Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hơn 1 tháng qua, lãi suất huy động nhìn chung ổn định, điều chỉnh chủ yếu ở biên độ hẹp khoảng 0,1 điểm phần trăm/năm, với số ngân hàng tăng áp đảo số giảm. Lãi suất tiền gửi niêm yết bình quân ở mức 4,18%/năm tính đến cuối tháng 7 theo Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, không ít ngân hàng vẫn “ngầm” nâng lãi suất qua các chương trình ưu đãi.
aa
Lãi suất huy động "lặng sóng", lãi vay tiếp đà hạ nhiệt Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp Lãi suất tiết kiệm ngày 12/8: Nhiều ngân hàng trả lãi suất trên 6%/năm

Khảo sát của phóng viên cho thấy, trong hơn 1 tháng qua, diễn biến lãi suất huy động cho thấy mặt bằng chung tương đối ổn định, với các điều chỉnh chủ yếu ở biên độ nhỏ chỉ trên dưới 0,1 điểm phần trăm/năm. Một số ngân hàng tăng nhẹ như: TPBank, VCBNeo, VPBank, Eximbank..., trong khi BaoVietBank và BacABank ghi nhận mức giảm, nhưng số lượng ngân hàng tăng lấn át số giảm.

Lãi suất huy động nhích nhẹ, số ngân hàng tăng áp đảo số giảm

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tại TPBank tăng từ 3,5% lên 3,6%, BaoVietBank cũng điều chỉnh tăng nhẹ 0,1% lên 3,4%, trong khi VCBNeo lên 4,15%. Sang kỳ hạn 3 tháng, mức điều chỉnh cũng không đáng kể, khi TPBank tăng từ 3,8% lên 3,9%, VCBNeo tăng từ 4,25% lên 4,35%, VPBank tăng 0,1% lên 3,6%. Trong khi đó, BacABank giảm nhẹ từ 4,2% xuống 4,1%.

Kỳ hạn 6 tháng chứng kiến các ngân hàng như: VPBank, TPBank và VCBNeo đều nhích nhẹ 0,1 điểm phần trăm, lần lượt lên 4,5%, 4,7% và 5,3%. Ở kỳ hạn 12 tháng, Eximbank tăng từ 4,9% lên 5%, còn BaoVietBank giảm từ 5,4% xuống 5,25%.

Chuyển động ở kỳ hạn 24 tháng cũng khá im ắng, khi VPBank tăng từ 5,1% lên 5,2%, Eximbank từ 5,4% lên 5,5%, ngược lại BaoVietBank giảm từ 5,5 xuống 5,4%.

Riêng Techcombank tăng tại hầu hết các kỳ hạn 0,1% lên 3,15% (kỳ hạn 1 tháng); 3,45% (3 tháng); 4,45% (6 tháng) và 4,65% (12 tháng).

Tổng thể, mức tăng hoặc giảm đều nằm trong biên độ hẹp 0,1 - 0,15 điểm phần trăm, cục bộ theo vài kỳ hạn và ở số ít các ngân hàng.

Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động
Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động. Ảnh minh hoạ.

Thống kê từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, sau khi giảm nhẹ trong tháng 6, mặt bằng lãi suất huy động ghi nhận xu hướng tăng nhẹ trở lại trong tháng 7. Cụ thể, trong số các ngân hàng được theo dõi, có 3 ngân hàng gồm TPBank, VPBank và Eximbank điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động từ 0,1 - 0,2%/năm đối với các kỳ hạn từ 1 - 36 tháng. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng bật tăng mạnh trong thời gian gần đây.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 29/7, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 9,8% so với cuối năm 2024 và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Ước tính, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn khoảng 1,3 - 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng huy động vốn, qua đó tạo áp lực tăng lãi suất huy động ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân nhằm thu hút tiền gửi.

"Đến cuối tháng 7, lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân tăng nhẹ 2 điểm cơ bản so với tháng trước, đạt 4,89% và giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm, trong khi lãi suất của nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn ổn định ở mức 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS nhận định.

Nhiều ngân hàng tìm cách kéo giảm mặt bằng lãi suất

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo VPBank cho biết, về lãi suất niêm yết, trong 6 tháng đầu năm 2025, ngân hàng điều chỉnh giảm ở hầu hết các kỳ hạn. Cụ thể, các kỳ hạn dưới 6 tháng giảm khoảng 0,1 - 0,3%/năm; các kỳ hạn trên 6 tháng cũng giảm tương ứng. Số liệu quý II/2025 cho thấy lãi suất huy động bình quân tiếp tục giảm so với quý I và so với cuối năm 2024.

Lãi suất tiền gửi niêm yết cơ bản ổn định

"Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm. Đến ngày 20/7/2025, lãi suất tiền gửi bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của ngân hàng thương mại ở mức 4,18%/năm, ổn định so với cuối năm 2024; lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,53%/năm, giảm khoảng 0,4%/năm so với cuối năm 2024. Qua theo dõi lãi suất ngân hàng thương mại công bố, từ đầu năm 2025 đến nay, lãi suất tiền gửi niêm yết của các ngân hàng thương mại về cơ bản ổn định so với cuối năm 2024" - ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước.

Trên cơ sở duy trì mặt bằng lãi suất huy động hợp lý, VPBank chủ trương giảm lãi suất cho vay. Tính đến 30/6, ngân hàng triển khai nhiều chương trình ưu đãi cho khách hàng cá nhân, cùng các gói vay mua nhà dự án, vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay mua ô tô... Lãi suất cho vay bình quân đối với khách hàng cá nhân giảm 0,9% so với cuối năm 2024 tính trên các khoản các khoản giải ngân mới, trong khi lãi suất cho vay với doanh nghiệp giảm 0,2%.

Cũng theo đại diện VietinBank, tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng nửa đầu năm đạt 12%, cao hơn mức bình quân chung.

Hiện ngân hàng triển khai nhiều gói tín dụng ưu đãi, tập trung các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ; riêng các gói tín dụng trọng điểm chiếm khoảng 60% tổng mức tăng tín dụng. Còn lãi suất cho vay năm 2025 giảm 0,5 điểm phần trăm so với cuối năm 2024. Để tiết kiệm chi phí vốn, ngân hàng tích cực chuyển đổi số để làm sao có thể thu hút được nguồn vốn một cách tốt nhất.

Đại diện VietinBank khẳng định, cùng các ngân hàng khác, đơn vị tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân, thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, qua đó hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Cũng theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, diễn biến lãi suất nhận được sự quan tâm đặc biệt và chỉ đạo sát sao từ Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng đã giao Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo dõi chặt chẽ việc ổn định lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay tại các tổ chức tín dụng và đưa ra giải pháp phù hợp, qua đó, hỗ trợ phát triển kinh tế./.

Ngân hàng "ngầm" đẩy lãi suất huy động cao để hút vốn giữa áp lực thanh khoản

Tuy nhiên, điều đáng nói, không ít ngân hàng lấy biểu lãi suất niêm yết thông thường làm "màn che", nhưng lại "ngầm" đẩy lãi suất huy động lên cao theo nhiều chương trình. Đơn cử, tại một ngân hàng có quy mô tiền gửi của khách hàng dưới 100.000 tỷ đồng tính đến cuối quý II/2025, ngân hàng đang triển khai nhiều chương trình tiền gửi với lãi suất nổi bật so với mặt bằng chung, áp dụng từ ngày 21/4 và kéo dài cho đến khi có thông báo thay thế. Tuy nhiên, trên trang web đã ẩn đi hết các chương trình này mà triển khai dưới các phòng giao dịch.

Đơn cử, một chương trình trả mức lãi suất ở mức cao, khoảng 5,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 6,2%/năm cho 12 tháng và 6,5%/năm cho 18 tháng, điều kiện tương đối dễ đáp ứng, dành cho khách hàng mới mở sổ trong thời gian triển khai, gửi tối thiểu 100 triệu đồng và duy trì số dư tối thiểu trên tài khoản thanh toán theo quy định.

Cùng với đó, còn có một số điều khoản đi kèm như: chương trình áp dụng phương thức lĩnh lãi trả trước nhưng khoản lãi sẽ được phong tỏa và chỉ giải tỏa khi đến hạn tất toán, sổ tiết kiệm này cũng không cho phép rút trước hạn một phần, không tự động tái tục. Nếu chương trình còn hiệu lực tại thời điểm tất toán, khách hàng có thể tái tham gia.

Tại một ngân hàng tư nhân lớn, bất chấp mặt bằng lãi suất thấp, quy mô huy động tiền gửi khách hàng vẫn tăng gần 24% trong nửa đầu năm 2025, đạt hơn 600.000 tỷ đồng. Ngân hàng triển khai nhiều chương trình ưu đãi, trong đó, khách hàng gửi trực tuyến từ 300 triệu đồng trở lên với kỳ hạn 6 tháng được cộng thêm 1,2%/năm, nâng lãi suất lên 5,8%/năm, cao hơn đáng kể mức niêm yết tại quầy 4,5%/năm và cao hơn cả so với đầu năm.

Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, trong bối cảnh lãi suất cho vay khó có dư địa tăng do yêu cầu của nhà điều hành, lãi suất huy động lại âm thầm nhích lên do thanh khoản hệ thống ở mức thấp. Thực tế, nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng “ngầm” thay vì công khai niêm yết, nhằm thu hút tiền gửi./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới

ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới

(TBTCO) - ROX Living vừa nâng tỷ lệ sở hữu tại MSB lên trên 1% vốn điều lệ sau khi mua thành công gần 18,3 triệu cổ phiếu trong tổng số 100 triệu cổ phiếu đăng ký. Động thái này diễn ra khi cơ cấu cổ đông lớn của MSB có nhiều biến động, xuất hiện thêm một số tên tuổi mới.
BIDV là Ngân hàng thanh toán duy nhất cho thị trường giao dịch các-bon tại Việt Nam

BIDV là Ngân hàng thanh toán duy nhất cho thị trường giao dịch các-bon tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 9/6/2026, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 5170/UBCK-PTTT về việc lựa chọn ngân hàng thanh toán cho thị trường giao dịch các-bon trong nước. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV; mã Ck: BID) đã chính thức trở thành Ngân hàng duy nhất cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon trên sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

(TBTCO) - Top 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 12.710 tỷ đồng trong quý đầu năm, chiếm gần 52% thị phần; trong đó, DBV vươn lên vị trí thứ 4 và MIC trở lại top 5, cho thấy cuộc đua thị phần ngày càng nóng lên. Chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu và mở rộng thị phần.
NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

(TBTCO) - Với NCB Visa Sun Signature, lần đầu tiên khách hàng có thể sở hữu một chiếc thẻ tín dụng ngân hàng tích hợp đồng thời các đặc quyền dành cho hội viên trong hệ sinh thái du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, bất động sản, hàng không và y tế cao cấp hàng đầu Việt Nam.
Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Sau nhịp điều chỉnh sâu, giá vàng còn nhiều động lực lấy lại mốc 5.000 USD/ounce

Sau nhịp điều chỉnh sâu, giá vàng còn nhiều động lực lấy lại mốc 5.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới đang trong giai đoạn tích lũy và điều chỉnh sau chuỗi tăng mạnh trước đó. Có quan điểm cho rằng, giá vàng có thể giảm xuống dưới ngưỡng 4.000 USD/ounce và tìm điểm cân bằng quanh 3.900 USD/ounce, song triển vọng dài hạn vẫn tích cực. Theo nhóm phân tích của Ngân hàng UOB, giá vàng có thể lên tới 5.200 USD/ounce trong quý II/2027.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Kim TT/AVPL 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▲550K 14,600 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▲550K 14,550 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,500 ▲250K 14,900 ▲250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,450 ▲250K 14,850 ▲250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,380 ▲250K 14,830 ▲250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Nghệ An 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Thái Bình 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
NL 99.90 13,900 ▲450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,950 ▲450K
Trang sức 99.9 14,240 ▲350K 14,940 ▲350K
Trang sức 99.99 14,250 ▲350K 14,950 ▲350K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 ▲4K 15,052 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 ▲4K 15,053 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 ▲40K 1,504 ▲35K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 ▲40K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 ▲40K 1,489 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,426 ▲126730K 147,426 ▲133030K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,336 ▲2625K 111,836 ▲2625K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,912 ▲2380K 101,412 ▲2380K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,488 ▲2135K 90,988 ▲2135K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,467 ▲2040K 86,967 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,748 ▲1460K 62,248 ▲1460K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cập nhật: 15/06/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18053 18328 18912
CAD 18283 18559 19178
CHF 32504 32888 33538
CNY 0 3849 3942
EUR 29886 30109 31192
GBP 34485 34877 35815
HKD 0 3224 3427
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15638
SGD 19961 20243 20823
THB 723 786 839
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 30,010 30,034 31,393
JPY 159.81 160.1 169.37
GBP 34,721 34,815 35,934
AUD 18,262 18,328 18,977
CAD 18,474 18,533 19,172
CHF 32,715 32,817 33,701
SGD 20,093 20,155 20,902
CNY - 3,819 3,955
HKD 3,290 3,300 3,431
KRW 16.01 16.7 18.12
THB 769.65 779.16 832
NZD 15,049 15,189 15,604
SEK - 2,756 2,847
DKK - 4,015 4,147
NOK - 2,723 2,812
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,075.17 - 6,842.18
TWD 752.68 - 909.68
SAR - 6,892.18 7,242.86
KWD - 83,429 88,559
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,423
EUR 29,963 30,083 31,272
GBP 34,754 34,894 35,914
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,568 32,699 33,616
JPY 160.23 160.87 168.71
AUD 18,254 18,327 18,920
SGD 20,186 20,267 20,853
THB 788 791 825
CAD 18,496 18,570 19,135
NZD 15,136 15,674
KRW 16.73 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26127 26127 26423
AUD 18234 18334 19265
CAD 18461 18561 19575
CHF 32731 32761 34348
CNY 3830.1 3855.1 3990.2
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30060 30090 31815
GBP 34792 34842 36610
HKD 0 3355 0
JPY 160.62 161.12 171.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15156 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20121 20251 20980
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15050000
SBJ 13000000 13000000 15050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,117 26,167 26,423
USD20 26,117 26,167 26,423
USD1 23,907 26,167 26,423
AUD 18,285 18,385 19,498
EUR 30,206 30,206 31,616
CAD 18,407 18,507 19,814
SGD 20,208 20,358 20,913
JPY 161.2 162.7 167.24
GBP 34,719 35,069 35,932
XAU 14,789,000 0 15,052,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/06/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80