Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (31/3 - 4/4) cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng mạnh, lên 24.886 VND/USD, thiết lập mức cao nhất lịch sử, còn tỷ giá USD bán ra tại ngân hàng giảm nhẹ sau khi tăng vọt. Sự điều chỉnh này diễn ra trong bối cảnh áp lực từ thuế quan của Mỹ, tạo ra thế giằng co trong việc điều hành tỷ giá và lãi suất.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/3: Tỷ giá lập đỉnh mới, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/3: Tỷ giá leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ngày 4/4, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tăng vọt, ở mức 24.886 VND/USD, tăng 32 đồng so với phiên trước. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong khoảng 23.642 - 26.130 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được điều chỉnh tăng 30 đồng chiều mua và 34 đồng chiều bán so với phiên trước, hiện ở mức 23.692 - 26.080 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới, USD ngân hàng hạ nhiệt sau cú sốc

Ngược lại, tại các ngân hàng thương mại, nhiều đơn vị điều chỉnh giảm nhẹ sau khi tăng sốc phiên hôm qua. Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.570 - 25.960 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 20 đồng so với phiên trước đó ở cả hai chiều. BIDV cũng điều chỉnh giảm tỷ giá USD 35 đồng, xuống 25.600 - 25.960 VND/USD (mua vào - bán ra).

Đà tăng tỷ giá trung tâm chưa dừng lại

Về diễn biến trong tuần qua (31/3 - 4/4), tỷ giá trung tâm được điều chỉnh giảm hai phiên đầu tuần tổng cộng 8 đồng, song tăng mạnh 51 ba phiên cuối tuần. Tính chung, tỷ giá trung tâm tăng 43 đồng tuần qua, cao hơn mức tăng 30 đồng tuần trước và ở đỉnh cao lịch sử 24.886 VND/USD ngày 4/4.

Trên thị trường tự do, đồng USD được giao dịch ở mức 25.936 - 26.036 VND/USD, tăng 66 đồng cả hai chiều.

Tính chung tuần qua (31/3 - 4/4), tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD tăng khoảng 200 đồng chiều bán ra, trong khi tuần trước giữ nguyên. Đáng chú ý, ngày 3/4, các ngân hàng tăng mạnh giá USD bán ra, lên tới 160 đồng sau khi Mỹ công bố biểu thuế đối ứng với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua biến động ít hơn so với ngân hàng thương mại, song chiều bán ra vẫn tăng 76 đồng, đảo chiều so với xu hướng giảm tuần trước (giảm 10 đồng).

Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4:
Diễn biến tỷ giá USD/VND ba tháng qua. Nguồn: Topi.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo lường giá trị của đồng USD so với rổ 6 loại tiền tệ chính trên thế giới vẫn ở mức thấp trong vòng 6 tháng qua, hiện khoảng 102,03 điểm, giảm mạnh 9,4% so với đầu năm. Đồng USD bị bán tháo trên diện rộng khi giới đầu tư ồ ạt rút vốn khỏi thị trường chứng khoán Mỹ trong bối cảnh điều chỉnh mạnh trên toàn cầu.

Nhóm phân tích từ VPBankS đánh giá, sự sụt giảm xuất khẩu sang Mỹ sẽ kéo theo việc thu hẹp nguồn cung USD vào Việt Nam, trong khi nhu cầu nhập khẩu gia tăng lại làm tăng áp lực lên cầu ngoại tệ. Diễn biến này có thể tạo sức ép lên tỷ giá và khiến đồng VND chịu áp lực mất giá.

Trong bối cảnh đó, nếu NHNN lựa chọn can thiệp thông qua việc bán ra dự trữ ngoại hối, hiện ước tính tương đương khoảng 2,4 tháng nhập khẩu, thì tỷ giá USD/VND vẫn có khả năng tăng từ 3 - 5% trong năm 2025, dao động trong vùng 26.000 - 26.200 VND/USD.

Giằng co điều hành tỷ giá và lãi suất

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, việc Mỹ áp thuế quan lên đến 46% đối với hàng hóa từ Việt Nam là mức rất cao, gần sát ngưỡng tối đa 50%. Trong danh sách các quốc gia bị áp thuế, Việt Nam nằm trong nhóm cao nhất, chỉ sau Campuchia (49%), Lào (48%), Madagascar (47%), Trung Quốc phải chịu tổng mức thuế lên tới 54%.

Mức thuế này được coi là "cú sốc" đối với cộng đồng xuất nhập khẩu Việt Nam, khi trực tiếp làm suy giảm khả năng cạnh tranh của hàng Việt tại thị trường Mỹ. Hàng hóa Việt Nam sẽ khó đứng vững khi bị đánh thuế cao như vậy, trong khi nhiều sản phẩm từ các nước khác có chất lượng tương đương nhưng chịu mức thuế thấp hoặc không bị áp thuế, dẫn đến giá bán rẻ hơn.

Theo ông Hiếu, đây là mức thuế chưa từng có trong tiền lệ với Việt Nam, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt bị áp thuế lên đến hàng trăm phần trăm, còn lại thuế quan thông thường chỉ dao động khoảng 10 -15%.

Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4:
"Bão" thuế quan từ Mỹ đã đẩy tỷ giá lên đỉnh mới. Ảnh minh hoạ.

Hiện NHNN vẫn đang đẩy mạnh việc cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh thị trường mở (OMO). Theo đó, ở kênh cầm cố, phiên ngày 4/4, có 12.387,47 tỷ đồng trúng thầu, gồm 5.559,38 tỷ đồng ở kỳ hạn 7 ngày và 5.889,14 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày, lãi suất đều ở mức 4%; có 10.095,21 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN.

Như vậy, NHNN bơm ròng 2.292,26 tỷ đồng từ thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm nay. Có 95.885,27 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố; không có tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Lo sụt giảm xuất khẩu, tỷ giá chịu sức ép đến cuối năm

"Dù thuế quan đối ứng chưa chính thức có hiệu lực cho đến ngày 9/4, nhưng với các nhà đầu tư và các đơn vị giao dịch liên quan đến ngoại thương, xuất nhập khẩu, đây là một "cú đấm", "cú sốc" mạnh. Điều này không chỉ làm suy yếu hoạt động xuất khẩu sang Mỹ - thị trường lớn và trọng yếu, mà còn gây ảnh hưởng lan rộng đến toàn nền kinh tế. Tác động này đang khiến áp lực lên tỷ giá tăng cao và có thể sẽ tiếp tục đẩy tỷ giá lên mạnh từ nay đến cuối năm" - Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu đánh giá.

Tính chung tuần qua (31/3 - 3/4), ở kênh cầm cố, có 64.201,66 tỷ đồng trúng thầu; trong đó, nhà điều hành bơm thanh khoản mạnh hai phiên đầu tuần, gần 50 nghìn tỷ đồng. Khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 49.964,11 tỷ đồng. Tính chung tuần qua, lượng tiền bơm thêm vào hệ thống là 14.237,55 tỷ đồng, cao hơn mức bơm ròng tuần trước đó (798,46 tỷ đồng).

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 3/4, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm ở các kỳ hạn ngắn, trong khi tăng 54 điểm cơ bản kỳ hạn 1 tháng; 4 điểm cơ bản kỳ hạn 3 tháng so với phiên trước đó. Cụ thể, qua đêm 3,99%; 1 tuần 4,2%; 2 tuần 4,28%; 1 tháng 4,33%; 3 tháng 5,05%.

Tính chung tuần qua (31/3 - 3/4), lãi suất chào bình quân liên ngân hàng, VND có xu hướng tăng ở kỳ hạn qua đêm, tăng 46 điểm cơ bản. Các kỳ hạn còn lại đều giảm, trong đó, 1 tuần giảm 11 điểm cơ bản; 2 tuần giảm 16 điểm cơ bản; 1 tháng giảm 3 điểm cơ bản; 3 tháng giảm 47 điểm cơ bản.

Cũng theo ông Nguyễn Trí Hiếu, chính sách duy trì mặt bằng lãi suất thấp hiện nay đang đặt ra thách thức lớn đối với mục tiêu ổn định tỷ giá. Hai mục tiêu này về bản chất có xu hướng xung đột, nếu muốn thúc đẩy tăng trưởng GDP lên mức 8%, thậm chí 10% trong thời gian tới, việc hạ lãi suất là cần thiết để hỗ trợ doanh nghiệp và kích cầu tín dụng. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất thấp lại làm gia tăng áp lực lên tỷ giá, đặc biệt trong bối cảnh chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ tiếp tục bị thu hẹp.

Ngược lại, để ổn định hoặc kéo giảm tỷ giá, Việt Nam buộc phải nâng lãi suất, điều này lại đi ngược với nỗ lực hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Do đó, việc cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định vĩ mô, đặc biệt là tỷ giá, đang đặt các nhà hoạch định chính sách trước một bài toán nhiều ràng buộc và không dễ dung hòa trong ngắn hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80