Lãi suất huy động "lặng sóng", lãi vay tiếp đà hạ nhiệt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động tháng qua gần như “lặng sóng”, đặc biệt là kỳ hạn 6 tháng, với số ít ngân hàng điều chỉnh tăng, giảm nhẹ 0,1 - 0,2% ở một số kỳ hạn. Nhờ sự ổn định của các yếu tố vĩ mô và thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng, mặt bằng lãi suất cho vay toàn hệ thống tiếp đà giảm nhẹ 3 năm liên tiếp.
aa
Lãi suất huy động
Nguồn: MBS Đồ họa tư liệu

Khảo sát của phóng viên cho thấy, trong tháng qua, biến động mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại phần lớn ổn định, chỉ ghi nhận những điều chỉnh tăng, giảm lẻ tẻ ở số ít ngân hàng như: VPBank, GPBank, VCBNeo, BaovietBank; BacABank, NCB.

Chỉ vài ngân hàng điều chỉnh biên độ hẹp

Theo đó, lãi suất huy động tại kỳ hạn ngắn 1 tháng có ít biến động, phần lớn ngân hàng giữ nguyên so với đầu tháng. Trong đó, VPBank tăng nhẹ từ 3,5% lên 3,6% giữa tháng 7, cho thấy nhu cầu đẩy mạnh huy động vốn ngắn hạn trở lại. Cùng xu hướng đẩy mặt bằng lãi suất nhích tăng còn có GPBank (tăng 0,2% lên 3,45%); VCBNeo (tăng 0,1% lên 4,15%); BaovietBank (tăng 0,1% lên 3,4%). Ngược lại, NCB có dấu hiệu điều chỉnh giảm (từ 3,8% về 3,7% cuối tháng 6), BacABank giảm 0,1% còn 3,8%.

Triển vọng Fed giảm lãi suất cuối năm nới thêm dư địa điều hành

"Mặt bằng lãi suất quốc tế 6 tháng cuối năm 2025 có tín hiệu tích cực hơn khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được nhiều tổ chức quốc tế dự báo có khả năng cắt giảm lãi suất vào quý IV/2025 nếu xu hướng lạm phát tại Mỹ tiếp tục hạ nhiệt và tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chững lại. Việc Fed hạ lãi suất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành tỷ giá hối đoái, ổn định thị trường ngoại hối và duy trì mặt bằng lãi suất trong nước ở mức hợp lý hơn" . PGS.TS Hà Minh Sơn

Ở kỳ hạn 3 tháng, VCBNeo tiếp tục điều chỉnh tăng từ 4,25% lên 4,35%, duy trì vị trí nhóm dẫn đầu về lãi suất huy động ngắn hạn; GPBank tăng 0,2% lên 3,55%. Trong khi đó, NCB giảm nhẹ lãi suất từ 4% xuống 3,9%; BacABank giảm 0,1% còn 4,1%.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất "lặng như tờ", gần như không ghi nhận biến động đáng kể nào suốt cả tháng. Khảo sát của phóng viên cho thấy, chỉ có NCB giảm nhẹ 0,1% còn 4,95%; BacABank cùng chuyển động, giảm 0,1% còn 5,25%.

Với kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, chỉ duy nhất GPBank tăng nhẹ lãi suất 0,1% lên 5,2%. Trong khi đó, BacABank giảm liên tiếp 2 lần 0,1%, đưa lãi suất lùi còn 5,5%.

Ở kỳ hạn 24 tháng, hầu hết ngân hàng giảm nhẹ lãi suất. Đơn cử như VPBank (giảm 0,1% còn 5,1%); NCB cũng giảm nhẹ về 5,3%; BacABank giảm lãi suất liên tiếp 2 lần trong hơn 1 tháng, xuống 5,8%. Ở chiều ngược lại, GPBank tăng nhẹ từ 5,1% lên 5,2%.

Thống kê từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, đà giảm của lãi suất huy động đã chững lại trong tháng 6, với rất ít ngân hàng điều chỉnh giảm và biên độ điều chỉnh cũng ở mức hẹp. Trong tháng, chỉ ghi nhận 3 ngân hàng là LPBank, BacABank và VPBank thực hiện giảm lãi suất từ 0,1 - 0,2% ở một số kỳ hạn khác nhau.

"Đến cuối tháng 6, lãi suất kỳ hạn 12 tháng bình quân tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần giảm 17 điểm cơ bản so với đầu năm, về mức 4,87%, trong khi lãi suất tại nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%" - MBS đánh giá.

Việc duy trì mặt bằng lãi suất huy động ở mức thấp đã tạo điều kiện để lãi suất cho vay tiếp tục giảm. Chia sẻ gần đây, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cho biết, lãi suất cho vay bình quân của các khoản vay mới hiện giảm 0,6% so với cuối năm 2024, về mức 6,38%/năm, tiếp nối chuỗi giảm lãi suất liên tục kể từ năm 2022 đến nay, giúp các tổ chức tín dụng huy động với chi phí vốn thấp.

Lãi suất thấp kìm đà huy động, tăng trưởng tín dụng vẫn vượt xa

Theo đánh giá của PGS.TS Hà Minh Sơn - Trưởng Bộ môn Nghiệp vụ Ngân hàng, Học viện Tài chính, năm 2025, lãi suất 6 tháng đầu năm tiếp tục được điều chỉnh theo hướng ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phục hồi và phát triển nền kinh tế nhờ giữ nguyên các mức lãi suất điều hành như lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%/năm, lãi suất tái chiết khấu ở mức 3%/năm, trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng ở mức

4,75%/năm và trần lãi suất cho vay một số lĩnh vực ưu tiên tối đa là 4,5%/năm. Mặt bằng lãi suất trên thị trường tiếp tục được duy trì ở mức thấp và khá ổn định so với cuối năm 2024.

Theo đó, các ngân hàng thương mại lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank áp dụng mức lãi suất huy động phổ biến từ 2,9 - 4,8%/năm cho các kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân nhỏ và vừa như Eximbank, BacABank cạnh tranh mạnh mẽ hơn về lãi suất huy động, dao động từ 5 - 6%/năm, thậm chí một số chương trình khuyến mãi tại các ngân hàng thương mại này đưa mức lãi suất lên tới 6,8%/năm đối với kỳ hạn dài trên 18 tháng.

Nhờ sự ổn định của các yếu tố vĩ mô và thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống tiếp đà giảm nhẹ so với cuối năm 2024. Trước đó, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân của toàn hệ thống với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ đã giảm mạnh năm 2023 là 1,1%/năm, năm 2024 giảm 1,24%/năm.

Mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp cũng là nguyên nhân chính khiến tăng trưởng huy động chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng. Theo MBS, tính đến giữa tháng 6, tăng trưởng huy động toàn hệ thống đạt 5,09% so với đầu năm, cao hơn đáng kể so với mức 0,92% cùng kỳ năm trước, song thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Xu hướng này cũng được phản ánh tại các ngân hàng niêm yết, với mức tăng trưởng huy động đạt 2,4% so với đầu năm trong quý I/2025. Dù con số này khả quan hơn mức âm 0,57% của quý I/2024, nhưng vẫn thấp hơn mức tăng 3,8% của tăng trưởng tín dụng.

"Chúng tôi dự báo tăng trưởng huy động của các ngân hàng trong phạm vi phân tích sẽ đạt 15,6% so với cùng kỳ trong năm 2025, thấp hơn một chút so với tăng trưởng tín dụng, do môi trường lãi suất thấp vẫn được duy trì. Các ngân hàng có tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) và mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành như: VPBank, HDBank, VIB và MSB được kỳ vọng sẽ đẩy mạnh huy động vốn nhiều hơn so với các ngân hàng khác" - nhóm MSB phân tích nhận định.

Lãi suất huy động dự báo ổn định ở mức thấp dưới 5% hỗ trợ tăng trưởng tín dụng

Theo MBS, tính đến cuối tháng 6, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trung bình tại các ngân hàng lớn đạt 4,7%, trong khi ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ là 5%, giảm trung bình từ 10 - 20 điểm cơ bản so với đầu năm. Lãi suất huy động có xu hướng giảm sau chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ từ giữa tháng 4 và xu hướng này sẽ tiếp tục kéo dài đến cuối năm 2025. Mục tiêu của xu hướng này là nhằm thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế, hỗ trợ đạt mục tiêu tăng trưởng GDP, đồng thời giúp các ngân hàng bảo vệ biên lãi thuần.

"Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng bình quân tại khối ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 4,7% vào cuối năm 2025. Đối với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, lãi suất trung bình có thể giảm thêm 20 điểm cơ bản, về mức tương đương 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS dự báo.

PGS.TS Hà Minh Sơn dự báo mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại trong năm 2025 được dao động từ 4,8 - 5,3%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng. Lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống ở mức khoảng 6,3 - 6,7%/năm, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ phục hồi kinh tế nhưng vẫn kiểm soát được lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ.

Ông Sơn cũng khuyến nghị nhà điều hành theo dõi sát biến động lạm phát, các chỉ số vĩ mô như CPI, tỷ giá USD/VND, giá dầu và lãi suất quốc tế, đây là điều kiện tiên quyết để Ngân hàng Nhà nước xây dựng các kịch bản điều hành chính sách linh hoạt để giúp hỗ trợ tăng trưởng mà không gây áp lực lên lạm phát.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị, chuẩn bị bước vào năm học mới, phụ huynh, học sinh, sinh viên chủ động kiểm tra giá trị sử dụng thẻ bảo hiểm y tế sau khi hoàn tất tham gia, nhằm kịp thời phát hiện và phản ánh nếu thông tin chưa được cập nhật hoặc chưa chính xác.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

(TBTCO) - Trong năm 2026, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân tai nạn giao thông. Tại Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa và một số địa phương, các khoản hỗ trợ được trao kịp thời, đúng đối tượng, góp phần chia sẻ khó khăn, giảm bớt gánh nặng cho gia đình người bị nạn. Qua đó, vai trò của Quỹ tiếp tục được phát huy không chỉ trong công tác hỗ trợ nhân đạo mà còn trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn giao thông và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.335,4 USD/ounce, kéo chênh lệch với vàng miếng trong nước lên khoảng 6,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng nhẹ, giá vàng miếng giao dịch quanh 144,3 triệu đồng/lượng.
VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

VPBank ghi dấu ấn tại ngày Chuyển đổi số với loạt trải nghiệm công nghệ nổi bật

(TBTCO) - Với không gian trải nghiệm hiện đại và nhiều hoạt động tương tác hấp dẫn, gian hàng VPBank tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 18/8 tại Hà Nội) đã trở thành điểm dừng chân nổi bật tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng 2026. Chuỗi hoạt động giới thiệu sản phẩm, tư vấn giải pháp tài chính và trải nghiệm công nghệ thanh toán mới đã mang đến những góc nhìn trực quan về hành trình chuyển đổi số đang được VPBank đẩy mạnh.
BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

(TBTCO) - Mang tới giải pháp chi tiêu an toàn và thuận lợi, BAC A BANK dành tặng thêm chương trình ưu đãi “Mở thẻ mới - Quà tới tay” cho khách hàng mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK Mastercard.
NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

(TBTCO) - NCB dự kiến phát hành riêng lẻ 3,3 tỷ cổ phiếu, huy động 33.000 tỷ đồng. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng lên gần 62.280 tỷ đồng, gấp 3,2 lần đầu năm 2026, đánh dấu 5 lần tăng vốn trong 6 năm và đưa NCB vào top 10 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất thị trường.
Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

(TBTCO) - Phát biểu tại sự kiện “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026”, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, chuyển đổi số càng sâu, những vấn đề mới càng xuất hiện nhanh. Theo đó, toàn ngành cần tập trung 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đổi mới mạnh mẽ, nhưng có trọng tâm, có kiểm soát và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 ▲1900K 145,100 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 141,000 ▲1900K 145,100 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 141,000 ▲1900K 145,100 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 141,000 ▲1900K 145,100 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 141,000 ▲1900K 145,100 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 ▲1900K 145,100 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 14,320
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,630 14,230
Trang sức 99.99 13,640 14,240
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 1,407
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 139,307
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 105,686
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 95,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 85,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 82,186
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 58,828
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 20/08/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18100 18374 18951
CAD 18424 18701 19321
CHF 32093 32475 33125
CNY 0 3830 3940
EUR 29925 30148 31229
GBP 34789 35182 36123
HKD 0 3208 3410
JPY 158 162 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15230 15821
SGD 20041 20324 20896
THB 712 775 829
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,954 29,978 31,395
JPY 160.69 160.98 170.69
GBP 34,952 35,047 36,259
AUD 18,286 18,352 19,051
CAD 18,603 18,663 19,351
CHF 32,326 32,427 33,391
SGD 20,147 20,210 21,010
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,271 3,281 3,418
KRW 17.3 18.04 19.63
THB 759.62 769 823.32
NZD 15,194 15,335 15,794
SEK - 2,724 2,821
DKK - 4,017 4,159
NOK - 2,758 2,856
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,046.76 - 6,827.84
TWD 741.86 - 898.7
SAR - 6,853.27 7,218.28
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18276 18376 19302
CAD 18601 18701 19717
CHF 32344 32374 33961
CNY 3829.5 3854.5 3990.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30106 30136 31859
GBP 35090 35140 36901
HKD 0 3330 0
JPY 161.7 162.2 172.72
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15335 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20196 20326 21057
THB 0 741.2 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14200000 14200000 14600000
SBJ 12500000 12500000 14600000
Cập nhật: 20/08/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80