Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động

(TBTCO) - Hơn 1 tháng qua, lãi suất huy động nhìn chung ổn định, điều chỉnh chủ yếu ở biên độ hẹp khoảng 0,1 điểm phần trăm/năm, với số ngân hàng tăng áp đảo số giảm. Lãi suất tiền gửi niêm yết bình quân ở mức 4,18%/năm tính đến cuối tháng 7 theo Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, không ít ngân hàng vẫn “ngầm” nâng lãi suất qua các chương trình ưu đãi.
aa
Lãi suất huy động "lặng sóng", lãi vay tiếp đà hạ nhiệt Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp Lãi suất tiết kiệm ngày 12/8: Nhiều ngân hàng trả lãi suất trên 6%/năm

Khảo sát của phóng viên cho thấy, trong hơn 1 tháng qua, diễn biến lãi suất huy động cho thấy mặt bằng chung tương đối ổn định, với các điều chỉnh chủ yếu ở biên độ nhỏ chỉ trên dưới 0,1 điểm phần trăm/năm. Một số ngân hàng tăng nhẹ như: TPBank, VCBNeo, VPBank, Eximbank..., trong khi BaoVietBank và BacABank ghi nhận mức giảm, nhưng số lượng ngân hàng tăng lấn át số giảm.

Lãi suất huy động nhích nhẹ, số ngân hàng tăng áp đảo số giảm

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tại TPBank tăng từ 3,5% lên 3,6%, BaoVietBank cũng điều chỉnh tăng nhẹ 0,1% lên 3,4%, trong khi VCBNeo lên 4,15%. Sang kỳ hạn 3 tháng, mức điều chỉnh cũng không đáng kể, khi TPBank tăng từ 3,8% lên 3,9%, VCBNeo tăng từ 4,25% lên 4,35%, VPBank tăng 0,1% lên 3,6%. Trong khi đó, BacABank giảm nhẹ từ 4,2% xuống 4,1%.

Kỳ hạn 6 tháng chứng kiến các ngân hàng như: VPBank, TPBank và VCBNeo đều nhích nhẹ 0,1 điểm phần trăm, lần lượt lên 4,5%, 4,7% và 5,3%. Ở kỳ hạn 12 tháng, Eximbank tăng từ 4,9% lên 5%, còn BaoVietBank giảm từ 5,4% xuống 5,25%.

Chuyển động ở kỳ hạn 24 tháng cũng khá im ắng, khi VPBank tăng từ 5,1% lên 5,2%, Eximbank từ 5,4% lên 5,5%, ngược lại BaoVietBank giảm từ 5,5 xuống 5,4%.

Riêng Techcombank tăng tại hầu hết các kỳ hạn 0,1% lên 3,15% (kỳ hạn 1 tháng); 3,45% (3 tháng); 4,45% (6 tháng) và 4,65% (12 tháng).

Tổng thể, mức tăng hoặc giảm đều nằm trong biên độ hẹp 0,1 - 0,15 điểm phần trăm, cục bộ theo vài kỳ hạn và ở số ít các ngân hàng.

Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động
Lãi suất niêm yết ổn định, ưu đãi “ngầm” tạo sóng huy động. Ảnh minh hoạ.

Thống kê từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, sau khi giảm nhẹ trong tháng 6, mặt bằng lãi suất huy động ghi nhận xu hướng tăng nhẹ trở lại trong tháng 7. Cụ thể, trong số các ngân hàng được theo dõi, có 3 ngân hàng gồm TPBank, VPBank và Eximbank điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động từ 0,1 - 0,2%/năm đối với các kỳ hạn từ 1 - 36 tháng. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng bật tăng mạnh trong thời gian gần đây.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 29/7, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 9,8% so với cuối năm 2024 và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Ước tính, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn khoảng 1,3 - 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng huy động vốn, qua đó tạo áp lực tăng lãi suất huy động ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân nhằm thu hút tiền gửi.

"Đến cuối tháng 7, lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân tăng nhẹ 2 điểm cơ bản so với tháng trước, đạt 4,89% và giảm 16 điểm cơ bản so với đầu năm, trong khi lãi suất của nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn ổn định ở mức 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS nhận định.

Nhiều ngân hàng tìm cách kéo giảm mặt bằng lãi suất

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo VPBank cho biết, về lãi suất niêm yết, trong 6 tháng đầu năm 2025, ngân hàng điều chỉnh giảm ở hầu hết các kỳ hạn. Cụ thể, các kỳ hạn dưới 6 tháng giảm khoảng 0,1 - 0,3%/năm; các kỳ hạn trên 6 tháng cũng giảm tương ứng. Số liệu quý II/2025 cho thấy lãi suất huy động bình quân tiếp tục giảm so với quý I và so với cuối năm 2024.

Lãi suất tiền gửi niêm yết cơ bản ổn định

"Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng giảm. Đến ngày 20/7/2025, lãi suất tiền gửi bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của ngân hàng thương mại ở mức 4,18%/năm, ổn định so với cuối năm 2024; lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,53%/năm, giảm khoảng 0,4%/năm so với cuối năm 2024. Qua theo dõi lãi suất ngân hàng thương mại công bố, từ đầu năm 2025 đến nay, lãi suất tiền gửi niêm yết của các ngân hàng thương mại về cơ bản ổn định so với cuối năm 2024" - ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước.

Trên cơ sở duy trì mặt bằng lãi suất huy động hợp lý, VPBank chủ trương giảm lãi suất cho vay. Tính đến 30/6, ngân hàng triển khai nhiều chương trình ưu đãi cho khách hàng cá nhân, cùng các gói vay mua nhà dự án, vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay mua ô tô... Lãi suất cho vay bình quân đối với khách hàng cá nhân giảm 0,9% so với cuối năm 2024 tính trên các khoản các khoản giải ngân mới, trong khi lãi suất cho vay với doanh nghiệp giảm 0,2%.

Cũng theo đại diện VietinBank, tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng nửa đầu năm đạt 12%, cao hơn mức bình quân chung.

Hiện ngân hàng triển khai nhiều gói tín dụng ưu đãi, tập trung các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ; riêng các gói tín dụng trọng điểm chiếm khoảng 60% tổng mức tăng tín dụng. Còn lãi suất cho vay năm 2025 giảm 0,5 điểm phần trăm so với cuối năm 2024. Để tiết kiệm chi phí vốn, ngân hàng tích cực chuyển đổi số để làm sao có thể thu hút được nguồn vốn một cách tốt nhất.

Đại diện VietinBank khẳng định, cùng các ngân hàng khác, đơn vị tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân, thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, qua đó hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Cũng theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, diễn biến lãi suất nhận được sự quan tâm đặc biệt và chỉ đạo sát sao từ Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng đã giao Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo dõi chặt chẽ việc ổn định lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay tại các tổ chức tín dụng và đưa ra giải pháp phù hợp, qua đó, hỗ trợ phát triển kinh tế./.

Ngân hàng "ngầm" đẩy lãi suất huy động cao để hút vốn giữa áp lực thanh khoản

Tuy nhiên, điều đáng nói, không ít ngân hàng lấy biểu lãi suất niêm yết thông thường làm "màn che", nhưng lại "ngầm" đẩy lãi suất huy động lên cao theo nhiều chương trình. Đơn cử, tại một ngân hàng có quy mô tiền gửi của khách hàng dưới 100.000 tỷ đồng tính đến cuối quý II/2025, ngân hàng đang triển khai nhiều chương trình tiền gửi với lãi suất nổi bật so với mặt bằng chung, áp dụng từ ngày 21/4 và kéo dài cho đến khi có thông báo thay thế. Tuy nhiên, trên trang web đã ẩn đi hết các chương trình này mà triển khai dưới các phòng giao dịch.

Đơn cử, một chương trình trả mức lãi suất ở mức cao, khoảng 5,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 6,2%/năm cho 12 tháng và 6,5%/năm cho 18 tháng, điều kiện tương đối dễ đáp ứng, dành cho khách hàng mới mở sổ trong thời gian triển khai, gửi tối thiểu 100 triệu đồng và duy trì số dư tối thiểu trên tài khoản thanh toán theo quy định.

Cùng với đó, còn có một số điều khoản đi kèm như: chương trình áp dụng phương thức lĩnh lãi trả trước nhưng khoản lãi sẽ được phong tỏa và chỉ giải tỏa khi đến hạn tất toán, sổ tiết kiệm này cũng không cho phép rút trước hạn một phần, không tự động tái tục. Nếu chương trình còn hiệu lực tại thời điểm tất toán, khách hàng có thể tái tham gia.

Tại một ngân hàng tư nhân lớn, bất chấp mặt bằng lãi suất thấp, quy mô huy động tiền gửi khách hàng vẫn tăng gần 24% trong nửa đầu năm 2025, đạt hơn 600.000 tỷ đồng. Ngân hàng triển khai nhiều chương trình ưu đãi, trong đó, khách hàng gửi trực tuyến từ 300 triệu đồng trở lên với kỳ hạn 6 tháng được cộng thêm 1,2%/năm, nâng lãi suất lên 5,8%/năm, cao hơn đáng kể mức niêm yết tại quầy 4,5%/năm và cao hơn cả so với đầu năm.

Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, trong bối cảnh lãi suất cho vay khó có dư địa tăng do yêu cầu của nhà điều hành, lãi suất huy động lại âm thầm nhích lên do thanh khoản hệ thống ở mức thấp. Thực tế, nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng “ngầm” thay vì công khai niêm yết, nhằm thu hút tiền gửi./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30