Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (31/3 - 4/4) cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng mạnh, lên 24.886 VND/USD, thiết lập mức cao nhất lịch sử, còn tỷ giá USD bán ra tại ngân hàng giảm nhẹ sau khi tăng vọt. Sự điều chỉnh này diễn ra trong bối cảnh áp lực từ thuế quan của Mỹ, tạo ra thế giằng co trong việc điều hành tỷ giá và lãi suất.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/3: Tỷ giá lập đỉnh mới, lãi suất liên ngân hàng sụt giảm Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/3: Tỷ giá leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm Vòng xoáy biến động ảnh hưởng đến sức nóng tỷ giá

Ngày 4/4, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tăng vọt, ở mức 24.886 VND/USD, tăng 32 đồng so với phiên trước. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong khoảng 23.642 - 26.130 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được điều chỉnh tăng 30 đồng chiều mua và 34 đồng chiều bán so với phiên trước, hiện ở mức 23.692 - 26.080 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới, USD ngân hàng hạ nhiệt sau cú sốc

Ngược lại, tại các ngân hàng thương mại, nhiều đơn vị điều chỉnh giảm nhẹ sau khi tăng sốc phiên hôm qua. Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.570 - 25.960 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 20 đồng so với phiên trước đó ở cả hai chiều. BIDV cũng điều chỉnh giảm tỷ giá USD 35 đồng, xuống 25.600 - 25.960 VND/USD (mua vào - bán ra).

Đà tăng tỷ giá trung tâm chưa dừng lại

Về diễn biến trong tuần qua (31/3 - 4/4), tỷ giá trung tâm được điều chỉnh giảm hai phiên đầu tuần tổng cộng 8 đồng, song tăng mạnh 51 ba phiên cuối tuần. Tính chung, tỷ giá trung tâm tăng 43 đồng tuần qua, cao hơn mức tăng 30 đồng tuần trước và ở đỉnh cao lịch sử 24.886 VND/USD ngày 4/4.

Trên thị trường tự do, đồng USD được giao dịch ở mức 25.936 - 26.036 VND/USD, tăng 66 đồng cả hai chiều.

Tính chung tuần qua (31/3 - 4/4), tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD tăng khoảng 200 đồng chiều bán ra, trong khi tuần trước giữ nguyên. Đáng chú ý, ngày 3/4, các ngân hàng tăng mạnh giá USD bán ra, lên tới 160 đồng sau khi Mỹ công bố biểu thuế đối ứng với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua biến động ít hơn so với ngân hàng thương mại, song chiều bán ra vẫn tăng 76 đồng, đảo chiều so với xu hướng giảm tuần trước (giảm 10 đồng).

Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4:
Diễn biến tỷ giá USD/VND ba tháng qua. Nguồn: Topi.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo lường giá trị của đồng USD so với rổ 6 loại tiền tệ chính trên thế giới vẫn ở mức thấp trong vòng 6 tháng qua, hiện khoảng 102,03 điểm, giảm mạnh 9,4% so với đầu năm. Đồng USD bị bán tháo trên diện rộng khi giới đầu tư ồ ạt rút vốn khỏi thị trường chứng khoán Mỹ trong bối cảnh điều chỉnh mạnh trên toàn cầu.

Nhóm phân tích từ VPBankS đánh giá, sự sụt giảm xuất khẩu sang Mỹ sẽ kéo theo việc thu hẹp nguồn cung USD vào Việt Nam, trong khi nhu cầu nhập khẩu gia tăng lại làm tăng áp lực lên cầu ngoại tệ. Diễn biến này có thể tạo sức ép lên tỷ giá và khiến đồng VND chịu áp lực mất giá.

Trong bối cảnh đó, nếu NHNN lựa chọn can thiệp thông qua việc bán ra dự trữ ngoại hối, hiện ước tính tương đương khoảng 2,4 tháng nhập khẩu, thì tỷ giá USD/VND vẫn có khả năng tăng từ 3 - 5% trong năm 2025, dao động trong vùng 26.000 - 26.200 VND/USD.

Giằng co điều hành tỷ giá và lãi suất

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, việc Mỹ áp thuế quan lên đến 46% đối với hàng hóa từ Việt Nam là mức rất cao, gần sát ngưỡng tối đa 50%. Trong danh sách các quốc gia bị áp thuế, Việt Nam nằm trong nhóm cao nhất, chỉ sau Campuchia (49%), Lào (48%), Madagascar (47%), Trung Quốc phải chịu tổng mức thuế lên tới 54%.

Mức thuế này được coi là "cú sốc" đối với cộng đồng xuất nhập khẩu Việt Nam, khi trực tiếp làm suy giảm khả năng cạnh tranh của hàng Việt tại thị trường Mỹ. Hàng hóa Việt Nam sẽ khó đứng vững khi bị đánh thuế cao như vậy, trong khi nhiều sản phẩm từ các nước khác có chất lượng tương đương nhưng chịu mức thuế thấp hoặc không bị áp thuế, dẫn đến giá bán rẻ hơn.

Theo ông Hiếu, đây là mức thuế chưa từng có trong tiền lệ với Việt Nam, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt bị áp thuế lên đến hàng trăm phần trăm, còn lại thuế quan thông thường chỉ dao động khoảng 10 -15%.

Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4:
"Bão" thuế quan từ Mỹ đã đẩy tỷ giá lên đỉnh mới. Ảnh minh hoạ.

Hiện NHNN vẫn đang đẩy mạnh việc cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh thị trường mở (OMO). Theo đó, ở kênh cầm cố, phiên ngày 4/4, có 12.387,47 tỷ đồng trúng thầu, gồm 5.559,38 tỷ đồng ở kỳ hạn 7 ngày và 5.889,14 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày, lãi suất đều ở mức 4%; có 10.095,21 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN.

Như vậy, NHNN bơm ròng 2.292,26 tỷ đồng từ thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm nay. Có 95.885,27 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố; không có tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Lo sụt giảm xuất khẩu, tỷ giá chịu sức ép đến cuối năm

"Dù thuế quan đối ứng chưa chính thức có hiệu lực cho đến ngày 9/4, nhưng với các nhà đầu tư và các đơn vị giao dịch liên quan đến ngoại thương, xuất nhập khẩu, đây là một "cú đấm", "cú sốc" mạnh. Điều này không chỉ làm suy yếu hoạt động xuất khẩu sang Mỹ - thị trường lớn và trọng yếu, mà còn gây ảnh hưởng lan rộng đến toàn nền kinh tế. Tác động này đang khiến áp lực lên tỷ giá tăng cao và có thể sẽ tiếp tục đẩy tỷ giá lên mạnh từ nay đến cuối năm" - Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu đánh giá.

Tính chung tuần qua (31/3 - 3/4), ở kênh cầm cố, có 64.201,66 tỷ đồng trúng thầu; trong đó, nhà điều hành bơm thanh khoản mạnh hai phiên đầu tuần, gần 50 nghìn tỷ đồng. Khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 49.964,11 tỷ đồng. Tính chung tuần qua, lượng tiền bơm thêm vào hệ thống là 14.237,55 tỷ đồng, cao hơn mức bơm ròng tuần trước đó (798,46 tỷ đồng).

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 3/4, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm ở các kỳ hạn ngắn, trong khi tăng 54 điểm cơ bản kỳ hạn 1 tháng; 4 điểm cơ bản kỳ hạn 3 tháng so với phiên trước đó. Cụ thể, qua đêm 3,99%; 1 tuần 4,2%; 2 tuần 4,28%; 1 tháng 4,33%; 3 tháng 5,05%.

Tính chung tuần qua (31/3 - 3/4), lãi suất chào bình quân liên ngân hàng, VND có xu hướng tăng ở kỳ hạn qua đêm, tăng 46 điểm cơ bản. Các kỳ hạn còn lại đều giảm, trong đó, 1 tuần giảm 11 điểm cơ bản; 2 tuần giảm 16 điểm cơ bản; 1 tháng giảm 3 điểm cơ bản; 3 tháng giảm 47 điểm cơ bản.

Cũng theo ông Nguyễn Trí Hiếu, chính sách duy trì mặt bằng lãi suất thấp hiện nay đang đặt ra thách thức lớn đối với mục tiêu ổn định tỷ giá. Hai mục tiêu này về bản chất có xu hướng xung đột, nếu muốn thúc đẩy tăng trưởng GDP lên mức 8%, thậm chí 10% trong thời gian tới, việc hạ lãi suất là cần thiết để hỗ trợ doanh nghiệp và kích cầu tín dụng. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất thấp lại làm gia tăng áp lực lên tỷ giá, đặc biệt trong bối cảnh chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ tiếp tục bị thu hẹp.

Ngược lại, để ổn định hoặc kéo giảm tỷ giá, Việt Nam buộc phải nâng lãi suất, điều này lại đi ngược với nỗ lực hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Do đó, việc cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định vĩ mô, đặc biệt là tỷ giá, đang đặt các nhà hoạch định chính sách trước một bài toán nhiều ràng buộc và không dễ dung hòa trong ngắn hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17617 17890 18465
CAD 17962 18237 18851
CHF 31794 32175 32812
CNY 0 3829 3921
EUR 29265 29486 30560
GBP 33899 34288 35218
HKD 0 3227 3429
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14539 15120
SGD 19755 20037 20613
THB 704 767 820
USD (1,2) 26065 0 0
USD (5,10,20) 26106 0 0
USD (50,100) 26135 26149 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80