Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hơn 1 tháng qua, lãi suất huy động nhìn chung ổn định, điều chỉnh chủ yếu ở biên độ hẹp khoảng 0,1 điểm phần trăm/năm, với số ngân hàng tăng áp đảo số giảm. Lãi suất tiền gửi niêm yết bình quân ở mức 4,18%/năm tính đến cuối tháng 7 theo Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, không ít ngân hàng vẫn “ngầm” nâng lãi suất qua các chương trình ưu đãi.
aa
Lãi suất huy động "lặng sóng", lãi vay tiếp đà hạ nhiệt Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp Lãi suất tiết kiệm ngày 12/8: Nhiều ngân hàng trả lãi suất trên 6%/năm

Khảo sát của phóng viên cho thấy, trong hơn 1 tháng qua, diễn biến lãi suất huy động cho thấy mặt bằng chung tương đối ổn định, với các điều chỉnh chủ yếu ở biên độ nhỏ chỉ trên dưới 0,1 điểm phần trăm/năm. Một số ngân hàng tăng nhẹ như: TPBank, VCBNeo, VPBank, Eximbank..., trong khi BaoVietBank và BacABank ghi nhận mức giảm, nhưng số lượng ngân hàng tăng lấn át số giảm.

Lãi suất huy động nhích nhẹ, số ngân hàng tăng áp đảo số giảm

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tại TPBank tăng từ 3,5% lên 3,6%, BaoVietBank cũng điều chỉnh tăng nhẹ 0,1% lên 3,4%, trong khi VCBNeo lên 4,15%. Sang kỳ hạn 3 tháng, mức điều chỉnh cũng không đáng kể, khi TPBank tăng từ 3,8% lên 3,9%, VCBNeo tăng từ 4,25% lên 4,35%, VPBank tăng 0,1% lên 3,6%. Trong khi đó, BacABank giảm nhẹ từ 4,2% xuống 4,1%.

Kỳ hạn 6 tháng chứng kiến các ngân hàng như: VPBank, TPBank và VCBNeo đều nhích nhẹ 0,1 điểm phần trăm, lần lượt lên 4,5%, 4,7% và 5,3%. Ở kỳ hạn 12 tháng, Eximbank tăng từ 4,9% lên 5%, còn BaoVietBank giảm từ 5,4% xuống 5,25%.

Chuyển động ở kỳ hạn 24 tháng cũng khá im ắng, khi VPBank tăng từ 5,1% lên 5,2%, Eximbank từ 5,4% lên 5,5%, ngược lại BaoVietBank giảm từ 5,5 xuống 5,4%.

Riêng Techcombank tăng tại hầu hết các kỳ hạn 0,1% lên 3,15% (kỳ hạn 1 tháng); 3,45% (3 tháng); 4,45% (6 tháng) và 4,65% (12 tháng).

Tổng thể, mức tăng hoặc giảm đều nằm trong biên độ hẹp 0,1 - 0,15 điểm phần trăm, cục bộ theo vài kỳ hạn và ở số ít các ngân hàng.

Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động
Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động. Ảnh minh hoạ.

Thống kê từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, sau khi giảm nhẹ trong tháng 6, mặt bằng lãi suất huy động ghi nhận xu hướng tăng nhẹ trở lại trong tháng 7. Cụ thể, trong số các ngân hàng được theo dõi, có 3 ngân hàng gồm TPBank, VPBank và Eximbank điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động từ 0,1 - 0,2%/năm đối với các kỳ hạn từ 1 - 36 tháng. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng bật tăng mạnh trong thời gian gần đây.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 29/7, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 9,8% so với cuối năm 2024 và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Ước tính, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn khoảng 1,3 - 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng huy động vốn, qua đó tạo áp lực tăng lãi suất huy động ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân nhằm thu hút tiền gửi.

"Đến cuối tháng 7, lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân tăng nhẹ 2 điểm cơ bản so với tháng trước, đạt 4,89% và giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm, trong khi lãi suất của nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn ổn định ở mức 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS nhận định.

Nhiều ngân hàng tìm cách kéo giảm mặt bằng lãi suất

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo VPBank cho biết, về lãi suất niêm yết, trong 6 tháng đầu năm 2025, ngân hàng điều chỉnh giảm ở hầu hết các kỳ hạn. Cụ thể, các kỳ hạn dưới 6 tháng giảm khoảng 0,1 - 0,3%/năm; các kỳ hạn trên 6 tháng cũng giảm tương ứng. Số liệu quý II/2025 cho thấy lãi suất huy động bình quân tiếp tục giảm so với quý I và so với cuối năm 2024.

Lãi suất tiền gửi niêm yết cơ bản ổn định

"Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm. Đến ngày 20/7/2025, lãi suất tiền gửi bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của ngân hàng thương mại ở mức 4,18%/năm, ổn định so với cuối năm 2024; lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,53%/năm, giảm khoảng 0,4%/năm so với cuối năm 2024. Qua theo dõi lãi suất ngân hàng thương mại công bố, từ đầu năm 2025 đến nay, lãi suất tiền gửi niêm yết của các ngân hàng thương mại về cơ bản ổn định so với cuối năm 2024" - ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước.

Trên cơ sở duy trì mặt bằng lãi suất huy động hợp lý, VPBank chủ trương giảm lãi suất cho vay. Tính đến 30/6, ngân hàng triển khai nhiều chương trình ưu đãi cho khách hàng cá nhân, cùng các gói vay mua nhà dự án, vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay mua ô tô... Lãi suất cho vay bình quân đối với khách hàng cá nhân giảm 0,9% so với cuối năm 2024 tính trên các khoản các khoản giải ngân mới, trong khi lãi suất cho vay với doanh nghiệp giảm 0,2%.

Cũng theo đại diện VietinBank, tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng nửa đầu năm đạt 12%, cao hơn mức bình quân chung.

Hiện ngân hàng triển khai nhiều gói tín dụng ưu đãi, tập trung các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ; riêng các gói tín dụng trọng điểm chiếm khoảng 60% tổng mức tăng tín dụng. Còn lãi suất cho vay năm 2025 giảm 0,5 điểm phần trăm so với cuối năm 2024. Để tiết kiệm chi phí vốn, ngân hàng tích cực chuyển đổi số để làm sao có thể thu hút được nguồn vốn một cách tốt nhất.

Đại diện VietinBank khẳng định, cùng các ngân hàng khác, đơn vị tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân, thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, qua đó hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Cũng theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, diễn biến lãi suất nhận được sự quan tâm đặc biệt và chỉ đạo sát sao từ Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng đã giao Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo dõi chặt chẽ việc ổn định lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay tại các tổ chức tín dụng và đưa ra giải pháp phù hợp, qua đó, hỗ trợ phát triển kinh tế./.

Ngân hàng "ngầm" đẩy lãi suất huy động cao để hút vốn giữa áp lực thanh khoản

Tuy nhiên, điều đáng nói, không ít ngân hàng lấy biểu lãi suất niêm yết thông thường làm "màn che", nhưng lại "ngầm" đẩy lãi suất huy động lên cao theo nhiều chương trình. Đơn cử, tại một ngân hàng có quy mô tiền gửi của khách hàng dưới 100.000 tỷ đồng tính đến cuối quý II/2025, ngân hàng đang triển khai nhiều chương trình tiền gửi với lãi suất nổi bật so với mặt bằng chung, áp dụng từ ngày 21/4 và kéo dài cho đến khi có thông báo thay thế. Tuy nhiên, trên trang web đã ẩn đi hết các chương trình này mà triển khai dưới các phòng giao dịch.

Đơn cử, một chương trình trả mức lãi suất ở mức cao, khoảng 5,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 6,2%/năm cho 12 tháng và 6,5%/năm cho 18 tháng, điều kiện tương đối dễ đáp ứng, dành cho khách hàng mới mở sổ trong thời gian triển khai, gửi tối thiểu 100 triệu đồng và duy trì số dư tối thiểu trên tài khoản thanh toán theo quy định.

Cùng với đó, còn có một số điều khoản đi kèm như: chương trình áp dụng phương thức lĩnh lãi trả trước nhưng khoản lãi sẽ được phong tỏa và chỉ giải tỏa khi đến hạn tất toán, sổ tiết kiệm này cũng không cho phép rút trước hạn một phần, không tự động tái tục. Nếu chương trình còn hiệu lực tại thời điểm tất toán, khách hàng có thể tái tham gia.

Tại một ngân hàng tư nhân lớn, bất chấp mặt bằng lãi suất thấp, quy mô huy động tiền gửi khách hàng vẫn tăng gần 24% trong nửa đầu năm 2025, đạt hơn 600.000 tỷ đồng. Ngân hàng triển khai nhiều chương trình ưu đãi, trong đó, khách hàng gửi trực tuyến từ 300 triệu đồng trở lên với kỳ hạn 6 tháng được cộng thêm 1,2%/năm, nâng lãi suất lên 5,8%/năm, cao hơn đáng kể mức niêm yết tại quầy 4,5%/năm và cao hơn cả so với đầu năm.

Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, trong bối cảnh lãi suất cho vay khó có dư địa tăng do yêu cầu của nhà điều hành, lãi suất huy động lại âm thầm nhích lên do thanh khoản hệ thống ở mức thấp. Thực tế, nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng “ngầm” thay vì công khai niêm yết, nhằm thu hút tiền gửi./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần lập đỉnh và mảng dịch vụ tăng trưởng tích cực. Dư nợ cho vay hợp nhất đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm, trong khi kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.
Giá vàng hôm nay ngày 29/4: Giá vàng trong nước giảm sâu về vùng 162,5 - 166 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 29/4: Giá vàng trong nước giảm sâu về vùng 162,5 - 166 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/4 tiếp tục điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức giảm phổ biến 1,5 - 1,9 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 29/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.113 đồng, kéo biên độ giao dịch USD tại ngân hàng lên 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD, trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. DXY lùi về 98,6 điểm, giá dầu hạ nhiệt sau thông tin UAE rời OPEC nhưng vẫn nhạy cảm trước rủi ro địa chính trị, khi WB cảnh báo giá năng lượng có thể tăng 24% trong năm 2026, kéo theo áp lực lạm phát gia tăng.
Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của VIB vượt 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (mã ck: VIB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với lợi nhuận trước thuế đạt hơn 2.800 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025.
F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

F88 báo lãi 303 tỷ đồng trong quý I/2026, doanh thu cho vay và bảo hiểm đồng loạt tăng tốc

(TBTCO) - Quý I/2026, lợi nhuận trước thuế của F88 đạt 303 tỷ đồng, tăng 129,4% so với cùng kỳ; dư nợ cho vay đạt gần 7.900 tỷ đồng, tăng 9,4%. Tính đến hết tháng 3/2026, tổng vay và trái phiếu phát hành của F88 đạt khoảng 3.960,8 tỷ đồng, tăng khoảng 10,5% so với đầu năm.
Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

Lite X - giải pháp công nghệ tăng thu phí bảo hiểm trên kênh số cho ngân hàng và ví điện tử

(TBTCO) - Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các ngân hàng và ví điện tử tại Việt Nam đang mở rộng từ dịch vụ tài chính cơ bản sang mô hình hệ sinh thái tích hợp. Người dùng không chỉ chuyển tiền hay thanh toán, mà còn kỳ vọng thực hiện nhiều nhu cầu tài chính trên cùng một nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 ▼150K 16,600 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,300 ▼150K 16,600 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▼200K 16,550 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,150 ▼250K 15,350 ▼250K
Nguyên Liệu 99.9 15,100 ▼250K 15,300 ▼250K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼250K 16,400 ▼250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼250K 16,350 ▼250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼250K 16,330 ▼250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Hà Nội - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Đà Nẵng - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Miền Tây - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Tây Nguyên - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 ▼1900K 165,600 ▼1900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,300 ▼200K 16,600 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▼150K 16,550 ▼150K
NL 99.90 15,050 ▼280K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼280K
Trang sức 99.9 15,740 ▼150K 16,440 ▼150K
Trang sức 99.99 15,750 ▼150K 16,450 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 ▼1482K 16,602 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 ▼1482K 16,603 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 ▲1461K 1,655 ▲1488K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 ▲1461K 1,656 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 ▲1443K 164 ▼1491K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 ▼1485K 162,376 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 ▼1125K 123,162 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 ▼1020K 111,681 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 ▼91302K 1,002 ▼100113K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 ▼874K 95,772 ▼874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 ▲53618K 68,545 ▲61628K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▼1482K 166 ▼1509K
Cập nhật: 29/04/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18343 18619 19194
CAD 18731 19009 19625
CHF 32745 33130 33770
CNY 0 3817 3909
EUR 30205 30479 31504
GBP 34776 35169 36103
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15146 15734
SGD 20090 20372 20898
THB 723 786 839
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26368
AUD 18517 18617 19542
CAD 18900 19000 20011
CHF 32989 33019 34601
CNY 3793.6 3818.6 3954.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35097 35147 36911
HKD 0 3355 0
JPY 161.55 162.05 172.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15239 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20249 20379 21108
THB 0 753.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,171 26,221 26,368
USD20 26,171 26,221 26,368
USD1 26,171 26,221 26,368
AUD 18,565 18,665 19,772
EUR 30,543 30,543 31,951
CAD 18,845 18,945 20,255
SGD 20,329 20,479 21,280
JPY 162 163.5 168.07
GBP 34,995 35,345 36,212
XAU 16,298,000 0 16,602,000
CNY 0 3,703 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/04/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80