Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hơn 1 tháng qua, lãi suất huy động nhìn chung ổn định, điều chỉnh chủ yếu ở biên độ hẹp khoảng 0,1 điểm phần trăm/năm, với số ngân hàng tăng áp đảo số giảm. Lãi suất tiền gửi niêm yết bình quân ở mức 4,18%/năm tính đến cuối tháng 7 theo Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, không ít ngân hàng vẫn “ngầm” nâng lãi suất qua các chương trình ưu đãi.
aa
Lãi suất huy động "lặng sóng", lãi vay tiếp đà hạ nhiệt Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp Lãi suất tiết kiệm ngày 12/8: Nhiều ngân hàng trả lãi suất trên 6%/năm

Khảo sát của phóng viên cho thấy, trong hơn 1 tháng qua, diễn biến lãi suất huy động cho thấy mặt bằng chung tương đối ổn định, với các điều chỉnh chủ yếu ở biên độ nhỏ chỉ trên dưới 0,1 điểm phần trăm/năm. Một số ngân hàng tăng nhẹ như: TPBank, VCBNeo, VPBank, Eximbank..., trong khi BaoVietBank và BacABank ghi nhận mức giảm, nhưng số lượng ngân hàng tăng lấn át số giảm.

Lãi suất huy động nhích nhẹ, số ngân hàng tăng áp đảo số giảm

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tại TPBank tăng từ 3,5% lên 3,6%, BaoVietBank cũng điều chỉnh tăng nhẹ 0,1% lên 3,4%, trong khi VCBNeo lên 4,15%. Sang kỳ hạn 3 tháng, mức điều chỉnh cũng không đáng kể, khi TPBank tăng từ 3,8% lên 3,9%, VCBNeo tăng từ 4,25% lên 4,35%, VPBank tăng 0,1% lên 3,6%. Trong khi đó, BacABank giảm nhẹ từ 4,2% xuống 4,1%.

Kỳ hạn 6 tháng chứng kiến các ngân hàng như: VPBank, TPBank và VCBNeo đều nhích nhẹ 0,1 điểm phần trăm, lần lượt lên 4,5%, 4,7% và 5,3%. Ở kỳ hạn 12 tháng, Eximbank tăng từ 4,9% lên 5%, còn BaoVietBank giảm từ 5,4% xuống 5,25%.

Chuyển động ở kỳ hạn 24 tháng cũng khá im ắng, khi VPBank tăng từ 5,1% lên 5,2%, Eximbank từ 5,4% lên 5,5%, ngược lại BaoVietBank giảm từ 5,5 xuống 5,4%.

Riêng Techcombank tăng tại hầu hết các kỳ hạn 0,1% lên 3,15% (kỳ hạn 1 tháng); 3,45% (3 tháng); 4,45% (6 tháng) và 4,65% (12 tháng).

Tổng thể, mức tăng hoặc giảm đều nằm trong biên độ hẹp 0,1 - 0,15 điểm phần trăm, cục bộ theo vài kỳ hạn và ở số ít các ngân hàng.

Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động
Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động. Ảnh minh hoạ.

Thống kê từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, sau khi giảm nhẹ trong tháng 6, mặt bằng lãi suất huy động ghi nhận xu hướng tăng nhẹ trở lại trong tháng 7. Cụ thể, trong số các ngân hàng được theo dõi, có 3 ngân hàng gồm TPBank, VPBank và Eximbank điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động từ 0,1 - 0,2%/năm đối với các kỳ hạn từ 1 - 36 tháng. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng bật tăng mạnh trong thời gian gần đây.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 29/7, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 9,8% so với cuối năm 2024 và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Ước tính, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn khoảng 1,3 - 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng huy động vốn, qua đó tạo áp lực tăng lãi suất huy động ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân nhằm thu hút tiền gửi.

"Đến cuối tháng 7, lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân tăng nhẹ 2 điểm cơ bản so với tháng trước, đạt 4,89% và giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm, trong khi lãi suất của nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn ổn định ở mức 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS nhận định.

Nhiều ngân hàng tìm cách kéo giảm mặt bằng lãi suất

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo VPBank cho biết, về lãi suất niêm yết, trong 6 tháng đầu năm 2025, ngân hàng điều chỉnh giảm ở hầu hết các kỳ hạn. Cụ thể, các kỳ hạn dưới 6 tháng giảm khoảng 0,1 - 0,3%/năm; các kỳ hạn trên 6 tháng cũng giảm tương ứng. Số liệu quý II/2025 cho thấy lãi suất huy động bình quân tiếp tục giảm so với quý I và so với cuối năm 2024.

Lãi suất tiền gửi niêm yết cơ bản ổn định

"Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm. Đến ngày 20/7/2025, lãi suất tiền gửi bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của ngân hàng thương mại ở mức 4,18%/năm, ổn định so với cuối năm 2024; lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,53%/năm, giảm khoảng 0,4%/năm so với cuối năm 2024. Qua theo dõi lãi suất ngân hàng thương mại công bố, từ đầu năm 2025 đến nay, lãi suất tiền gửi niêm yết của các ngân hàng thương mại về cơ bản ổn định so với cuối năm 2024" - ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước.

Trên cơ sở duy trì mặt bằng lãi suất huy động hợp lý, VPBank chủ trương giảm lãi suất cho vay. Tính đến 30/6, ngân hàng triển khai nhiều chương trình ưu đãi cho khách hàng cá nhân, cùng các gói vay mua nhà dự án, vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay mua ô tô... Lãi suất cho vay bình quân đối với khách hàng cá nhân giảm 0,9% so với cuối năm 2024 tính trên các khoản các khoản giải ngân mới, trong khi lãi suất cho vay với doanh nghiệp giảm 0,2%.

Cũng theo đại diện VietinBank, tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng nửa đầu năm đạt 12%, cao hơn mức bình quân chung.

Hiện ngân hàng triển khai nhiều gói tín dụng ưu đãi, tập trung các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ; riêng các gói tín dụng trọng điểm chiếm khoảng 60% tổng mức tăng tín dụng. Còn lãi suất cho vay năm 2025 giảm 0,5 điểm phần trăm so với cuối năm 2024. Để tiết kiệm chi phí vốn, ngân hàng tích cực chuyển đổi số để làm sao có thể thu hút được nguồn vốn một cách tốt nhất.

Đại diện VietinBank khẳng định, cùng các ngân hàng khác, đơn vị tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân, thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, qua đó hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Cũng theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, diễn biến lãi suất nhận được sự quan tâm đặc biệt và chỉ đạo sát sao từ Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng đã giao Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo dõi chặt chẽ việc ổn định lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay tại các tổ chức tín dụng và đưa ra giải pháp phù hợp, qua đó, hỗ trợ phát triển kinh tế./.

Ngân hàng "ngầm" đẩy lãi suất huy động cao để hút vốn giữa áp lực thanh khoản

Tuy nhiên, điều đáng nói, không ít ngân hàng lấy biểu lãi suất niêm yết thông thường làm "màn che", nhưng lại "ngầm" đẩy lãi suất huy động lên cao theo nhiều chương trình. Đơn cử, tại một ngân hàng có quy mô tiền gửi của khách hàng dưới 100.000 tỷ đồng tính đến cuối quý II/2025, ngân hàng đang triển khai nhiều chương trình tiền gửi với lãi suất nổi bật so với mặt bằng chung, áp dụng từ ngày 21/4 và kéo dài cho đến khi có thông báo thay thế. Tuy nhiên, trên trang web đã ẩn đi hết các chương trình này mà triển khai dưới các phòng giao dịch.

Đơn cử, một chương trình trả mức lãi suất ở mức cao, khoảng 5,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 6,2%/năm cho 12 tháng và 6,5%/năm cho 18 tháng, điều kiện tương đối dễ đáp ứng, dành cho khách hàng mới mở sổ trong thời gian triển khai, gửi tối thiểu 100 triệu đồng và duy trì số dư tối thiểu trên tài khoản thanh toán theo quy định.

Cùng với đó, còn có một số điều khoản đi kèm như: chương trình áp dụng phương thức lĩnh lãi trả trước nhưng khoản lãi sẽ được phong tỏa và chỉ giải tỏa khi đến hạn tất toán, sổ tiết kiệm này cũng không cho phép rút trước hạn một phần, không tự động tái tục. Nếu chương trình còn hiệu lực tại thời điểm tất toán, khách hàng có thể tái tham gia.

Tại một ngân hàng tư nhân lớn, bất chấp mặt bằng lãi suất thấp, quy mô huy động tiền gửi khách hàng vẫn tăng gần 24% trong nửa đầu năm 2025, đạt hơn 600.000 tỷ đồng. Ngân hàng triển khai nhiều chương trình ưu đãi, trong đó, khách hàng gửi trực tuyến từ 300 triệu đồng trở lên với kỳ hạn 6 tháng được cộng thêm 1,2%/năm, nâng lãi suất lên 5,8%/năm, cao hơn đáng kể mức niêm yết tại quầy 4,5%/năm và cao hơn cả so với đầu năm.

Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, trong bối cảnh lãi suất cho vay khó có dư địa tăng do yêu cầu của nhà điều hành, lãi suất huy động lại âm thầm nhích lên do thanh khoản hệ thống ở mức thấp. Thực tế, nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng “ngầm” thay vì công khai niêm yết, nhằm thu hút tiền gửi./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Dù kinh doanh thua lỗ, hoạt động gần như "đóng băng", Công ty cổ phần Đầu tư hội nhập Toàn Cầu vẫn gắn với những khoản huy động hàng trăm tỷ đồng, từ lô trái phiếu 190 tỷ đồng đến các giao dịch bảo đảm có giá trị khoản vay hàng trăm tỷ đồng tại PVComBank Chi nhánh Đống Đa. Phía sau các nghĩa vụ hàng trăm tỷ đồng là tài sản bảo đảm chỉ vài nghìn cổ phần, gắn với mạng lưới doanh nghiệp đan xen.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 ▼30K 14,380 ▼30K
Trang sức 99.99 13,790 ▼30K 14,390 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,863 25,913 26,250
USD20 25,813 25,913 26,794
USD1 25,763 25,913 26,844
AUD 18,051 18,151 19,255
EUR 29,343 29,443 31,101
CAD 18,260 18,360 19,664
SGD 20,032 20,182 20,736
JPY 160.33 161.83 167.38
GBP 34,519 34,669 35,850
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80