Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tư quan trọng về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ đã hết hiệu lực sau nhiều năm triển khai, khiến bức tranh nợ xấu ngành Ngân hàng không còn bị che mờ như thời gian qua. Giới phân tích cho rằng, ẩn số nợ tái cơ cấu vẫn sẽ là thách thức, có thể khiến nợ xấu tăng đột biến với ngân hàng có nợ tái cơ cấu cao song tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp.
aa
Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu
Nguồn: NHTM, MBS Research.

Thời điểm cuối năm 2024, đầu năm 2025, các ngân hàng dồn dập rao bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ và giảm gánh nặng nợ xấu, trong đó có nhiều tài sản có giá trị hàng ngàn tỷ đồng.

Cuối tháng 12/2024, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) tiếp tục thông báo bán đấu giá toàn bộ 474 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Tổ 1, phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum cấp cho Công ty cổ phần tập đoàn FLC. Tài sản đấu giá thuộc dự án tổ hợp thương mại, dịch vụ vui chơi giải trí và nhà phố, với diện tích sử dụng đất 179.677,8m2 có tổng giá khởi điểm hơn 847 tỷ đồng. Tài sản này đã được NCB rao bán nhiều lần, giá khởi điểm hạ sâu 20% so với lần đăng tháng 10/2024, tương ứng giảm gần 200 tỷ đồng xong vẫn không thành.

Nợ xấu tăng nhiều quý liên tiếp

NCB cũng đang đấu giá quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 608, tờ bản đồ số 2 tại xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, với diện tích sử dụng đất 51.574,9 m2 có tổng giá khởi điểm hơn 150 tỷ đồng. Hiện VietinBank Châu Đốc đang bán tài sản nhiều bất động sản, nhà máy của Công ty TNHH MTV Việt Thắng Fish, với giá khởi điểm gần 80 tỷ đồng. Tương tự NCB, VietinBank, nhiều ngân hàng khác cũng đang mắc kẹt với nhiều khoản nợ, dù hạ giá tài sản phát mại song vẫn khó bán.

Thống kê của TBTCVN cho thấy, tính đến cuối quý III/2024, nợ xấu của các ngân hàng niêm yết ở mức 253.479 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cuối năm 2023. Một số ngân hàng khác ghi nhận tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ở mức cao trên mức 4% như: VPBank (4,81%) tương ứng nợ xấu trên 30 nghìn tỷ đồng; OCB (4,14%) hơn 6,5 nghìn tỷ đồng...

Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) ước tính tỷ lệ nợ xấu vào cuối năm 2024 sẽ không thấp hơn con số ghi nhận cuối quý III/2024. Xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục tăng chủ yếu do sự phục hồi chậm chạp của các ngành xây dựng, nông nghiệp, dầu khí và doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng với tác động của cơn bão Yagi đã gây thách thức cho cả doanh nghiệp và cá nhân trong nỗ lực phục hồi sản xuất và kinh doanh. Trước đó, tỷ lệ nợ xấu tăng trong quý thứ 3 liên tiếp, đạt 2,25% trong quý III/2024 và tăng 32 điểm cơ bản so với cuối năm 2023.

Trong khi đó, bộ đệm dự phòng nợ xấu đang mỏng dần với tỷ lệ bao phủ nợ xấu của các ngân hàng niêm yết là 83,5% vào cuối quý III/2024, tăng 1,5 điểm cơ bản theo quý nhưng giảm 13,2% so với cuối năm 2023 và giảm đáng kể so với mức đỉnh 141,5% vào cuối năm 2021. Bộ đệm dự phòng của các ngân hàng niêm yết vẫn còn yếu, thậm chí còn thấp hơn so với mức trước Covid-19 (cuối năm 2019 ở mức 85,4%).

Ngân hàng "nhọc nhằn" thu hồi nợ

Báo cáo từ Tổng cục Thống kê cho thấy, năm 2024, cả nước có hơn 157,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 1,8% về vốn đăng ký và giảm 5,4% về số lao động so với năm trước. Điều này cho thấy khu vực doanh nghiệp phục hồi yếu. Trong khi đó, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng cao hơn cùng kỳ, với số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 100,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 12,4%; gần 76,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 16,3%; hơn 21,6 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 20%.

Sức khỏe tài chính nhiều doanh nghiệp suy giảm kéo theo áp lực nợ xấu

Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu

Năm nay, nền kinh tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn dù con số tăng trưởng tuyệt vời, song sức khỏe tài chính của nhiều doanh nghiệp còn yếu và không đáp ứng tiêu chí, điều kiện để vay vốn ngân hàng. Khi số lượng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa phá sản, ngưng hoạt động tăng mạnh so với năm 2023 có thể kéo nợ xấu tăng. TS. Nguyễn Trí Hiếu

Còn theo chuyên gia - TS. Nguyễn Trí Hiếu, khoản tiền các ngân hàng cho vay nhưng không trở lại ngân hàng, song họ vẫn phải trả tiền cho người dân khi đến hạn, do đó, ngân hàng phải huy động vốn mới để trả vốn cũ bị đọng trong nợ xấu và góp phần đẩy lãi suất huy động tăng cuối năm.

Lý giải nguyên nhân khiến nhiều tài sản, đặc biệt là bất động sản phát mại giá rẻ nhưng không dễ bán, so sánh với kinh nghiệm quốc tế, theo ông Hiếu, tại Mỹ, ngân hàng không được phép tự thẩm định giá bất động sản thương mại, còn tại Việt Nam, hầu hết tất cả các ngân hàng đều tự thẩm định tài sản bảo đảm, kể cả những bất động sản thương mại gây nên nhiều sai sót. Nhiều trường hợp thẩm định tài sản bảo đảm vượt xa giá trị thực tế để vay vốn nên xử lý tài sản gặp khó. Vấn đề mua bán tài sản, mua bán nợ tại Việt Nam thường diễn ra giữa các ngân hàng với nhau, còn mua bán với các tổ chức, đơn vị bên ngoài thường gặp khó.

Cùng với đó, phần nợ tái cơ cấu liệu có phải là nợ xấu "ẩn" sau khi Thông tư 06/2024/TT-NHNN ngày 18/6/2024 (gia hạn Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023) về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn hết hiệu lực vào ngày 31/12/2024 vẫn là một ẩn số.

Từ năm 2020 đến nay, các chính sách tương tự đã được ban hành và sửa đổi tới 6 lần, được coi là một biện pháp trì hoãn thời hạn trả nợ cũng như ghi nhận nợ xấu các khách hàng gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc triển khai các chính sách giúp khách vay ngân hàng không bị mắc nợ xấu và dễ dàng tiếp cận vốn vay mới để sản xuất kinh doanh phục hồi sau đại dịch và bão Yagi. Mặt khác, ngân hàng cũng không bị suy giảm chất lượng tài sản, tháo gỡ phần nào khó khăn trong công tác xử lý nợ xấu.

Nợ xấu có thể tăng đột biến tại các ngân hàng có chất lượng tài sản thấp

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại Thương (VCBS), tỷ lệ nợ gốc tái cơ cấu theo thông tư kể trên tương đối thấp, ước tính dưới mức 0,5%, tỷ lệ nợ tái cơ cấu chuyển thành nợ xấu cũng ở mức thấp. Cùng với đó, các khoản nợ bị ảnh hưởng bởi bão Yagi ghi nhận khoảng 192.000 tỷ đồng, chiếm hơn 1% dư nợ toàn hệ thống.

Nhóm phân tích từ VCBS kỳ vọng, tỷ lệ nợ xấu giảm dần năm 2025 nhờ tỷ lệ nợ xấu tiềm tàng là nợ nhóm 2, nợ tái cơ cấu hạ thấp dần, giúp giảm áp lực chuyển nhóm nợ trong thời gian tới. Bên cạnh đó, các khoản nợ tái cơ cấu trong giai đoạn thử thách ở nhóm 2 và nhóm 3 sẽ chuyển về nhóm nợ thông thường từ quý II/2025 khi dòng tiền và hoạt động kinh doanh của khách hàng phục hồi.

Tuy nhiên, nợ xấu có sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng. Theo đó, nhóm ngân hàng chất lượng tài sản tốt sẽ ghi nhận nợ xấu kiểm soát ở mức vừa phải. Trong khi đó, áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu với một số ngân hàng có tập khách hàng tái cơ cấu chưa thể phục hồi khi Thông tư số 02/2023/TT-NHNN không được gia hạn và rủi ro nợ kéo theo trên Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC), đặc biệt với các doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản, năng lượng có lượng trái phiếu sắp đến hạn lớn. Nhóm ngân hàng có tỷ lệ nợ tái cơ cấu cao, tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp có thể sẽ phải đối mặt với áp lực trích lập tăng cao trong quý IV/2024 - 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18486
CAD 17969 18244 18860
CHF 31813 32194 32836
CNY 0 3829 3922
EUR 29296 29516 30594
GBP 33902 34292 35234
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14559 15147
SGD 19766 20047 20613
THB 705 768 821
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80