Nợ xấu tăng hơn 19%, ngân hàng gia cố “lá chắn” rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đến cuối quý III/2025, tổng nợ xấu (nhóm 3 - 5) của các ngân hàng niêm yết đạt khoảng 274.050 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cuối năm 2024, tương ứng thêm 44.000 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng mất vốn chiếm hơn 50%. Dù vậy, đà tăng nợ xấu chậm lại sau quý đầu năm, ba ngân hàng ghi nhận giảm nợ xấu, cùng phần lớn tăng trích lập dự phòng củng cố “bộ đệm” chống rủi ro.
aa

Nợ xấu tăng hơn 44.000 tỷ đồng sau 9 tháng, nợ nhóm 5 chiếm trên 50%

Theo khảo sát của phóng viên, đến cuối quý III/2025, tổng nợ xấu (nhóm 3 - 5) của 27 ngân hàng niêm yết đạt khoảng 274.050 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cuối năm 2024, tương ứng tăng thêm 44.004 tỷ đồng trong 9 tháng 2025. Tốc độ phình to của nợ xấu cao hơn tăng trưởng cho vay khách hàng (15%), phản ánh chất lượng tín dụng toàn ngành vẫn chịu áp lực, dù tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức tích cực.

Cụ thể, quý I/2025 ghi nhận đợt tăng mạnh nhất khi nợ xấu tăng 15,4% so với cuối năm 2024, đạt hơn 265.500 tỷ đồng, chủ yếu do các khoản nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) cùng tăng mạnh hai chữ số.

Nợ xấu tăng hơn 19%, ngân hàng gia cố “lá chắn” rủi ro
Dù tăng trưởng tích cực, song chất lượng tín dụng vẫn chịu áp lực vì nợ xấu. Ảnh: Dũng Minh

Sang quý II/2025, quy mô nợ xấu chỉ nhích thêm 1,2% so với quý trước, trong khi dư nợ cho vay tăng 6,6%, giúp tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm nhẹ.

Đến quý III, nợ xấu tăng thêm 2,3% so với quý II, nhưng dư nợ mở rộng thêm 4,6% khiến tỷ lệ nợ xấu nhóm ngân hàng niêm yết duy trì quanh 2%, thấp hơn con số 2,2% quý I.

Xét về cơ cấu, nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng nhanh nhất, từ 53.435 tỷ đồng cuối năm 2024 lên 72.407 tỷ đồng cuối quý III/2025, tương đương tăng 35,5%, cho thấy nhiều khoản vay đang có dấu hiệu chuyển nhóm có rủi ro mất vốn.

Đáng chú ý, đến cuối quý III/2025, nợ nhóm 5 - các khoản nợ có khả năng mất vốn tiếp tục tăng 11,7% so với cuối năm 2024 và vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 54% tổng nợ xấu toàn ngành. Trong số 27 ngân hàng được khảo sát, có tới 9 ngân hàng ghi nhận tỷ trọng nợ nhóm 5 vượt 70%, gồm cả nhóm "big 4", cho thấy rủi ro mất vốn vẫn ở mức cao và tập trung tại một số tổ chức tín dụng.

Tựu trung, nợ xấu toàn ngành ngân hàng nhích lên qua các quý trong năm 2025, nhưng tốc độ tăng chậm dần. Tuy vậy, nợ nghi ngờ tăng cao cảnh báo nguy cơ hình thành nợ mất vốn mới nếu môi trường kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp không được cải thiện trong các quý tới.

Nhiều ngân hàng"ngược dòng", củng cố chất lượng tín dụng

Trong bối cảnh toàn ngành nợ xấu các ngân hàng vẫn nhích tăng, vẫn có những trường hợp kiểm soát tốt chất lượng tín dụng. Điển hình là ba ngân hàng: NCB ghi nhận tổng nợ xấu giảm mạnh 37,7% so với cuối năm 2024, tương đương giảm hơn 5.200 tỷ đồng; ABBank giảm 23,3% (khoảng 860 tỷ đồng); còn ACB giảm hơn 1.300 tỷ đồng, tương ứng 15,3%.

Theo đại diện NCB, kể từ khi có sự tham gia của đội ngũ quản trị và điều hành mới từ năm 2021, ngân hàng đã thực hiện tái thiết toàn diện, củng cố nội lực và xử lý dứt điểm các tồn đọng kéo dài. Năm 2025, NCB ghi nhận kết quả kinh doanh khả quan, trong đó, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ được kiểm soát chặt chẽ, đúng lộ trình theo phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt.

Nợ xấu mới giảm tốc, nhưng rủi ro vĩ mô vẫn cần theo dõi sát

"Tỷ lệ hình thành nợ xấu mới hình thành đạt đỉnh vào cuối năm 2023 và giảm dần qua các quý gần đây. Tỷ lệ nợ xấu giảm, tỷ lệ hình thành nợ xấu giảm, chất lượng tài sản đang cải thiện. Tuy nhiên, không thể bỏ qua rủi ro liên quan đến vĩ mô, đặc biệt là thuế quan, có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế trong quý IV/2024, điều này cần theo dõi sát sao" - ông Nguyễn Thanh Tùng - đại diện HSC nhìn nhận.

Song song với đó, NCB tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nợ và kiểm soát rủi ro tín dụng mới, ưu tiên cấp vốn cho khách hàng có năng lực tài chính minh bạch, hoạt động hiệu quả. Việc ứng dụng công nghệ trong quy trình tín dụng cũng được đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả thẩm định, giám sát và quản lý rủi ro. Nhờ đó, chất lượng tín dụng của NCB tiếp tục cải thiện tích cực, tỷ lệ nợ xấu với các khoản giải ngân mới duy trì dưới 1%.

Tương tự, chất lượng tài sản của ACB cải thiện rõ nét trong quý III/2025. Theo đại diện ACB, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng giảm còn 1,09%, thuộc nhóm thấp nhất ngành, thể hiện năng lực điều hành ổn định và quản trị rủi ro chủ động. Cùng với đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tăng thêm 9,2 điểm phần trăm so với quý trước, đạt 84%, đây là mức cao trong hệ thống. Tỷ lệ nợ nhóm 2 cũng được kiểm soát tốt ở 0,48%, cho thấy rủi ro tín dụng tiếp tục được kiềm chế.

Theo đánh giá của ông Nguyễn Thanh Tùng - Trưởng phòng Nghiên cứu ngành Dịch vụ Tài chính Công ty cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC), khi nhìn vào tỷ lệ nợ xấu của 14 ngân hàng trong phạm vi phân tích của HSC, có thể thấy, chất lượng tài sản dần cải thiện. Ngoại trừ năm 2023 có mức tăng nhẹ do tăng trưởng GDP chậm, đến năm 2024, tỷ lệ nợ xấu ổn định trở lại. Tỷ lệ nợ xấu tính thêm cả nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) đạt đỉnh vào quý II/2023 và có xu hướng giảm.

Việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 về cơ chế thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng vào Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/8/2025, cũng được kỳ vọng góp phần nâng cao chất lượng tín dụng toàn hệ thống, thông qua việc hoàn thiện khung pháp lý xử lý nợ xấu và cơ chế thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm hiệu quả hơn.

Theo FiinRatings, đây là một trong số ít nghị quyết được luật hóa, thể hiện quyết tâm của cơ quan quản lý trong việc chuyển cơ chế thí điểm thành quy định lâu dài, ổn định. Trên thực tế, cơ chế xử lý tài sản bảo đảm không qua tòa án được áp dụng từ lâu trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia. Chẳng hạn, tại Hong Kong, bên cho vay hoặc đơn vị quản lý tài sản có thể thu giữ, quản lý và trong một số trường hợp nhất định được phép bán tài sản thế chấp mà không cần khởi kiện ra tòa. Tại Úc, bên nhận bảo đảm cũng được quyền thu giữ tài sản thế chấp bằng bất kỳ phương thức hợp pháp nào, nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận bảo đảm.

Nhóm phân tích FiinRatings cho rằng, các quy định mới sẽ tiếp tục hỗ trợ mạnh nhóm ngân hàng quốc doanh và tư nhân lớn. Bởi nhóm ngân hàng này có quy mô vốn lớn, năng lực quản trị rủi ro tốt nên thích ứng nhanh với cơ chế xử lý nợ xấu. Tỷ lệ thu hồi nợ xấu của nhóm top 4 ngân hàng tư nhân tăng mạnh từ 8% năm 2016 lên 45% năm 2022, trong khi các ngân hàng quốc doanh cũng cải thiện đáng kể, từ 14% lên gần 39%. Ngược lại, các ngân hàng quy mô nhỏ gần như không hưởng lợi đáng kể, khi tỷ lệ thu hồi nợ xấu chỉ quanh 0 - 10% trong giai đoạn 2012 - 2025.

Tăng trích lập dự phòng, củng cố vững “lá chắn” rủi ro tín dụng

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, tính đến cuối quý III/2025, tổng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết đạt khoảng 230.000 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cuối năm 2024. Việc tăng trích lập diễn ra trong bối cảnh nợ xấu toàn ngành tiếp tục nhích lên, phản ánh xu hướng chủ động củng cố “bộ đệm” an toàn trước áp lực tín dụng.

Theo đó, Sacombank ghi nhận mức tăng dự phòng mạnh nhất, tăng 75,3% lên trên 15.500 tỷ đồng, cho thấy ngân hàng đang đẩy nhanh quá trình làm sạch bảng cân đối và xử lý nợ tồn đọng. Theo sau là VietABank (tăng 34,6%), Techcombank (tăng 31,4%), TPBank (tăng 30,5%), PGBank (tăng 28%)... đều tăng trích lập hai chữ số.

Ở chiều ngược lại, ACB (giảm 8,7%) giảm trích lập rõ rệt nhờ chất lượng tài sản cải thiện mạnh, tỷ lệ nợ xấu thấp và khả năng thu hồi nợ tốt, giúp giảm chi phí tín dụng; VIB cũng mạnh tay giảm dự phòng 14,4% còn gần 4.900 tỷ đồng.

Các ngân hàng duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100% gồm Vietcombank, VietinBank, Techcombank và BacABank, cho thấy năng lực tài chính vững và khả năng dự phòng rủi ro tốt để xử lý các khoản nợ xấu.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18557 18834 19410
CAD 18685 18963 19579
CHF 33040 33426 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30210 30484 31509
GBP 34791 35184 36118
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15915
SGD 20149 20432 20955
THB 730 793 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26212 26212 26382
AUD 18744 18844 19772
CAD 18867 18967 19982
CHF 33296 33326 34909
CNY 3823 3848 3983.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30397 30427 32152
GBP 35105 35155 36916
HKD 0 3355 0
JPY 163.33 163.83 174.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15440 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20310 20440 21168
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,174 26,224 26,382
USD20 26,174 26,224 26,382
USD1 26,174 26,224 26,382
AUD 18,784 18,884 19,991
EUR 30,538 30,538 31,947
CAD 18,810 18,910 20,217
SGD 20,381 20,531 21,485
JPY 163.8 165.3 169.83
GBP 34,970 35,320 36,195
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80