Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tư quan trọng về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ đã hết hiệu lực sau nhiều năm triển khai, khiến bức tranh nợ xấu ngành Ngân hàng không còn bị che mờ như thời gian qua. Giới phân tích cho rằng, ẩn số nợ tái cơ cấu vẫn sẽ là thách thức, có thể khiến nợ xấu tăng đột biến với ngân hàng có nợ tái cơ cấu cao song tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp.
aa
Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu
Nguồn: NHTM, MBS Research.

Thời điểm cuối năm 2024, đầu năm 2025, các ngân hàng dồn dập rao bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ và giảm gánh nặng nợ xấu, trong đó có nhiều tài sản có giá trị hàng ngàn tỷ đồng.

Cuối tháng 12/2024, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) tiếp tục thông báo bán đấu giá toàn bộ 474 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Tổ 1, phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum cấp cho Công ty cổ phần tập đoàn FLC. Tài sản đấu giá thuộc dự án tổ hợp thương mại, dịch vụ vui chơi giải trí và nhà phố, với diện tích sử dụng đất 179.677,8m2 có tổng giá khởi điểm hơn 847 tỷ đồng. Tài sản này đã được NCB rao bán nhiều lần, giá khởi điểm hạ sâu 20% so với lần đăng tháng 10/2024, tương ứng giảm gần 200 tỷ đồng xong vẫn không thành.

Nợ xấu tăng nhiều quý liên tiếp

NCB cũng đang đấu giá quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 608, tờ bản đồ số 2 tại xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, với diện tích sử dụng đất 51.574,9 m2 có tổng giá khởi điểm hơn 150 tỷ đồng. Hiện VietinBank Châu Đốc đang bán tài sản nhiều bất động sản, nhà máy của Công ty TNHH MTV Việt Thắng Fish, với giá khởi điểm gần 80 tỷ đồng. Tương tự NCB, VietinBank, nhiều ngân hàng khác cũng đang mắc kẹt với nhiều khoản nợ, dù hạ giá tài sản phát mại song vẫn khó bán.

Thống kê của TBTCVN cho thấy, tính đến cuối quý III/2024, nợ xấu của các ngân hàng niêm yết ở mức 253.479 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cuối năm 2023. Một số ngân hàng khác ghi nhận tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ở mức cao trên mức 4% như: VPBank (4,81%) tương ứng nợ xấu trên 30 nghìn tỷ đồng; OCB (4,14%) hơn 6,5 nghìn tỷ đồng...

Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) ước tính tỷ lệ nợ xấu vào cuối năm 2024 sẽ không thấp hơn con số ghi nhận cuối quý III/2024. Xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục tăng chủ yếu do sự phục hồi chậm chạp của các ngành xây dựng, nông nghiệp, dầu khí và doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng với tác động của cơn bão Yagi đã gây thách thức cho cả doanh nghiệp và cá nhân trong nỗ lực phục hồi sản xuất và kinh doanh. Trước đó, tỷ lệ nợ xấu tăng trong quý thứ 3 liên tiếp, đạt 2,25% trong quý III/2024 và tăng 32 điểm cơ bản so với cuối năm 2023.

Trong khi đó, bộ đệm dự phòng nợ xấu đang mỏng dần với tỷ lệ bao phủ nợ xấu của các ngân hàng niêm yết là 83,5% vào cuối quý III/2024, tăng 1,5 điểm cơ bản theo quý nhưng giảm 13,2% so với cuối năm 2023 và giảm đáng kể so với mức đỉnh 141,5% vào cuối năm 2021. Bộ đệm dự phòng của các ngân hàng niêm yết vẫn còn yếu, thậm chí còn thấp hơn so với mức trước Covid-19 (cuối năm 2019 ở mức 85,4%).

Ngân hàng "nhọc nhằn" thu hồi nợ

Báo cáo từ Tổng cục Thống kê cho thấy, năm 2024, cả nước có hơn 157,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 1,8% về vốn đăng ký và giảm 5,4% về số lao động so với năm trước. Điều này cho thấy khu vực doanh nghiệp phục hồi yếu. Trong khi đó, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng cao hơn cùng kỳ, với số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 100,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 12,4%; gần 76,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 16,3%; hơn 21,6 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 20%.

Sức khỏe tài chính nhiều doanh nghiệp suy giảm kéo theo áp lực nợ xấu

Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu

Năm nay, nền kinh tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn dù con số tăng trưởng tuyệt vời, song sức khỏe tài chính của nhiều doanh nghiệp còn yếu và không đáp ứng tiêu chí, điều kiện để vay vốn ngân hàng. Khi số lượng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa phá sản, ngưng hoạt động tăng mạnh so với năm 2023 có thể kéo nợ xấu tăng. TS. Nguyễn Trí Hiếu

Còn theo chuyên gia - TS. Nguyễn Trí Hiếu, khoản tiền các ngân hàng cho vay nhưng không trở lại ngân hàng, song họ vẫn phải trả tiền cho người dân khi đến hạn, do đó, ngân hàng phải huy động vốn mới để trả vốn cũ bị đọng trong nợ xấu và góp phần đẩy lãi suất huy động tăng cuối năm.

Lý giải nguyên nhân khiến nhiều tài sản, đặc biệt là bất động sản phát mại giá rẻ nhưng không dễ bán, so sánh với kinh nghiệm quốc tế, theo ông Hiếu, tại Mỹ, ngân hàng không được phép tự thẩm định giá bất động sản thương mại, còn tại Việt Nam, hầu hết tất cả các ngân hàng đều tự thẩm định tài sản bảo đảm, kể cả những bất động sản thương mại gây nên nhiều sai sót. Nhiều trường hợp thẩm định tài sản bảo đảm vượt xa giá trị thực tế để vay vốn nên xử lý tài sản gặp khó. Vấn đề mua bán tài sản, mua bán nợ tại Việt Nam thường diễn ra giữa các ngân hàng với nhau, còn mua bán với các tổ chức, đơn vị bên ngoài thường gặp khó.

Cùng với đó, phần nợ tái cơ cấu liệu có phải là nợ xấu "ẩn" sau khi Thông tư 06/2024/TT-NHNN ngày 18/6/2024 (gia hạn Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023) về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn hết hiệu lực vào ngày 31/12/2024 vẫn là một ẩn số.

Từ năm 2020 đến nay, các chính sách tương tự đã được ban hành và sửa đổi tới 6 lần, được coi là một biện pháp trì hoãn thời hạn trả nợ cũng như ghi nhận nợ xấu các khách hàng gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc triển khai các chính sách giúp khách vay ngân hàng không bị mắc nợ xấu và dễ dàng tiếp cận vốn vay mới để sản xuất kinh doanh phục hồi sau đại dịch và bão Yagi. Mặt khác, ngân hàng cũng không bị suy giảm chất lượng tài sản, tháo gỡ phần nào khó khăn trong công tác xử lý nợ xấu.

Nợ xấu có thể tăng đột biến tại các ngân hàng có chất lượng tài sản thấp

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại Thương (VCBS), tỷ lệ nợ gốc tái cơ cấu theo thông tư kể trên tương đối thấp, ước tính dưới mức 0,5%, tỷ lệ nợ tái cơ cấu chuyển thành nợ xấu cũng ở mức thấp. Cùng với đó, các khoản nợ bị ảnh hưởng bởi bão Yagi ghi nhận khoảng 192.000 tỷ đồng, chiếm hơn 1% dư nợ toàn hệ thống.

Nhóm phân tích từ VCBS kỳ vọng, tỷ lệ nợ xấu giảm dần năm 2025 nhờ tỷ lệ nợ xấu tiềm tàng là nợ nhóm 2, nợ tái cơ cấu hạ thấp dần, giúp giảm áp lực chuyển nhóm nợ trong thời gian tới. Bên cạnh đó, các khoản nợ tái cơ cấu trong giai đoạn thử thách ở nhóm 2 và nhóm 3 sẽ chuyển về nhóm nợ thông thường từ quý II/2025 khi dòng tiền và hoạt động kinh doanh của khách hàng phục hồi.

Tuy nhiên, nợ xấu có sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng. Theo đó, nhóm ngân hàng chất lượng tài sản tốt sẽ ghi nhận nợ xấu kiểm soát ở mức vừa phải. Trong khi đó, áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu với một số ngân hàng có tập khách hàng tái cơ cấu chưa thể phục hồi khi Thông tư số 02/2023/TT-NHNN không được gia hạn và rủi ro nợ kéo theo trên Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC), đặc biệt với các doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản, năng lượng có lượng trái phiếu sắp đến hạn lớn. Nhóm ngân hàng có tỷ lệ nợ tái cơ cấu cao, tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp có thể sẽ phải đối mặt với áp lực trích lập tăng cao trong quý IV/2024 - 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80