Dự thảo Ngân hàng Nhà nước đề xuất “vùng cấm” khi thu giữ tài sản bảo đảm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng dự thảo Nghị định về điều kiện tài sản bảo đảm khoản nợ xấu được thu giữ. Trong đó, nhấn mạnh việc loại trừ “nhà ở duy nhất” và “công cụ lao động chủ yếu hoặc duy nhất”, tránh trường hợp đẩy bên bảo đảm càng khó khăn về tài chính cũng như không còn nơi ở, không đảm bảo khả năng nuôi sống bản thân và gia đình.
aa

Nhiều khó khăn với ngân hàng trong xử lý tài sản bảo đảm khi thi hành án

Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn

Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ để quy định chi tiết điểm đ khoản 2 Điều 198a Luật số 32/2024/QH15 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 96/2025/QH15). Theo đó, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán và xử lý nợ xấu được quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng các điều kiện sau đây: "đ) Tài sản bảo đảm được thu giữ phải đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ”.

Một trong những điểm nhấn của dự thảo là đưa ra định nghĩa và quy định rõ ràng về hai loại tài sản đặc biệt: “nhà ở duy nhất” và “công cụ lao động chủ yếu hoặc duy nhất”.

Dự thảo Ngân hàng Nhà nước đề xuất “vùng cấm” khi thu giữ tài sản bảo đảm
Dự thảo Ngân hàng Nhà nước đề xuất “vùng cấm” khi thu giữ tài sản bảo đảm. Ảnh minh hoạ.

Dự thảo Nghị định kế thừa kinh nghiệm quốc tế về tài sản được loại trừ khi thực hiện kê biên tài sản bảo đảm của Đức (miễn trừ khỏi việc bị tịch thu nhằm đảm bảo các điều kiện sống cơ bản và khả năng lao động của bên nợ) và Canada (công cụ, tài sản cá nhân dùng để kiếm thu nhập theo nghề của khách hàng vay). Đồng thời, ban soạn thảo cũng tham khảo các văn bản hiện hành như: Luật Nhà ở, Luật Cư trú và Luật Thi hành án dân sự để xây dựng khung khái niệm.

Theo đó, "nhà ở duy nhất" được hiểu là công trình xây dựng duy nhất thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm nơi bên bảo đảm ở và sinh sống ổn định, lâu dài hoặc thường xuyên sinh sống. Còn "công cụ lao động chủ yếu hoặc duy nhất" là phương tiện lao động mang lại thu nhập chủ yếu hoặc duy nhất cho bên bảo đảm.

Cùng với đó, thu nhập chủ yếu hoặc duy nhất của bên bảo đảm được xác định tương ứng với mức lương tối thiểu theo vùng nơi bên bảo đảm sinh sống và làm việc theo quy định của Chính phủ về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Việc dự thảo yêu cầu căn cứ vào mức lương tối thiểu theo vùng cũng là điểm mới đáng chú ý. Đây được coi là thước đo khách quan để xác định liệu công cụ lao động có mang lại nguồn thu nhập tối thiểu cho người bảo đảm hay không. Nếu tài sản được chứng minh là công cụ lao động duy nhất tạo ra thu nhập ở mức tối thiểu theo quy định thì tổ chức tín dụng sẽ không được phép thu giữ.

Điều kiện để một tài sản bảo đảm được thu giữ được quy định rõ tại Điều 4 dự thảo. Theo đó, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được thu giữ khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 198a Luật số 32/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 96/2025/QH15 và các điều kiện sau: tài sản bảo đảm không phải là nhà ở duy nhất của bên bảo đảm; tài sản bảo đảm không phải là công cụ lao động chủ yếu hoặc duy nhất của bên bảo đảm.

Dự thảo đưa ra các quy định nhằm đảm bảo việc thu giữ tài sản bảo đảm không ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt, lao động và sản xuất của người dân.

"Đối với một số trường hợp như tài sản bảo đảm là công cụ lao động duy nhất mang lại thu nhập tối thiểu cho bên bảo đảm, việc thu giữ tài sản bảo đảm có thể khiến bên bảo đảm càng khó khăn về tài chính cũng như không đảm bảo khả năng nuôi sống bản thân và gia đình; tương tự, việc thu giữ tài sản bảo đảm là nhà ở duy nhất cũng có thể khiến bên bảo đảm và gia đình không còn nơi ở để sinh hoạt" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Về trách nhiệm của bên bảo đảm, theo Điều 5 dự thảo, ngay khi ký hợp đồng bảo đảm, bên bảo đảm phải tự khai báo, cam kết và cung cấp tài liệu chứng minh tài sản thế chấp của mình có phải là nhà ở duy nhất hoặc công cụ lao động chủ yếu hay không.

"Bên thực hiện thu giữ tài sản bảo đảm không có trách nhiệm cũng như không có khả năng để kiểm tra, xác minh nhà ở của cá nhân có phải là nhà ở duy nhất hay không và cũng không có khả năng kiểm tra, xác minh công cụ lao động có phải là công cụ lao động có phải là công cụ lao động chủ yếu hoặc duy nhất hay không" - ban soạn thảo lý giải.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, Nghị định xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn, dự kiến trình Chính phủ ban hành trước ngày 15/9/2025. Thời điểm có hiệu lực được đề xuất là ngày 15/10/2025, trùng với ngày Luật số 96/2025/QH15 bắt đầu thi hành.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 27 USD/ounce, lên mức 4.140 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chủ yếu đi ngang, còn vàng nhẫn có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

(TBTCO) - Từ nay đến hết tháng 12/2026, khách hàng tham gia Bảo hiểm Vật chất xe ô tô tại Tập đoàn Bảo hiểm DBV được tặng 1 năm gói Promy - Dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường do DBV phối hợp cùng Allianz Partners triển khai, giúp khách hàng có thêm một lớp bảo vệ, từ tư vấn kỹ thuật đến hỗ trợ trực tiếp khi phương tiện gặp sự cố trên hành trình.
Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

(TBTCO) - Trước áp lực tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn và đồng USD mạnh lên, khiến nhiều đồng tiền mất giá 2 - 7%, Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, kết hợp nhiều công cụ, cân bằng tỷ giá và lãi suất. Lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲1000K 143,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲1000K 143,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲1000K 143,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲1000K 143,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲1000K 143,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲1000K 143,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲130K 14,430 ▲130K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲130K 14,430 ▲130K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲130K 14,430 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,680 ▲130K 14,280 ▲130K
Trang sức 99.99 13,690 ▲130K 14,290 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲1273K 14,432 ▲130K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲1273K 14,433 ▲130K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲13K 1,438 ▲13K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲13K 1,439 ▲13K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,383 ▲1246K 1,428 ▲13K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,386 ▲1287K 141,386 ▲1287K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,461 ▲975K 107,261 ▲975K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,464 ▲78806K 97,264 ▲87626K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,467 ▲793K 87,267 ▲793K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,611 ▲758K 83,411 ▲758K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,904 ▲543K 59,704 ▲543K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1273K 1,443 ▲1300K
Cập nhật: 09/10/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17477 17749 18331
CAD 17642 17916 18532
CHF 30456 30831 31481
CNY 0 3814 3910
EUR 28362 28579 29659
GBP 33385 33773 34718
HKD 0 3160 3363
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14192 14780
SGD 19640 19921 20501
THB 685 748 801
USD (1,2) 25569 0 0
USD (5,10,20) 25607 0 0
USD (50,100) 25634 25648 26016
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,419 28,442 29,794
JPY 158.94 159.23 168.86
GBP 33,564 33,655 34,836
AUD 17,677 17,741 18,413
CAD 17,830 17,887 18,548
CHF 30,715 30,811 31,718
SGD 19,760 19,821 20,609
CNY - 3,782 3,927
HKD 3,224 3,234 3,370
KRW 17.73 18.49 20.13
THB 733.12 742.17 794.96
NZD 14,183 14,315 14,744
SEK - 2,549 2,640
DKK - 3,812 3,947
NOK - 2,657 2,752
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,902.63 - 6,664.66
TWD 729.99 - 884.49
SAR - 6,759.72 7,125.51
KWD - 81,562 86,797
AED - 6,778 7,304
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,459 28,602 29,827
GBP 33,640 33,809 34,839
HKD 3,230 3,246 3,363
CHF 30,609 30,763 31,709
JPY 159.58 160.70 168.68
AUD 17,700 17,789 18,385
SGD 19,858 19,958 20,552
THB 750 754 791
CAD 17,873 17,963 18,560
NZD 14,278 14,833
KRW 18.59 20.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25620 25650 26010
AUD 17666 17766 18691
CAD 17817 17917 18932
CHF 30693 30723 32308
CNY 3796.5 3821.5 3956.6
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28542 28572 30295
GBP 33694 33744 35501
HKD 0 3315 0
JPY 159.85 160.35 170.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14301 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19801 19931 20653
THB 0 713.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14080000 14080000 14380000
SBJ 12500000 12500000 14380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,616 25,736 26,100
USD20 25,586 25,736 26,100
USD1 25,566 25,736 26,100
AUD 17,702 17,802 18,917
EUR 28,316 28,416 30,077
CAD 17,757 17,857 19,165
SGD 19,903 20,053 20,611
JPY 160.67 162.17 167.75
GBP 33,560 33,710 34,990
XAU 13,998,000 0 14,302,000
CNY 0 3,715 0
THB 0 749 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30