếu trong kỳ nhưng vẫn đang dao động ở ngưỡng cao nên vẫn gây ra áp lực nhất định lên tỷ giá hối đoái. Cùng với đó, tỷ giá cũng phải chịu áp lực từ nhu cầu ngoại tệ trong nước gia tăng khi các doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu tư liệu sản xuất" - nhóm phân tích đánh giá.

Theo số liệu của Cục Thống kê, Việt Nam trong tháng 02 đã ghi nhận thâm hụt thương mại lần đầu tiên kể từ tháng 5/2024, với kim ngạch nhập khẩu tăng 40% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, trong tháng cũng có 3 đợt chào mua USD của một đơn vị từ các ngân hàng thương mại, với tổng trị giá lên đến 500 triệu USD cũng đã phần nào khiến nguồn cung ngoại tệ càng bị thắt chặt và gây thêm áp lực lên tỷ giá.

Trong bối cảnh này, NHNN đã can thiệp bằng cách liên tục tăng tỷ giá trung tâm, kéo theo trần tỷ giá được nới rộng. Nhà điều hành đã tăng mạnh giá bán USD can thiệp lần đầu tiên kể từ cuối tháng 10/2024 và liên tục thả nổi giá bán USD theo tỷ giá trung tâm khi duy trì ở mức thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần mà các ngân hàng được phép giao dịch.

Động thái này cho thấy tín hiệu về việc NHNN đang chấp nhận một mức biến động tỷ giá mạnh hơn nhằm giảm bớt áp lực lên dự trữ ngoại hối sau khi phải bán ra hơn 9 tỷ USD trong năm vừa qua.

Lãi suất liên ngân hàng sụt giảm

Trên thị trường mở tuần qua từ 17 - 21/3, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 91 ngày, lãi suất đều ở mức 4%. Trong tuần, có 70.842,65 tỷ đồng trúng thầu và có 76.252,16 tỷ đồng đáo hạn qua kênh cầm cố. NHNN vẫn dừng kênh tín phiếu.

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/3: Tỷ giá lập đỉnh mới, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm
Lãi suất VND liên ngân hàng các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống sụt giảm, NHNN kiên định về việc ổn định lãi suất. Ảnh tư liệu.

Như vậy, NHNN hút ròng nhẹ 5.409,51 tỷ đồng khỏi thị trường trong tuần bằng kênh thị trường mở; trong đó, hai phiên cuối tuần bơm ròng trên 15,5 nghìn tỷ đồng, trái ngược với 3 phiên đầu tuần hút ròng gần 21 nghìn tỷ đồng. Có 80.849,26 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Lãi suất VND liên ngân hàng các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống sụt giảm so với tuần trước đó. Tính đến ngày 20/03, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch ở mức: qua đêm xuống dưới mức 4%, còn 3,97% (-0,42 điểm phần trăm); 1 tuần 4,1% (-0,36 điểm phần trăm); 2 tuần 4,31% (-0,25 điểm phần trăm). Tuy nhiên, kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ 0,14 điểm phần trăm, lên 4,36%.

Theo nhóm phân tích của MBS, dư địa cho chính sách tiền tệ của Việt Nam sẽ bị hạn chế hơn so với dự kiến dưới áp lực của đồng USD mạnh lên và rủi ro về việc Mỹ tiếp tục thực hiện các cuộc điều tra về thao túng tiền tệ.

Trong kịch bản đó, NHNN có thể sẽ cần áp dụng một lập trường chính sách tiền tệ thận trọng hơn để kiểm soát sự ổn định của tỷ giá, đồng nghĩa với dư địa cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ có thể bị hạn chế.

Cùng với đó, sự phục hồi của hoạt động sản xuất và việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công trong năm 2025 được kỳ vọng sẽ là yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, qua đó sẽ gia tăng áp lực lên lãi suất đầu vào. Tuy vậy, NHNN đã đưa ra chỉ đạo về việc ổn định lãi suất huy động và tiếp tục phấn đấu giảm lãi suất cho vay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

(TBTCO) - Hành trình tăng trưởng bền bỉ tiếp tục đưa VBI giữ vững Top 3 Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ uy tín năm 2026. Với doanh thu 6 tháng đầu năm gần chạm mốc 3.500 tỷ đồng, VBI không chỉ mở rộng quy mô, mà còn đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển sản phẩm lấy khách hàng làm trung tâm, sẵn sàng đón đầu chu kỳ tăng trưởng mới của thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì đà tăng lên hơn 4.240 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước cũng ghi nhận diễn biến tích cực khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá.
MB bứt tốc hướng tới lợi nhuận 39.500 tỷ đồng, không ngại đặt mục tiêu lớn để tạo động lực phát triển nhanh hơn

MB bứt tốc hướng tới lợi nhuận 39.500 tỷ đồng, không ngại đặt mục tiêu lớn để tạo động lực phát triển nhanh hơn

(TBTCO) - Giữa bối cảnh kinh tế và thị trường tài chính nhiều biến động, MB ghi nhận nhiều chỉ tiêu kinh doanh tích cực, báo lãi trước thuế 20,2 nghìn tỷ đồng, lọt top 3 toàn ngành và tự tin hoàn thành mục tiêu 39,5 nghìn tỷ đồng cả năm. Ngân hàng hướng tới tăng trưởng tín dụng và huy động 30 - 35% trong nửa cuối năm, bứt tốc trong 3 năm tới và thu hẹp khoảng cách với nhóm "big 4".
Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
Giá vàng hôm nay ngày 6/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 150 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 2,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 6/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 150 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 2,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 150 USD/ounce lên ngưỡng 4.247 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt được điều chỉnh tăng, với mức cao nhất lên tới 2,8 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,900
Hà Nội - PNJ 140,000 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,900
Miền Tây - PNJ 140,000 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,400
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 09/08/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18254 18833
CAD 18254 18530 19155
CHF 31764 32145 32806
CNY 0 3840 3940
EUR 29646 29868 30949
GBP 34531 34923 35875
HKD 0 3208 3411
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15128 15714
SGD 19945 20227 20812
THB 707 771 825
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 09/08/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80