Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (7 - 11/4) cho thấy, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giảm mạnh sau chuỗi tăng kéo dài, chỉ số DXY lao dốc bất ngờ, nhưng thị trường vẫn căng thẳng khi tỷ giá USD/VND còn neo cao. Trong bối cảnh quốc tế bất ổn, thuế quan tăng, áp lực tỷ giá và lạm phát vẫn hiện hữu.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/3: Tỷ giá leo trên đỉnh, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới Tổng thống Trump hoãn áp thuế 90 ngày, tăng thuế với Trung Quốc lên 125%

Ngày 11/4, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) niêm yết ở mức 24.923 VND/USD, giảm mạnh 41 đồng so với phiên trước. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong khoảng 23.677 - 26.169 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo cũng được điều chỉnh giảm 41 đồng hai chiều, hiện ở mức giảm 23.727 - 26.119 VND/USD.

Tỷ giá USD bán ra tuột khỏi mốc 26.000 đồng

Tại các ngân hàng thương mại, nhiều đơn vị cũng điều chỉnh giảm sâu. Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.530 - 25.920 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 50 đồng hai chiều so với phiên trước. Sacombank cũng điều chỉnh giảm mạnh tỷ giá USD 60 đồng, xuống 25.550 - 25.910 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tỷ giá trung tâm giảm mạnh sau chuỗi 6 phiên miệt mài tăng

Về diễn biến trong tuần qua (7 - 11/4), tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng mạnh ba phiên giữa tuần tổng cộng 78 đồng và đạt đỉnh 24.964 VND/USD ngày 10/4, song giảm mạnh 41 đồng phiên cuối tuần. Đây cũng là phiên giảm mạnh sau chuỗi 6 phiên tỷ giá trung tâm miệt mài tăng liên tiếp. Tính chung, tỷ giá trung tâm tăng 37 đồng tuần qua.

Trên thị trường tự do, đồng USD được giao dịch ở mức 26.020 - 26.120 VND/USD, giảm sâu 140 đồng cả hai chiều.

Tính chung tuần qua (7 - 11/4), tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD giảm khoảng 40 đồng chiều bán ra giúp giải toả căng thẳng, trái ngược với mức tăng sốc 200 đồng sau khi Tổng thống Trump công bố bảng thuế quan đối ứng ngày 2/4 khiến thị trường chao đảo.

Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua biến động mạnh hơn so với ngân hàng thương mại khi chiều bán ra vẫn tăng 84 đồng, cao hơn mức tăng tuần trước (76 đồng).

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi
Tỷ giá USD các ngân hàng bán ra giảm khoảng 40 đồng, trái ngược với mức tăng sốc 200 đồng tuần trước. Ảnh tư liệu.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo lường giá trị của đồng USD so với rổ 6 loại tiền tệ chính trên thế giới, bất ngờ “bổ nhào” giảm sâu mất mốc 100 điểm, hiện còn 99,19 điểm, giảm 1,67%.

Ban đầu, giới quan sát kỳ vọng các mức thuế mới sẽ hỗ trợ đồng bạc xanh, tuy nhiên thực tế đồng USD giảm gần 10% kể từ khi ông Trump nhậm chức và giảm 4,8% chỉ trong tuần qua. Điều này có thể cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang phản ứng với chính sách bảo hộ của ông Trump bằng cách rút khỏi tài sản Mỹ, từ đó tạo thêm áp lực giảm giá lên đồng USD. Bên cạnh đó, lo ngại gia tăng về nguy cơ suy thoái kinh tế cũng đang đè nặng lên USD.

Rủi ro thuế quan phủ bóng

Dù tỷ giá hạ nhiệt song vẫn neo ở mức cao, phản ánh áp lực còn dai dẳng từ thị trường quốc tế và tâm lý lo ngại trong nước. Theo báo cáo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý I/2025 của Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore), với mức thuế đối ứng cao, doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với rủi ro sụt giảm đơn hàng xuất khẩu, khi người tiêu dùng Mỹ phản ứng với giá cả tăng bằng cách hủy hoặc trì hoãn đơn hàng, hoặc thậm chí chuyển sang lựa chọn hàng nội địa khi chênh lệch giá thu hẹp.

Trong kịch bản hiện tại, nhóm chuyên gia từ Ngân hàng UOB giả định xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ giảm 20% trong năm 2025 (sau khi đã tăng 20% trong năm 2024). Đồng thời, nếu xuất khẩu sang các thị trường khác giữ nguyên, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm khoảng 6% trong năm 2025, trái ngược với mức tăng 13% của năm 2024.

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/4: Áp lực tỷ giá tạm lắng nhưng rủi ro vẫn chưa nguôi. Ảnh tư liệu.

"Với các giả định này, đồng thời tính đến tác động lan tỏa lên sản xuất và dòng vốn FDI, mô hình dự báo của chúng tôi cho thấy GDP Việt Nam sẽ giảm 1 điểm phần trăm so với dự báo cơ sở ban đầu" - Ngân hàng UOB dự báo.

Theo đó, Ngân hàng UOB dự báo tăng trưởng GDP quý II và quý III/2025 lần lượt ở mức 6,1% và 5,8%. Trong bối cảnh này, FDI giải ngân và FDI đăng ký có thể sẽ giảm về mức khoảng 20 tỷ USD trong năm nay.

Dự báo biến động tỷ giá các quý cuối năm

"Khi bất ổn gia tăng, áp lực lên tỷ giá VND sẽ tiếp tục leo thang. Chúng tôi duy trì quan điểm đồng VND sẽ tiếp tục yếu đi, với dự báo cập nhật về tỷ giá USD/VND như sau: 26.500 trong quý II/2025, 27.200 trong quý III/2025, 26.800 trong quý IV/2025, 26.500 trong quý I/2026" - ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore nhận định.

Báo cáo từ Ngân hàng UOB cũng lập luận rằng, các đồng tiền châu Á sẽ bước vào giai đoạn suy yếu tiếp theo, sau khi chính quyền Trump áp đặt hàng loạt thuế quan trừng phạt đối với các nền kinh tế châu Á. Khối lượng xuất khẩu gần như chắc chắn sẽ sụt giảm, làm suy yếu triển vọng tăng trưởng và đồng tiền của các nền kinh tế trong khu vực.

Tại Việt Nam, tỷ giá VND giảm xuống mức thấp kỷ lục mới, khoảng 25.800 VND/USD, ngay sau khi Mỹ công bố thuế đối ứng 46% đối với hàng hóa Việt Nam.

Cũng theo ông Trần Ngọc Báu - Chuyên gia kinh tế tài chính, Tổng Giám đốc WiGroup cho biết, tính đến ngày 8/4, đồng VND mất giá khoảng 2,2% so với USD, trong khi chỉ số USD Index giảm 5,8%. Điều này cho thấy VND không chỉ yếu đi so với USD mà còn giảm giá mạnh hơn so với nhiều đồng tiền khác, tương đương mức mất giá gần 10%. Diễn biến này làm gia tăng nguy cơ lạm phát trong thời gian tới, nhất là khi giá nhập khẩu nguyên vật liệu tăng theo. Đáng chú ý, tỷ giá bán USD của nhiều ngân hàng thương mại đã vượt mức trần do NHNN quy định trong ngày 8/4.

“Nếu NHNN không nới biên độ hoặc nâng tỷ giá trung tâm lên thì có khả năng phải dần dần bán USD ra để giảm áp lực tỷ giá trong khi dự trữ ngoại hối không còn nhiều. Áp lực đến đâu còn phụ thuộc vào câu chuyện về thuế quan và phản ứng của Fed trước bối cảnh hiện tại của Mỹ” - ông Báu nhìn nhận./.

Bơm ròng gần 24 nghìn tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng tăng nhẹ

Hiện NHNN vẫn đang đẩy mạnh việc cung ứng thanh khoản cho thị trường thông qua kênh thị trường mở (OMO). Theo đó, ở kênh cầm cố, phiên ngày 11/4, có 18.939,2 tỷ đồng trúng thầu, gồm 8.323,29 tỷ đồng ở kỳ hạn 7 ngày; 9.586,64 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày và 1.029,27 tỷ đồng ở kỳ hạn 35 ngày; lãi suất đều ở mức 4%; có 9.041,47 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN.

Như vậy, NHNN bơm ròng 9.897,73 tỷ đồng từ thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm nay. Có 119.805,52 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố; không có tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Tính chung tuần qua (7 - 11/4), ở kênh cầm cố, có 74.054,02 tỷ đồng trúng thầu; trong đó, có 2.481,4 tỷ đồng trúng thầu kỳ hạn 91 ngày. Khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 50.133,77 tỷ đồng. Tính chung tuần qua, lượng tiền bơm thêm vào hệ thống là 23.920,25 tỷ đồng, cao hơn mức bơm ròng tuần trước đó (14.237,55 tỷ đồng).

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngày 9/4, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm nhẹ so với phiên trước đó nhưng tăng so với cuối tuần trước ở hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, kỳ hạn qua đêm tăng 22 điểm cơ bản lên 4,21%; 1 tuần 4,39% (tăng 31 điểm cơ bản); 2 tuần 4,41% (tăng 1 điểm cơ bản); 1 tháng 4,45% (tăng 36 điểm cơ bản)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80