Nợ xấu tăng hơn 19%, ngân hàng gia cố “lá chắn” rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đến cuối quý III/2025, tổng nợ xấu (nhóm 3 - 5) của các ngân hàng niêm yết đạt khoảng 274.050 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cuối năm 2024, tương ứng thêm 44.000 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng mất vốn chiếm hơn 50%. Dù vậy, đà tăng nợ xấu chậm lại sau quý đầu năm, ba ngân hàng ghi nhận giảm nợ xấu, cùng phần lớn tăng trích lập dự phòng củng cố “bộ đệm” chống rủi ro.
aa

Nợ xấu tăng hơn 44.000 tỷ đồng sau 9 tháng, nợ nhóm 5 chiếm trên 50%

Theo khảo sát của phóng viên, đến cuối quý III/2025, tổng nợ xấu (nhóm 3 - 5) của 27 ngân hàng niêm yết đạt khoảng 274.050 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cuối năm 2024, tương ứng tăng thêm 44.004 tỷ đồng trong 9 tháng 2025. Tốc độ phình to của nợ xấu cao hơn tăng trưởng cho vay khách hàng (15%), phản ánh chất lượng tín dụng toàn ngành vẫn chịu áp lực, dù tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức tích cực.

Cụ thể, quý I/2025 ghi nhận đợt tăng mạnh nhất khi nợ xấu tăng 15,4% so với cuối năm 2024, đạt hơn 265.500 tỷ đồng, chủ yếu do các khoản nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) cùng tăng mạnh hai chữ số.

Nợ xấu tăng hơn 19%, ngân hàng gia cố “lá chắn” rủi ro
Dù tăng trưởng tích cực, song chất lượng tín dụng vẫn chịu áp lực vì nợ xấu. Ảnh: Dũng Minh

Sang quý II/2025, quy mô nợ xấu chỉ nhích thêm 1,2% so với quý trước, trong khi dư nợ cho vay tăng 6,6%, giúp tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm nhẹ.

Đến quý III, nợ xấu tăng thêm 2,3% so với quý II, nhưng dư nợ mở rộng thêm 4,6% khiến tỷ lệ nợ xấu nhóm ngân hàng niêm yết duy trì quanh 2%, thấp hơn con số 2,2% quý I.

Xét về cơ cấu, nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng nhanh nhất, từ 53.435 tỷ đồng cuối năm 2024 lên 72.407 tỷ đồng cuối quý III/2025, tương đương tăng 35,5%, cho thấy nhiều khoản vay đang có dấu hiệu chuyển nhóm có rủi ro mất vốn.

Đáng chú ý, đến cuối quý III/2025, nợ nhóm 5 - các khoản nợ có khả năng mất vốn tiếp tục tăng 11,7% so với cuối năm 2024 và vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 54% tổng nợ xấu toàn ngành. Trong số 27 ngân hàng được khảo sát, có tới 9 ngân hàng ghi nhận tỷ trọng nợ nhóm 5 vượt 70%, gồm cả nhóm "big 4", cho thấy rủi ro mất vốn vẫn ở mức cao và tập trung tại một số tổ chức tín dụng.

Tựu trung, nợ xấu toàn ngành ngân hàng nhích lên qua các quý trong năm 2025, nhưng tốc độ tăng chậm dần. Tuy vậy, nợ nghi ngờ tăng cao cảnh báo nguy cơ hình thành nợ mất vốn mới nếu môi trường kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp không được cải thiện trong các quý tới.

Nhiều ngân hàng"ngược dòng", củng cố chất lượng tín dụng

Trong bối cảnh toàn ngành nợ xấu các ngân hàng vẫn nhích tăng, vẫn có những trường hợp kiểm soát tốt chất lượng tín dụng. Điển hình là ba ngân hàng: NCB ghi nhận tổng nợ xấu giảm mạnh 37,7% so với cuối năm 2024, tương đương giảm hơn 5.200 tỷ đồng; ABBank giảm 23,3% (khoảng 860 tỷ đồng); còn ACB giảm hơn 1.300 tỷ đồng, tương ứng 15,3%.

Theo đại diện NCB, kể từ khi có sự tham gia của đội ngũ quản trị và điều hành mới từ năm 2021, ngân hàng đã thực hiện tái thiết toàn diện, củng cố nội lực và xử lý dứt điểm các tồn đọng kéo dài. Năm 2025, NCB ghi nhận kết quả kinh doanh khả quan, trong đó, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ được kiểm soát chặt chẽ, đúng lộ trình theo phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt.

Nợ xấu mới giảm tốc, nhưng rủi ro vĩ mô vẫn cần theo dõi sát

"Tỷ lệ hình thành nợ xấu mới hình thành đạt đỉnh vào cuối năm 2023 và giảm dần qua các quý gần đây. Tỷ lệ nợ xấu giảm, tỷ lệ hình thành nợ xấu giảm, chất lượng tài sản đang cải thiện. Tuy nhiên, không thể bỏ qua rủi ro liên quan đến vĩ mô, đặc biệt là thuế quan, có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế trong quý IV/2024, điều này cần theo dõi sát sao" - ông Nguyễn Thanh Tùng - đại diện HSC nhìn nhận.

Song song với đó, NCB tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nợ và kiểm soát rủi ro tín dụng mới, ưu tiên cấp vốn cho khách hàng có năng lực tài chính minh bạch, hoạt động hiệu quả. Việc ứng dụng công nghệ trong quy trình tín dụng cũng được đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả thẩm định, giám sát và quản lý rủi ro. Nhờ đó, chất lượng tín dụng của NCB tiếp tục cải thiện tích cực, tỷ lệ nợ xấu với các khoản giải ngân mới duy trì dưới 1%.

Tương tự, chất lượng tài sản của ACB cải thiện rõ nét trong quý III/2025. Theo đại diện ACB, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng giảm còn 1,09%, thuộc nhóm thấp nhất ngành, thể hiện năng lực điều hành ổn định và quản trị rủi ro chủ động. Cùng với đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tăng thêm 9,2 điểm phần trăm so với quý trước, đạt 84%, đây là mức cao trong hệ thống. Tỷ lệ nợ nhóm 2 cũng được kiểm soát tốt ở 0,48%, cho thấy rủi ro tín dụng tiếp tục được kiềm chế.

Theo đánh giá của ông Nguyễn Thanh Tùng - Trưởng phòng Nghiên cứu ngành Dịch vụ Tài chính Công ty cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC), khi nhìn vào tỷ lệ nợ xấu của 14 ngân hàng trong phạm vi phân tích của HSC, có thể thấy, chất lượng tài sản dần cải thiện. Ngoại trừ năm 2023 có mức tăng nhẹ do tăng trưởng GDP chậm, đến năm 2024, tỷ lệ nợ xấu ổn định trở lại. Tỷ lệ nợ xấu tính thêm cả nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) đạt đỉnh vào quý II/2023 và có xu hướng giảm.

Việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 về cơ chế thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng vào Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/8/2025, cũng được kỳ vọng góp phần nâng cao chất lượng tín dụng toàn hệ thống, thông qua việc hoàn thiện khung pháp lý xử lý nợ xấu và cơ chế thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm hiệu quả hơn.

Theo FiinRatings, đây là một trong số ít nghị quyết được luật hóa, thể hiện quyết tâm của cơ quan quản lý trong việc chuyển cơ chế thí điểm thành quy định lâu dài, ổn định. Trên thực tế, cơ chế xử lý tài sản bảo đảm không qua tòa án được áp dụng từ lâu trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia. Chẳng hạn, tại Hong Kong, bên cho vay hoặc đơn vị quản lý tài sản có thể thu giữ, quản lý và trong một số trường hợp nhất định được phép bán tài sản thế chấp mà không cần khởi kiện ra tòa. Tại Úc, bên nhận bảo đảm cũng được quyền thu giữ tài sản thế chấp bằng bất kỳ phương thức hợp pháp nào, nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận bảo đảm.

Nhóm phân tích FiinRatings cho rằng, các quy định mới sẽ tiếp tục hỗ trợ mạnh nhóm ngân hàng quốc doanh và tư nhân lớn. Bởi nhóm ngân hàng này có quy mô vốn lớn, năng lực quản trị rủi ro tốt nên thích ứng nhanh với cơ chế xử lý nợ xấu. Tỷ lệ thu hồi nợ xấu của nhóm top 4 ngân hàng tư nhân tăng mạnh từ 8% năm 2016 lên 45% năm 2022, trong khi các ngân hàng quốc doanh cũng cải thiện đáng kể, từ 14% lên gần 39%. Ngược lại, các ngân hàng quy mô nhỏ gần như không hưởng lợi đáng kể, khi tỷ lệ thu hồi nợ xấu chỉ quanh 0 - 10% trong giai đoạn 2012 - 2025.

Tăng trích lập dự phòng, củng cố vững “lá chắn” rủi ro tín dụng

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, tính đến cuối quý III/2025, tổng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết đạt khoảng 230.000 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cuối năm 2024. Việc tăng trích lập diễn ra trong bối cảnh nợ xấu toàn ngành tiếp tục nhích lên, phản ánh xu hướng chủ động củng cố “bộ đệm” an toàn trước áp lực tín dụng.

Theo đó, Sacombank ghi nhận mức tăng dự phòng mạnh nhất, tăng 75,3% lên trên 15.500 tỷ đồng, cho thấy ngân hàng đang đẩy nhanh quá trình làm sạch bảng cân đối và xử lý nợ tồn đọng. Theo sau là VietABank (tăng 34,6%), Techcombank (tăng 31,4%), TPBank (tăng 30,5%), PGBank (tăng 28%)... đều tăng trích lập hai chữ số.

Ở chiều ngược lại, ACB (giảm 8,7%) giảm trích lập rõ rệt nhờ chất lượng tài sản cải thiện mạnh, tỷ lệ nợ xấu thấp và khả năng thu hồi nợ tốt, giúp giảm chi phí tín dụng; VIB cũng mạnh tay giảm dự phòng 14,4% còn gần 4.900 tỷ đồng.

Các ngân hàng duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100% gồm Vietcombank, VietinBank, Techcombank và BacABank, cho thấy năng lực tài chính vững và khả năng dự phòng rủi ro tốt để xử lý các khoản nợ xấu.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

(TBTCO) - Tại UBND phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với các đơn vị liên quan trao hỗ trợ nhân đạo số tiền 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân Cao Xuân Lực, trú tại TDP Sơn Hải, phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa.
Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 96/2026/TT-BTC, sửa đổi nhiều quy định về kinh doanh bảo hiểm. Điểm đáng chú ý là quy định mới về hoa hồng đại lý với bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí; cơ chế thưởng, hỗ trợ đại lý từ năm 2027; bổ sung nguyên tắc xác định phí bảo hiểm với xe điện, xe sử dụng năng lượng sạch...
Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm về 4.102 USD/ounce, mất gần 50 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá vàng, đưa giá bán vàng miếng về 150 triệu đồng/lượng.
BIDV sắp chốt ngày trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 4,5%, còn hơn 51.000 tỷ đồng "của để dành"

BIDV sắp chốt ngày trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 4,5%, còn hơn 51.000 tỷ đồng "của để dành"

(TBTCO) - BIDV dự kiến chi hơn 3.276 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt năm 2025 với tỷ lệ 4,5%, tương ứng 450 đồng/cổ phiếu. Tính đến cuối quý I/2026, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế của ngân hàng đạt 51.588 tỷ đồng. Song song với đó, BIDV triển khai các kế hoạch tăng vốn, hướng tới quy mô vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng.
"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

(TBTCO) - Trong bối cảnh tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm vẫn dưới 3%, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm/GDP thấp cho thấy "đại dương xanh" của thị trường bảo hiểm còn rất lớn. Chọn khai phá bằng bảo hiểm vi mô, Bảo hiểm Công nghệ Ngôi Nhà Xanh (NNX Insurance) đặt mục tiêu phục vụ 10 triệu khách hàng, đưa bảo hiểm đến gần hơn với người dân và hướng đến doanh thu phí lên tới 6.000 tỷ đồng vào năm 2030.
Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 4.166 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, với giá bán vàng miếng phổ biến ở mức 151 triệu đồng/lượng.
F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

(TBTCO) - F88 chính thức mở nhận đăng ký mua cổ phiếu trong đợt chào bán ra công chúng từ ngày 6/7, với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến huy động gần 1.564 tỷ đồng. Theo đánh giá, đợt phát hành không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực nợ vay, mà còn tạo điều kiện để F88 niêm yết trên HOSE ngay trong năm 2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▼150K 13,500 ▼150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼150K 13,450 ▼150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼150K 14,200 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼150K 14,150 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼150K 14,130 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
Hà Nội - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
Đà Nẵng - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
Miền Tây - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
Tây Nguyên - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▼100K 14,800 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▼100K 14,800 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▼100K 14,800 ▼150K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 13,990 ▼150K 14,690 ▼150K
Trang sức 99.99 14,000 ▼150K 14,700 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1308K 14,852 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1308K 14,853 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 ▼15K 1,482 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 ▼15K 1,483 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 ▼15K 1,462 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,752 ▼1486K 144,752 ▼1486K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,011 ▼1425K 109,811 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,776 ▼1320K 99,576 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,541 ▼1215K 89,341 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,593 ▼1175K 85,393 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,321 ▼926K 61,121 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Cập nhật: 08/07/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17669 17942 18519
CAD 18027 18302 18918
CHF 31898 32279 32924
CNY 0 3826 3920
EUR 29363 29583 30664
GBP 34282 34673 35611
HKD 0 3223 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14672 15262
SGD 19778 20060 20636
THB 701 764 817
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,487 29,511 30,896
JPY 157.57 157.85 167.23
GBP 34,483 34,576 35,739
AUD 17,898 17,963 18,625
CAD 18,170 18,228 18,886
CHF 32,115 32,215 33,130
SGD 19,911 19,973 20,738
CNY - 3,796 3,939
HKD 3,286 3,296 3,431
KRW 15.98 16.66 18.11
THB 750.6 759.87 812.86
NZD 14,626 14,762 15,184
SEK - 2,666 2,759
DKK - 3,945 4,080
NOK - 2,638 2,729
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,019.89 - 6,790.15
TWD 738.34 - 893.69
SAR - 6,885.36 7,246.7
KWD - 83,195 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,086 26,106 26,466
EUR 29,442 29,560 30,752
GBP 34,488 34,627 35,656
HKD 3,285 3,298 3,415
CHF 31,961 32,089 33,019
JPY 157.91 158.54 166.44
AUD 17,893 17,965 18,559
SGD 19,981 20,061 20,649
THB 768 771 807
CAD 18,185 18,258 18,828
NZD 14,707 15,246
KRW 16.60 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26074 26074 26466
AUD 17848 17948 18873
CAD 18221 18321 19332
CHF 32146 32176 33754
CNY 3806.9 3831.9 3967.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29546 29576 31301
GBP 34592 34642 36395
HKD 0 3355 0
JPY 158.38 158.88 169.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14780 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19943 20073 20799
THB 0 730.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,466
USD20 26,121 26,171 26,466
USD1 26,121 26,171 26,466
AUD 17,954 18,054 19,159
EUR 29,361 29,461 31,117
CAD 18,121 18,221 19,525
SGD 20,040 20,190 20,745
JPY 158.98 160.48 166.01
GBP 34,506 34,656 35,731
XAU 14,648,000 0 14,952,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/07/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80