Lãi suất huy động "lặng sóng", lãi vay tiếp đà hạ nhiệt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động tháng qua gần như “lặng sóng”, đặc biệt là kỳ hạn 6 tháng, với số ít ngân hàng điều chỉnh tăng, giảm nhẹ 0,1 - 0,2% ở một số kỳ hạn. Nhờ sự ổn định của các yếu tố vĩ mô và thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng, mặt bằng lãi suất cho vay toàn hệ thống tiếp đà giảm nhẹ 3 năm liên tiếp.
aa
Lãi suất huy động
Nguồn: MBS Đồ họa tư liệu

Khảo sát của phóng viên cho thấy, trong tháng qua, biến động mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại phần lớn ổn định, chỉ ghi nhận những điều chỉnh tăng, giảm lẻ tẻ ở số ít ngân hàng như: VPBank, GPBank, VCBNeo, BaovietBank; BacABank, NCB.

Chỉ vài ngân hàng điều chỉnh biên độ hẹp

Theo đó, lãi suất huy động tại kỳ hạn ngắn 1 tháng có ít biến động, phần lớn ngân hàng giữ nguyên so với đầu tháng. Trong đó, VPBank tăng nhẹ từ 3,5% lên 3,6% giữa tháng 7, cho thấy nhu cầu đẩy mạnh huy động vốn ngắn hạn trở lại. Cùng xu hướng đẩy mặt bằng lãi suất nhích tăng còn có GPBank (tăng 0,2% lên 3,45%); VCBNeo (tăng 0,1% lên 4,15%); BaovietBank (tăng 0,1% lên 3,4%). Ngược lại, NCB có dấu hiệu điều chỉnh giảm (từ 3,8% về 3,7% cuối tháng 6), BacABank giảm 0,1% còn 3,8%.

Triển vọng Fed giảm lãi suất cuối năm nới thêm dư địa điều hành

"Mặt bằng lãi suất quốc tế 6 tháng cuối năm 2025 có tín hiệu tích cực hơn khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được nhiều tổ chức quốc tế dự báo có khả năng cắt giảm lãi suất vào quý IV/2025 nếu xu hướng lạm phát tại Mỹ tiếp tục hạ nhiệt và tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chững lại. Việc Fed hạ lãi suất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành tỷ giá hối đoái, ổn định thị trường ngoại hối và duy trì mặt bằng lãi suất trong nước ở mức hợp lý hơn" . PGS.TS Hà Minh Sơn

Ở kỳ hạn 3 tháng, VCBNeo tiếp tục điều chỉnh tăng từ 4,25% lên 4,35%, duy trì vị trí nhóm dẫn đầu về lãi suất huy động ngắn hạn; GPBank tăng 0,2% lên 3,55%. Trong khi đó, NCB giảm nhẹ lãi suất từ 4% xuống 3,9%; BacABank giảm 0,1% còn 4,1%.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất "lặng như tờ", gần như không ghi nhận biến động đáng kể nào suốt cả tháng. Khảo sát của phóng viên cho thấy, chỉ có NCB giảm nhẹ 0,1% còn 4,95%; BacABank cùng chuyển động, giảm 0,1% còn 5,25%.

Với kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, chỉ duy nhất GPBank tăng nhẹ lãi suất 0,1% lên 5,2%. Trong khi đó, BacABank giảm liên tiếp 2 lần 0,1%, đưa lãi suất lùi còn 5,5%.

Ở kỳ hạn 24 tháng, hầu hết ngân hàng giảm nhẹ lãi suất. Đơn cử như VPBank (giảm 0,1% còn 5,1%); NCB cũng giảm nhẹ về 5,3%; BacABank giảm lãi suất liên tiếp 2 lần trong hơn 1 tháng, xuống 5,8%. Ở chiều ngược lại, GPBank tăng nhẹ từ 5,1% lên 5,2%.

Thống kê từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, đà giảm của lãi suất huy động đã chững lại trong tháng 6, với rất ít ngân hàng điều chỉnh giảm và biên độ điều chỉnh cũng ở mức hẹp. Trong tháng, chỉ ghi nhận 3 ngân hàng là LPBank, BacABank và VPBank thực hiện giảm lãi suất từ 0,1 - 0,2% ở một số kỳ hạn khác nhau.

"Đến cuối tháng 6, lãi suất kỳ hạn 12 tháng bình quân tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần giảm 17 điểm cơ bản so với đầu năm, về mức 4,87%, trong khi lãi suất tại nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%" - MBS đánh giá.

Việc duy trì mặt bằng lãi suất huy động ở mức thấp đã tạo điều kiện để lãi suất cho vay tiếp tục giảm. Chia sẻ gần đây, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cho biết, lãi suất cho vay bình quân của các khoản vay mới hiện giảm 0,6% so với cuối năm 2024, về mức 6,38%/năm, tiếp nối chuỗi giảm lãi suất liên tục kể từ năm 2022 đến nay, giúp các tổ chức tín dụng huy động với chi phí vốn thấp.

Lãi suất thấp kìm đà huy động, tăng trưởng tín dụng vẫn vượt xa

Theo đánh giá của PGS.TS Hà Minh Sơn - Trưởng Bộ môn Nghiệp vụ Ngân hàng, Học viện Tài chính, năm 2025, lãi suất 6 tháng đầu năm tiếp tục được điều chỉnh theo hướng ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phục hồi và phát triển nền kinh tế nhờ giữ nguyên các mức lãi suất điều hành như lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%/năm, lãi suất tái chiết khấu ở mức 3%/năm, trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng ở mức

4,75%/năm và trần lãi suất cho vay một số lĩnh vực ưu tiên tối đa là 4,5%/năm. Mặt bằng lãi suất trên thị trường tiếp tục được duy trì ở mức thấp và khá ổn định so với cuối năm 2024.

Theo đó, các ngân hàng thương mại lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank áp dụng mức lãi suất huy động phổ biến từ 2,9 - 4,8%/năm cho các kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân nhỏ và vừa như Eximbank, BacABank cạnh tranh mạnh mẽ hơn về lãi suất huy động, dao động từ 5 - 6%/năm, thậm chí một số chương trình khuyến mãi tại các ngân hàng thương mại này đưa mức lãi suất lên tới 6,8%/năm đối với kỳ hạn dài trên 18 tháng.

Nhờ sự ổn định của các yếu tố vĩ mô và thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống tiếp đà giảm nhẹ so với cuối năm 2024. Trước đó, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân của toàn hệ thống với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ đã giảm mạnh năm 2023 là 1,1%/năm, năm 2024 giảm 1,24%/năm.

Mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp cũng là nguyên nhân chính khiến tăng trưởng huy động chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng. Theo MBS, tính đến giữa tháng 6, tăng trưởng huy động toàn hệ thống đạt 5,09% so với đầu năm, cao hơn đáng kể so với mức 0,92% cùng kỳ năm trước, song thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Xu hướng này cũng được phản ánh tại các ngân hàng niêm yết, với mức tăng trưởng huy động đạt 2,4% so với đầu năm trong quý I/2025. Dù con số này khả quan hơn mức âm 0,57% của quý I/2024, nhưng vẫn thấp hơn mức tăng 3,8% của tăng trưởng tín dụng.

"Chúng tôi dự báo tăng trưởng huy động của các ngân hàng trong phạm vi phân tích sẽ đạt 15,6% so với cùng kỳ trong năm 2025, thấp hơn một chút so với tăng trưởng tín dụng, do môi trường lãi suất thấp vẫn được duy trì. Các ngân hàng có tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) và mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành như: VPBank, HDBank, VIB và MSB được kỳ vọng sẽ đẩy mạnh huy động vốn nhiều hơn so với các ngân hàng khác" - nhóm MSB phân tích nhận định.

Lãi suất huy động dự báo ổn định ở mức thấp dưới 5% hỗ trợ tăng trưởng tín dụng

Theo MBS, tính đến cuối tháng 6, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trung bình tại các ngân hàng lớn đạt 4,7%, trong khi ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ là 5%, giảm trung bình từ 10 - 20 điểm cơ bản so với đầu năm. Lãi suất huy động có xu hướng giảm sau chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ từ giữa tháng 4 và xu hướng này sẽ tiếp tục kéo dài đến cuối năm 2025. Mục tiêu của xu hướng này là nhằm thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế, hỗ trợ đạt mục tiêu tăng trưởng GDP, đồng thời giúp các ngân hàng bảo vệ biên lãi thuần.

"Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng bình quân tại khối ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 4,7% vào cuối năm 2025. Đối với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, lãi suất trung bình có thể giảm thêm 20 điểm cơ bản, về mức tương đương 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS dự báo.

PGS.TS Hà Minh Sơn dự báo mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại trong năm 2025 được dao động từ 4,8 - 5,3%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng. Lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống ở mức khoảng 6,3 - 6,7%/năm, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ phục hồi kinh tế nhưng vẫn kiểm soát được lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ.

Ông Sơn cũng khuyến nghị nhà điều hành theo dõi sát biến động lạm phát, các chỉ số vĩ mô như CPI, tỷ giá USD/VND, giá dầu và lãi suất quốc tế, đây là điều kiện tiên quyết để Ngân hàng Nhà nước xây dựng các kịch bản điều hành chính sách linh hoạt để giúp hỗ trợ tăng trưởng mà không gây áp lực lên lạm phát.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30