Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (7 - 11/4) cho thấy, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giảm mạnh sau chuỗi tăng kéo dài, chỉ số DXY lao dốc bất ngờ, nhưng thị trường vẫn căng thẳng khi tỷ giá USD/VND còn neo cao. Trong bối cảnh quốc tế bất ổn, thuế quan tăng, áp lực tỷ giá và lạm phát vẫn hiện hữu.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/3: Tỷ giá leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới Tổng thống Trump hoãn áp thuế 90 ngày, tăng thuế với Trung Quốc lên 125%

Ngày 11/4, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết ở mức 24.923 VND/USD, giảm mạnh 41 đồng so với phiên trước. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong khoảng 23.677 - 26.169 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo cũng được điều chỉnh giảm 41 đồng hai chiều, hiện ở mức giảm 23.727 - 26.119 VND/USD.

Tỷ giá USD bán ra tuột khỏi mốc 26.000 đồng

Tại các ngân hàng thương mại, nhiều đơn vị cũng điều chỉnh giảm sâu. Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.530 - 25.920 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 50 đồng hai chiều so với phiên trước. Sacombank cũng điều chỉnh giảm mạnh tỷ giá USD 60 đồng, xuống 25.550 - 25.910 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tỷ giá trung tâm giảm mạnh sau chuỗi 6 phiên miệt mài tăng

Về diễn biến trong tuần qua (7 - 11/4), tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng mạnh ba phiên giữa tuần tổng cộng 78 đồng và đạt đỉnh 24.964 VND/USD ngày 10/4, song giảm mạnh 41 đồng phiên cuối tuần. Đây cũng là phiên giảm mạnh sau chuỗi 6 phiên tỷ giá trung tâm miệt mài tăng liên tiếp. Tính chung, tỷ giá trung tâm tăng 37 đồng tuần qua.

Trên thị trường tự do, đồng USD được giao dịch ở mức 26.020 - 26.120 VND/USD, giảm sâu 140 đồng cả hai chiều.

Tính chung tuần qua (7 - 11/4), tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD giảm khoảng 40 đồng chiều bán ra giúp giải toả căng thẳng, trái ngược với mức tăng sốc 200 đồng sau khi Tổng thống Trump công bố bảng thuế quan đối ứng ngày 2/4 khiến thị trường chao đảo.

Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua biến động mạnh hơn so với ngân hàng thương mại khi chiều bán ra vẫn tăng 84 đồng, cao hơn mức tăng tuần trước (76 đồng).

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi
Tỷ giá USD các ngân hàng bán ra giảm khoảng 40 đồng, trái ngược với mức tăng sốc 200 đồng tuần trước. Ảnh tư liệu.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo lường giá trị của đồng USD so với rổ 6 loại tiền tệ chính trên thế giới, bất ngờ “bổ nhào” giảm sâu mất mốc 100 điểm, hiện còn 99,19 điểm, giảm 1,67%.

Ban đầu, giới quan sát kỳ vọng các mức thuế mới sẽ hỗ trợ đồng bạc xanh, tuy nhiên thực tế đồng USD giảm gần 10% kể từ khi ông Trump nhậm chức và giảm 4,8% chỉ trong tuần qua. Điều này có thể cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang phản ứng với chính sách bảo hộ của ông Trump bằng cách rút khỏi tài sản Mỹ, từ đó tạo thêm áp lực giảm giá lên đồng USD. Bên cạnh đó, lo ngại gia tăng về nguy cơ suy thoái kinh tế cũng đang đè nặng lên USD.

Rủi ro thuế quan phủ bóng

Dù tỷ giá hạ nhiệt song vẫn neo ở mức cao, phản ánh áp lực còn dai dẳng từ thị trường quốc tế và tâm lý lo ngại trong nước. Theo báo cáo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý I/2025 của Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore), với mức thuế đối ứng cao, doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với rủi ro sụt giảm đơn hàng xuất khẩu, khi người tiêu dùng Mỹ phản ứng với giá cả tăng bằng cách hủy hoặc trì hoãn đơn hàng, hoặc thậm chí chuyển sang lựa chọn hàng nội địa khi chênh lệch giá thu hẹp.

Trong kịch bản hiện tại, nhóm chuyên gia từ Ngân hàng UOB giả định xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ giảm 20% trong năm 2025 (sau khi đã tăng 20% trong năm 2024). Đồng thời, nếu xuất khẩu sang các thị trường khác giữ nguyên, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm khoảng 6% trong năm 2025, trái ngược với mức tăng 13% của năm 2024.

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi. Ảnh tư liệu.

"Với các giả định này, đồng thời tính đến tác động lan tỏa lên sản xuất và dòng vốn FDI, mô hình dự báo của chúng tôi cho thấy GDP Việt Nam sẽ giảm 1 điểm phần trăm so với dự báo cơ sở ban đầu" - Ngân hàng UOB dự báo.

Theo đó, Ngân hàng UOB dự báo tăng trưởng GDP quý II và quý III/2025 lần lượt ở mức 6,1% và 5,8%. Trong bối cảnh này, FDI giải ngân và FDI đăng ký có thể sẽ giảm về mức khoảng 20 tỷ USD trong năm nay.

Dự báo biến động tỷ giá các quý cuối năm

"Khi bất ổn gia tăng, áp lực lên tỷ giá VND sẽ tiếp tục leo thang. Chúng tôi duy trì quan điểm đồng VND sẽ tiếp tục yếu đi, với dự báo cập nhật về tỷ giá USD/VND như sau: 26.500 trong quý II/2025, 27.200 trong quý III/2025, 26.800 trong quý IV/2025, 26.500 trong quý I/2026" - ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore nhận định.

Báo cáo từ Ngân hàng UOB cũng lập luận rằng, các đồng tiền châu Á sẽ bước vào giai đoạn suy yếu tiếp theo, sau khi chính quyền Trump áp đặt hàng loạt thuế quan trừng phạt đối với các nền kinh tế châu Á. Khối lượng xuất khẩu gần như chắc chắn sẽ sụt giảm, làm suy yếu triển vọng tăng trưởng và đồng tiền của các nền kinh tế trong khu vực.

Tại Việt Nam, tỷ giá VND giảm xuống mức thấp kỷ lục mới, khoảng 25.800 VND/USD, ngay sau khi Mỹ công bố thuế đối ứng 46% đối với hàng hóa Việt Nam.

Cũng theo ông Trần Ngọc Báu - Chuyên gia kinh tế tài chính, Tổng Giám đốc WiGroup cho biết, tính đến ngày 8/4, đồng VND mất giá khoảng 2,2% so với USD, trong khi chỉ số USD Index giảm 5,8%. Điều này cho thấy VND không chỉ yếu đi so với USD mà còn giảm giá mạnh hơn so với nhiều đồng tiền khác, tương đương mức mất giá gần 10%. Diễn biến này làm gia tăng nguy cơ lạm phát trong thời gian tới, nhất là khi giá nhập khẩu nguyên vật liệu tăng theo. Đáng chú ý, tỷ giá bán USD của nhiều ngân hàng thương mại đã vượt mức trần do NHNN quy định trong ngày 8/4.

“Nếu NHNN không nới biên độ hoặc nâng tỷ giá trung tâm lên thì có khả năng phải dần dần bán USD ra để giảm áp lực tỷ giá trong khi dự trữ ngoại hối không còn nhiều. Áp lực đến đâu còn phụ thuộc vào câu chuyện về thuế quan và phản ứng của Fed trước bối cảnh hiện tại của Mỹ” - ông Báu nhìn nhận./.

Bơm ròng gần 24 nghìn tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng tăng nhẹ

Hiện NHNN vẫn đang đẩy mạnh việc cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh thị trường mở (OMO). Theo đó, ở kênh cầm cố, phiên ngày 11/4, có 18.939,2 tỷ đồng trúng thầu, gồm 8.323,29 tỷ đồng ở kỳ hạn 7 ngày; 9.586,64 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày và 1.029,27 tỷ đồng ở kỳ hạn 35 ngày; lãi suất đều ở mức 4%; có 9.041,47 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN.

Như vậy, NHNN bơm ròng 9.897,73 tỷ đồng từ thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm nay. Có 119.805,52 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố; không có tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Tính chung tuần qua (7 - 11/4), ở kênh cầm cố, có 74.054,02 tỷ đồng trúng thầu; trong đó, có 2.481,4 tỷ đồng trúng thầu kỳ hạn 91 ngày. Khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 50.133,77 tỷ đồng. Tính chung tuần qua, lượng tiền bơm thêm vào hệ thống là 23.920,25 tỷ đồng, cao hơn mức bơm ròng tuần trước đó (14.237,55 tỷ đồng).

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 9/4, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm nhẹ so với phiên trước đó nhưng tăng so với cuối tuần trước ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, kỳ hạn qua đêm tăng 22 điểm cơ bản lên 4,21%; 1 tuần 4,39% (tăng 31 điểm cơ bản); 2 tuần 4,41% (tăng 1 điểm cơ bản); 1 tháng 4,45% (tăng 36 điểm cơ bản)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80