Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/3: Tỷ giá lập đỉnh mới, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tuần qua (17 - 21/3), tỷ giá trung tâm tăng 19 đồng so với phiên cuối tuần trước đó, niêm yết ở mức 24.813 VND/USD, đánh dấu mức cao kỷ lục mới. Ngân hàng Nhà nước cũng nâng giá bán USD tham khảo lên 26.003 VND/USD, lần đầu tiên vượt ngưỡng 26.000 VND/USD.
aa
Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm Cân bằng các sức ép, tỷ giá và lãi suất sẽ sớm ổn định Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ngày 21/3, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 24.813 VND/USD, tăng 6 đồng so với hôm trước, đánh dấu mức cao kỷ lục mới. Với biên độ dao động 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong khoảng 23.572 - 26.054 VND/USD. Đồng thời, NHNN cũng nâng giá bán USD tham khảo lên 26.003 VND/USD, lần đầu tiên vượt ngưỡng 26.000 VND.

Đồng USD suy yếu, tỷ giá vẫn đối diện áp lực

Tại các ngân hàng thương mại, giá USD mua vào dao động từ 25.350 - 25.380 VND/USD, trong khi giá bán ra nằm trong khoảng 25.740 - 25.760 VND/USD. So với cuối tuần trước, giá USD tại các ngân hàng đã tăng khoảng 50 đồng, tiến sát mức đỉnh 25.780 đồng/USD được ghi nhận vào đầu tháng 3.

Trên thị trường tự do, giá USD được giao dịch ở mức 25.870 - 25.970 VND/USD (mua - bán). Từ đầu tuần đến nay, giá USD trên thị trường tự do tăng khoảng 150 đồng, tiến gần đến mức đỉnh 26.000 VND/USD ghi nhận vào cuối tháng 6/2024.

"Mệt mỏi với thuế quan", chỉ số DXY suy yếu

Mặc dù đồng bạc xanh đã suy yếu trên thị trường quốc tế kể từ giữa tháng 1/2025, tỷ giá USD/VND trong nước vẫn duy trì xu hướng tăng. Hiện chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của đồng USD so với các đồng tiền chủ chốt, dao động quanh mức 104 điểm, giảm gần 4% so với cuối năm 2024.

Tính chung tuần qua (17 - 21/3), tỷ giá trung tâm được điều chỉnh giảm hai phiên đầu tuần rồi tăng trở lại. Chốt ngày 21/3, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 24.813 VND/USD, tăng 19 đồng so với phiên cuối tuần trước đó, thấp hơn mức tăng tuần trước (tăng 25 đồng) và cũng thấp hơn mức điều chỉnh mạnh trong tháng 02/2025.

Tại nhiều ngân hàng thương mại, giá USD bán ra tăng khoảng 40 VND/USD, cao hơn mức 10 VND/USD tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua cũng biến động hơn tuần trước. Chốt phiên 21/3, tỷ giá tự do tăng 130 đồng ở chiều mua vào và 170 đồng chiều bán ra, cao hơn đáng kể so với chốt phiên cuối tuần trước, chỉ lần lượt ở mức 30 đồng và 20 đồng.

Trong khi đó, chỉ số DXY đứt đà tăng nhiều tháng liên tiếp khi đối mặt với nhiều sự bất ổn về chính sách cũng như các dữ liệu kinh tế không quá tích cực. Khởi đầu tháng 02/2025 ở mức 109 điểm, chỉ số DXY đã duy trì xu hướng giảm.

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/3: Tỷ giá lập đỉnh mới, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm
Sức ép tỷ giá vẫn còn, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm. Ảnh tư liệu.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới công bố, Chứng khoán MBS cho rằng, một yếu tố gây áp lực lên đồng USD trong tháng là chính sách thuế quan. Kể từ đầu tháng 2, chính quyền Mỹ liên tục công bố các mức thuế mới gần như mỗi tuần, đồng USD vẫn giảm 2,4% trong tháng. Qua đó dường như cho thấy thị trường đã rơi vào trạng thái "mệt mỏi với thuế quan", khi các phản ứng không còn mạnh mẽ như trong giai đoạn hậu bầu cử.

"Tỷ giá biến động mạnh mẽ trong suốt tháng 2 dưới áp lực từ nhiều yếu tố. Về các yếu tố bên ngoài, mặc dù đồng USD suy yếu trong kỳ nhưng vẫn đang dao động ở ngưỡng cao nên vẫn gây ra áp lực nhất định lên tỷ giá hối đoái. Cùng với đó, tỷ giá cũng phải chịu áp lực từ nhu cầu ngoại tệ trong nước gia tăng khi các doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu tư liệu sản xuất" - nhóm phân tích đánh giá.

Theo số liệu của Cục Thống kê, Việt Nam trong tháng 02 đã ghi nhận thâm hụt thương mại lần đầu tiên kể từ tháng 5/2024, với kim ngạch nhập khẩu tăng 40% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, trong tháng cũng có 3 đợt chào mua USD của một đơn vị từ các ngân hàng thương mại, với tổng trị giá lên đến 500 triệu USD cũng đã phần nào khiến nguồn cung ngoại tệ càng bị thắt chặt và gây thêm áp lực lên tỷ giá.

Trong bối cảnh này, NHNN đã can thiệp bằng cách liên tục tăng tỷ giá trung tâm, kéo theo trần tỷ giá được nới rộng. Nhà điều hành đã tăng mạnh giá bán USD can thiệp lần đầu tiên kể từ cuối tháng 10/2024 và liên tục thả nổi giá bán USD theo tỷ giá trung tâm khi duy trì ở mức thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần mà các ngân hàng được phép giao dịch.

Động thái này cho thấy tín hiệu về việc NHNN đang chấp nhận một mức biến động tỷ giá mạnh hơn nhằm giảm bớt áp lực lên dự trữ ngoại hối sau khi phải bán ra hơn 9 tỷ USD trong năm vừa qua.

Lãi suất liên ngân hàng sụt giảm

Trên thị trường mở tuần qua từ 17 - 21/3, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 91 ngày, lãi suất đều ở mức 4%. Trong tuần, có 70.842,65 tỷ đồng trúng thầu và có 76.252,16 tỷ đồng đáo hạn qua kênh cầm cố. NHNN vẫn dừng kênh tín phiếu.

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/3: Tỷ giá lập đỉnh mới, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm
Lãi suất VND liên ngân hàng các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống sụt giảm, NHNN kiên định về việc ổn định lãi suất. Ảnh tư liệu.

Như vậy, NHNN hút ròng nhẹ 5.409,51 tỷ đồng khỏi thị trường trong tuần bằng kênh thị trường mở; trong đó, hai phiên cuối tuần bơm ròng trên 15,5 nghìn tỷ đồng, trái ngược với 3 phiên đầu tuần hút ròng gần 21 nghìn tỷ đồng. Có 80.849,26 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Lãi suất VND liên ngân hàng các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống sụt giảm so với tuần trước đó. Tính đến ngày 20/03, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch ở mức: qua đêm xuống dưới mức 4%, còn 3,97% (-0,42 điểm phần trăm); 1 tuần 4,1% (-0,36 điểm phần trăm); 2 tuần 4,31% (-0,25 điểm phần trăm). Tuy nhiên, kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ 0,14 điểm phần trăm, lên 4,36%.

Theo nhóm phân tích của MBS, dư địa cho chính sách tiền tệ của Việt Nam sẽ bị hạn chế hơn so với dự kiến dưới áp lực của đồng USD mạnh lên và rủi ro về việc Mỹ tiếp tục thực hiện các cuộc điều tra về thao túng tiền tệ.

Trong kịch bản đó, NHNN có thể sẽ cần áp dụng một lập trường chính sách tiền tệ thận trọng hơn để kiểm soát sự ổn định của tỷ giá, đồng nghĩa với dư địa cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ có thể bị hạn chế.

Cùng với đó, sự phục hồi của hoạt động sản xuất và việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công trong năm 2025 được kỳ vọng sẽ là yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, qua đó sẽ gia tăng áp lực lên lãi suất đầu vào. Tuy vậy, NHNN đã đưa ra chỉ đạo về việc ổn định lãi suất huy động và tiếp tục phấn đấu giảm lãi suất cho vay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17639 17912 18484
CAD 17963 18238 18853
CHF 31808 32189 32831
CNY 0 3830 3923
EUR 29298 29518 30596
GBP 33923 34313 35244
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14559 15146
SGD 19761 20043 20615
THB 705 768 821
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80