Nợ xấu tăng hơn 19%, ngân hàng gia cố “lá chắn” rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đến cuối quý III/2025, tổng nợ xấu (nhóm 3 - 5) của các ngân hàng niêm yết đạt khoảng 274.050 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cuối năm 2024, tương ứng thêm 44.000 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng mất vốn chiếm hơn 50%. Dù vậy, đà tăng nợ xấu chậm lại sau quý đầu năm, ba ngân hàng ghi nhận giảm nợ xấu, cùng phần lớn tăng trích lập dự phòng củng cố “bộ đệm” chống rủi ro.
aa

Nợ xấu tăng hơn 44.000 tỷ đồng sau 9 tháng, nợ nhóm 5 chiếm trên 50%

Theo khảo sát của phóng viên, đến cuối quý III/2025, tổng nợ xấu (nhóm 3 - 5) của 27 ngân hàng niêm yết đạt khoảng 274.050 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cuối năm 2024, tương ứng tăng thêm 44.004 tỷ đồng trong 9 tháng 2025. Tốc độ phình to của nợ xấu cao hơn tăng trưởng cho vay khách hàng (15%), phản ánh chất lượng tín dụng toàn ngành vẫn chịu áp lực, dù tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức tích cực.

Cụ thể, quý I/2025 ghi nhận đợt tăng mạnh nhất khi nợ xấu tăng 15,4% so với cuối năm 2024, đạt hơn 265.500 tỷ đồng, chủ yếu do các khoản nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) cùng tăng mạnh hai chữ số.

Nợ xấu tăng hơn 19%, ngân hàng gia cố “lá chắn” rủi ro
Dù tăng trưởng tích cực, song chất lượng tín dụng vẫn chịu áp lực vì nợ xấu. Ảnh: Dũng Minh

Sang quý II/2025, quy mô nợ xấu chỉ nhích thêm 1,2% so với quý trước, trong khi dư nợ cho vay tăng 6,6%, giúp tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm nhẹ.

Đến quý III, nợ xấu tăng thêm 2,3% so với quý II, nhưng dư nợ mở rộng thêm 4,6% khiến tỷ lệ nợ xấu nhóm ngân hàng niêm yết duy trì quanh 2%, thấp hơn con số 2,2% quý I.

Xét về cơ cấu, nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng nhanh nhất, từ 53.435 tỷ đồng cuối năm 2024 lên 72.407 tỷ đồng cuối quý III/2025, tương đương tăng 35,5%, cho thấy nhiều khoản vay đang có dấu hiệu chuyển nhóm có rủi ro mất vốn.

Đáng chú ý, đến cuối quý III/2025, nợ nhóm 5 - các khoản nợ có khả năng mất vốn tiếp tục tăng 11,7% so với cuối năm 2024 và vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 54% tổng nợ xấu toàn ngành. Trong số 27 ngân hàng được khảo sát, có tới 9 ngân hàng ghi nhận tỷ trọng nợ nhóm 5 vượt 70%, gồm cả nhóm "big 4", cho thấy rủi ro mất vốn vẫn ở mức cao và tập trung tại một số tổ chức tín dụng.

Tựu trung, nợ xấu toàn ngành ngân hàng nhích lên qua các quý trong năm 2025, nhưng tốc độ tăng chậm dần. Tuy vậy, nợ nghi ngờ tăng cao cảnh báo nguy cơ hình thành nợ mất vốn mới nếu môi trường kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp không được cải thiện trong các quý tới.

Nhiều ngân hàng"ngược dòng", củng cố chất lượng tín dụng

Trong bối cảnh toàn ngành nợ xấu các ngân hàng vẫn nhích tăng, vẫn có những trường hợp kiểm soát tốt chất lượng tín dụng. Điển hình là ba ngân hàng: NCB ghi nhận tổng nợ xấu giảm mạnh 37,7% so với cuối năm 2024, tương đương giảm hơn 5.200 tỷ đồng; ABBank giảm 23,3% (khoảng 860 tỷ đồng); còn ACB giảm hơn 1.300 tỷ đồng, tương ứng 15,3%.

Theo đại diện NCB, kể từ khi có sự tham gia của đội ngũ quản trị và điều hành mới từ năm 2021, ngân hàng đã thực hiện tái thiết toàn diện, củng cố nội lực và xử lý dứt điểm các tồn đọng kéo dài. Năm 2025, NCB ghi nhận kết quả kinh doanh khả quan, trong đó, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ được kiểm soát chặt chẽ, đúng lộ trình theo phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt.

Nợ xấu mới giảm tốc, nhưng rủi ro vĩ mô vẫn cần theo dõi sát

"Tỷ lệ hình thành nợ xấu mới hình thành đạt đỉnh vào cuối năm 2023 và giảm dần qua các quý gần đây. Tỷ lệ nợ xấu giảm, tỷ lệ hình thành nợ xấu giảm, chất lượng tài sản đang cải thiện. Tuy nhiên, không thể bỏ qua rủi ro liên quan đến vĩ mô, đặc biệt là thuế quan, có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế trong quý IV/2024, điều này cần theo dõi sát sao" - ông Nguyễn Thanh Tùng - đại diện HSC nhìn nhận.

Song song với đó, NCB tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nợ và kiểm soát rủi ro tín dụng mới, ưu tiên cấp vốn cho khách hàng có năng lực tài chính minh bạch, hoạt động hiệu quả. Việc ứng dụng công nghệ trong quy trình tín dụng cũng được đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả thẩm định, giám sát và quản lý rủi ro. Nhờ đó, chất lượng tín dụng của NCB tiếp tục cải thiện tích cực, tỷ lệ nợ xấu với các khoản giải ngân mới duy trì dưới 1%.

Tương tự, chất lượng tài sản của ACB cải thiện rõ nét trong quý III/2025. Theo đại diện ACB, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng giảm còn 1,09%, thuộc nhóm thấp nhất ngành, thể hiện năng lực điều hành ổn định và quản trị rủi ro chủ động. Cùng với đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tăng thêm 9,2 điểm phần trăm so với quý trước, đạt 84%, đây là mức cao trong hệ thống. Tỷ lệ nợ nhóm 2 cũng được kiểm soát tốt ở 0,48%, cho thấy rủi ro tín dụng tiếp tục được kiềm chế.

Theo đánh giá của ông Nguyễn Thanh Tùng - Trưởng phòng Nghiên cứu ngành Dịch vụ Tài chính Công ty cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC), khi nhìn vào tỷ lệ nợ xấu của 14 ngân hàng trong phạm vi phân tích của HSC, có thể thấy, chất lượng tài sản dần cải thiện. Ngoại trừ năm 2023 có mức tăng nhẹ do tăng trưởng GDP chậm, đến năm 2024, tỷ lệ nợ xấu ổn định trở lại. Tỷ lệ nợ xấu tính thêm cả nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) đạt đỉnh vào quý II/2023 và có xu hướng giảm.

Việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 về cơ chế thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng vào Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/8/2025, cũng được kỳ vọng góp phần nâng cao chất lượng tín dụng toàn hệ thống, thông qua việc hoàn thiện khung pháp lý xử lý nợ xấu và cơ chế thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm hiệu quả hơn.

Theo FiinRatings, đây là một trong số ít nghị quyết được luật hóa, thể hiện quyết tâm của cơ quan quản lý trong việc chuyển cơ chế thí điểm thành quy định lâu dài, ổn định. Trên thực tế, cơ chế xử lý tài sản bảo đảm không qua tòa án được áp dụng từ lâu trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia. Chẳng hạn, tại Hong Kong, bên cho vay hoặc đơn vị quản lý tài sản có thể thu giữ, quản lý và trong một số trường hợp nhất định được phép bán tài sản thế chấp mà không cần khởi kiện ra tòa. Tại Úc, bên nhận bảo đảm cũng được quyền thu giữ tài sản thế chấp bằng bất kỳ phương thức hợp pháp nào, nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận bảo đảm.

Nhóm phân tích FiinRatings cho rằng, các quy định mới sẽ tiếp tục hỗ trợ mạnh nhóm ngân hàng quốc doanh và tư nhân lớn. Bởi nhóm ngân hàng này có quy mô vốn lớn, năng lực quản trị rủi ro tốt nên thích ứng nhanh với cơ chế xử lý nợ xấu. Tỷ lệ thu hồi nợ xấu của nhóm top 4 ngân hàng tư nhân tăng mạnh từ 8% năm 2016 lên 45% năm 2022, trong khi các ngân hàng quốc doanh cũng cải thiện đáng kể, từ 14% lên gần 39%. Ngược lại, các ngân hàng quy mô nhỏ gần như không hưởng lợi đáng kể, khi tỷ lệ thu hồi nợ xấu chỉ quanh 0 - 10% trong giai đoạn 2012 - 2025.

Tăng trích lập dự phòng, củng cố vững “lá chắn” rủi ro tín dụng

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, tính đến cuối quý III/2025, tổng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết đạt khoảng 230.000 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cuối năm 2024. Việc tăng trích lập diễn ra trong bối cảnh nợ xấu toàn ngành tiếp tục nhích lên, phản ánh xu hướng chủ động củng cố “bộ đệm” an toàn trước áp lực tín dụng.

Theo đó, Sacombank ghi nhận mức tăng dự phòng mạnh nhất, tăng 75,3% lên trên 15.500 tỷ đồng, cho thấy ngân hàng đang đẩy nhanh quá trình làm sạch bảng cân đối và xử lý nợ tồn đọng. Theo sau là VietABank (tăng 34,6%), Techcombank (tăng 31,4%), TPBank (tăng 30,5%), PGBank (tăng 28%)... đều tăng trích lập hai chữ số.

Ở chiều ngược lại, ACB (giảm 8,7%) giảm trích lập rõ rệt nhờ chất lượng tài sản cải thiện mạnh, tỷ lệ nợ xấu thấp và khả năng thu hồi nợ tốt, giúp giảm chi phí tín dụng; VIB cũng mạnh tay giảm dự phòng 14,4% còn gần 4.900 tỷ đồng.

Các ngân hàng duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100% gồm Vietcombank, VietinBank, Techcombank và BacABank, cho thấy năng lực tài chính vững và khả năng dự phòng rủi ro tốt để xử lý các khoản nợ xấu.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80