Cân bằng các sức ép, tỷ giá và lãi suất sẽ sớm ổn định

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong cuộc phỏng vấn với phóng viên TBTCVN, ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam cho rằng, dựa vào các số liệu kinh tế từ Mỹ, lãi suất USD sẽ được cắt giảm rất chậm, với mức cắt giảm khoảng 0,25% sớm nhất vào giữa năm. Điều này khiến tỷ giá USD/VND có thể đạt mức 26.000 VND vào quý II, quý III và giảm nhẹ vào cuối năm, mức biến động 2 - 3% này dựa trên những dự báo tổng thể tích cực.
aa
Cân bằng các sức ép, tỷ giá và lãi suất sẽ sớm ổn định
Theo giới phân tích, tỷ giá USD/VND chịu ảnh hưởng lớn từ các biến động kinh tế toàn cầu. Ảnh tư liệu

PV: Trong bối cảnh tỷ giá USD/VND biến động trong tháng 2/2025, nhà điều hành liên tục “thả nổi” giá bán USD cho các ngân hàng thương mại, thấp hơn 50 VND so với giá trần, thay vì neo cứng tỷ giá USD liên ngân hàng và bán quỹ dự trữ ngoại hối như giai đoạn trước đó. Ông đánh giá thế nào về công tác điều hành chính sách tỷ giá trong bối cảnh còn nhiều sức ép?

Cân bằng các sức ép, tỷ giá và lãi suất sẽ sớm ổn định
Ông Đinh Đức Quang

Ông Đinh Đức Quang: Trong những tuần đầu năm 2025, theo đánh giá của UOB, tỷ giá giao dịch USD/VND trên thị trường tiếp tục diễn biến bình thường, với các biến động tăng/giảm theo nhu cầu mua bán tùy từng thời điểm. Chúng tôi ghi nhận tỷ giá giao dịch trên thị trường quanh mức 25.400 - 25.500 VND/USD vào cuối năm 2024 và đến ngày 25/2/2025, tiếp tục được giao dịch quanh mức 25.450 - 25.550 VND/USD.

Tỷ giá bán niêm yết tại các ngân hàng thương mại có thể cao hơn một chút nhưng thường được áp dụng cho các giao dịch nhỏ lẻ, trong khi các khách hàng mua bán số lượng lớn vẫn tiếp tục được các ngân hàng chào giá cạnh tranh. Thị trường cũng có thông tin trạng thái ngoại hối tổng thể tại các ngân hàng thương mại đang có mức dương khá lớn, điều này cho thấy cung - cầu ngoại tệ đang ổn định.

Chúng tôi nhiều lần phân tích về chính sách quản lý ngoại hối của cơ quan quản lý, trong đó, nhấn mạnh trọng tâm quản lý tỷ giá USD/VND ổn định trên cơ sở hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn, hỗ trợ xuất khẩu và phù hợp với diễn biến tỷ giá, lãi suất so với các đồng tiền từ các đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Cơ quan quản lý không cố định hay neo cứng tỷ giá này, vì Việt Nam đang tiến đến nền kinh tế thị trường, do vậy không có lý do gì để chúng ta cố định tỷ giá bằng cách luôn luôn sử dụng dự trữ ngoại hối can thiệp.

Ngoài công cụ bán can thiệp từ dự trữ ngoại hối, cơ quan quản lý còn nhiều cách thức và công cụ khác như lãi suất, can thiệp ngoại hối kỳ hạn và các giải pháp mang tính dài hạn như thu hút giải ngân FDI, FII, M&A…

Chúng tôi cũng ghi nhận tỷ giá USD/VND ổn định, tức là tiền đồng chưa lên giá so với USD trong vài tuần đầu năm 2025, trong khi một số đồng tiền khác trong khu vực (Rupie Indonesia, Yên Nhật, Won Hàn Quốc, Thái Bat, Đôla Singapore…) tăng khoảng 1 - 3% so với USD.

Dự báo biến động tỷ giá 2 - 3% nhờ những nhân tố tích cực

Với dự báo lãi suất USD có thể chỉ giảm từ nửa sau năm 2025, dự báo tỷ giá USD/VND có thể đạt mức 26.000 VND vào quý II, quý III và sẽ giảm nhẹ vào cuối năm 2025. Mức biến động 2-3% này dựa trên tổng thể tích cực từ dự báo Việt Nam tiếp tục có được thặng dư thương mại, thu hút đầu tư FDI, vốn vay nước ngoài, nguồn thu kiều hối và nguồn thu ngoại tệ từ khách du lịch quốc tế.

Điều này phù hợp với các báo cáo phân tích trước đó của chúng tôi với nhận định Việt Nam (kinh tế, đồng tiền…) vẫn tiếp tục chịu áp lực trước các chính sách thương mại khó đoán định từ Mỹ trong năm 2025, trong khi Việt Nam thuộc các quốc gia có thặng dư thương mại lớn từ Mỹ và tăng trưởng của chúng ta dựa rất lớn vào hoạt động thương mại quốc tế.

Một diễn biến khác cũng cần chú ý là các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng trên thị trường chứng khoán cho thấy, chúng ta cần tiếp tục có các giải pháp mạnh mẽ để giải quyết bài toán này.

PV: Theo ông, từ góc độ quốc tế, nhân tố nào khiến căng thẳng tỷ giá vẫn tiếp diễn năm 2025 và khiến Ngân hàng UOB từng dự báo tỷ giá USD/VND có thể lên tới 26.000 VND trước khi quay đầu giảm?

Ông Đinh Đức Quang: Dựa vào các số liệu kinh tế từ Mỹ, chúng tôi tiếp tục giữ quan điểm rằng lãi suất USD sẽ được cắt giảm rất chậm trong năm 2025, với mức cắt giảm khoảng 0,25% sớm nhất vào giữa năm 2025. Như vậy, mặt bằng chung lãi suất USD sẽ tiếp tục ở mức cao quanh mức 4%. Đây là mức lợi tức hấp dẫn cho một đồng tiền dự trữ quốc tế với mức độ an toàn và thanh khoản rất cao.

Chính quyền mới tại Mỹ đang đề cập nhiều đến các biện pháp thuế quan, tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy điều này vẫn đang ở mức độ thăm dò nhằm mục đích đẩy nhanh các đàm phán thương mại trên cơ sở các bên đều có lợi. Biện pháp áp thuế cao vẫn có tác dụng ngược, khi làm tăng giá cả hàng hóa, qua đó, gây áp lực lên lạm phát tại Mỹ làm chậm đi mong muốn cắt giảm lãi suất mạnh mẽ hơn. Chính quyền mới cũng nhiều lần đưa ra quan điểm ủng hộ chính sách lãi suất USD thấp hơn (đồng USD yếu hơn) để thúc đẩy tiêu dùng, thị trường nhà ở và xuất khẩu.

Kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng ổn định và vượt trội so với phần còn lại (EU, Nhật Bản, Trung Quốc…) trong khi lạm phát tại Mỹ vẫn chưa giảm xuống mức thấp như kỳ vọng. Đây là các yếu tố then chốt để cơ quan quản lý tại Mỹ cân nhắc khi nào cắt giảm lãi suất chính sách.

Khi thị trường Mỹ chưa thực sự bắt đầu nới lỏng tiền tệ thì các thị trường còn lại sẽ chưa thể mạnh tay cắt giảm lãi suất. Tất cả các thị trường trên thế giới đều cố gắng giữ dòng vốn USD ở lại thị trường mình trong tổng thể cân bằng các yếu tố lợi tức từ lãi suất và tỷ giá; Việt Nam không nằm ngoài tổng thể đó.

PV: Ông đưa ra lời khuyên thế nào với doanh nghiệp khi tỷ giá USD/VND biến động khó dự đoán như hiện nay?

Ông Đinh Đức Quang: Một lần nữa chúng tôi nhấn mạnh quan điểm từ cơ quan quản lý với mục tiêu ổn định lãi suất, tỷ giá nhưng không cố định hay neo cứng, vì kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng theo hướng kinh tế thị trường vốn rất cần sự linh hoạt.

Do vậy, giải pháp tốt nhất chúng tôi cũng khuyến nghị đến các doanh nghiệp là việc quản lý dòng tiền chặt chẽ. Trên cơ sở có được kế hoạch sử dụng dòng tiền, dòng vốn chi tiết, các ngân hàng và doanh nghiệp hoàn toàn có thể xây dựng được kế hoạch huy động vốn, chuyển đổi ngoại tệ đúng thời điểm có lợi nhất.

Chúng tôi cũng khuyến nghị các doanh nghiệp xây dựng quy chế tài chính chi tiết hóa việc sử dụng các sản phẩm, công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, lãi suất một cách hợp lý để tối ưu hóa quá trình vận hành hoạt động kinh doanh, đầu tư của mình.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80