Lãi suất huy động "lặng sóng", lãi vay tiếp đà hạ nhiệt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động tháng qua gần như “lặng sóng”, đặc biệt là kỳ hạn 6 tháng, với số ít ngân hàng điều chỉnh tăng, giảm nhẹ 0,1 - 0,2% ở một số kỳ hạn. Nhờ sự ổn định của các yếu tố vĩ mô và thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng, mặt bằng lãi suất cho vay toàn hệ thống tiếp đà giảm nhẹ 3 năm liên tiếp.
aa
Lãi suất huy động
Nguồn: MBS Đồ họa tư liệu

Khảo sát của phóng viên cho thấy, trong tháng qua, biến động mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại phần lớn ổn định, chỉ ghi nhận những điều chỉnh tăng, giảm lẻ tẻ ở số ít ngân hàng như: VPBank, GPBank, VCBNeo, BaovietBank; BacABank, NCB.

Chỉ vài ngân hàng điều chỉnh biên độ hẹp

Theo đó, lãi suất huy động tại kỳ hạn ngắn 1 tháng có ít biến động, phần lớn ngân hàng giữ nguyên so với đầu tháng. Trong đó, VPBank tăng nhẹ từ 3,5% lên 3,6% giữa tháng 7, cho thấy nhu cầu đẩy mạnh huy động vốn ngắn hạn trở lại. Cùng xu hướng đẩy mặt bằng lãi suất nhích tăng còn có GPBank (tăng 0,2% lên 3,45%); VCBNeo (tăng 0,1% lên 4,15%); BaovietBank (tăng 0,1% lên 3,4%). Ngược lại, NCB có dấu hiệu điều chỉnh giảm (từ 3,8% về 3,7% cuối tháng 6), BacABank giảm 0,1% còn 3,8%.

Triển vọng Fed giảm lãi suất cuối năm nới thêm dư địa điều hành

"Mặt bằng lãi suất quốc tế 6 tháng cuối năm 2025 có tín hiệu tích cực hơn khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được nhiều tổ chức quốc tế dự báo có khả năng cắt giảm lãi suất vào quý IV/2025 nếu xu hướng lạm phát tại Mỹ tiếp tục hạ nhiệt và tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chững lại. Việc Fed hạ lãi suất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành tỷ giá hối đoái, ổn định thị trường ngoại hối và duy trì mặt bằng lãi suất trong nước ở mức hợp lý hơn" . PGS.TS Hà Minh Sơn

Ở kỳ hạn 3 tháng, VCBNeo tiếp tục điều chỉnh tăng từ 4,25% lên 4,35%, duy trì vị trí nhóm dẫn đầu về lãi suất huy động ngắn hạn; GPBank tăng 0,2% lên 3,55%. Trong khi đó, NCB giảm nhẹ lãi suất từ 4% xuống 3,9%; BacABank giảm 0,1% còn 4,1%.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất "lặng như tờ", gần như không ghi nhận biến động đáng kể nào suốt cả tháng. Khảo sát của phóng viên cho thấy, chỉ có NCB giảm nhẹ 0,1% còn 4,95%; BacABank cùng chuyển động, giảm 0,1% còn 5,25%.

Với kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, chỉ duy nhất GPBank tăng nhẹ lãi suất 0,1% lên 5,2%. Trong khi đó, BacABank giảm liên tiếp 2 lần 0,1%, đưa lãi suất lùi còn 5,5%.

Ở kỳ hạn 24 tháng, hầu hết ngân hàng giảm nhẹ lãi suất. Đơn cử như VPBank (giảm 0,1% còn 5,1%); NCB cũng giảm nhẹ về 5,3%; BacABank giảm lãi suất liên tiếp 2 lần trong hơn 1 tháng, xuống 5,8%. Ở chiều ngược lại, GPBank tăng nhẹ từ 5,1% lên 5,2%.

Thống kê từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, đà giảm của lãi suất huy động đã chững lại trong tháng 6, với rất ít ngân hàng điều chỉnh giảm và biên độ điều chỉnh cũng ở mức hẹp. Trong tháng, chỉ ghi nhận 3 ngân hàng là LPBank, BacABank và VPBank thực hiện giảm lãi suất từ 0,1 - 0,2% ở một số kỳ hạn khác nhau.

"Đến cuối tháng 6, lãi suất kỳ hạn 12 tháng bình quân tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần giảm 17 điểm cơ bản so với đầu năm, về mức 4,87%, trong khi lãi suất tại nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn giữ ổn định ở mức 4,7%" - MBS đánh giá.

Việc duy trì mặt bằng lãi suất huy động ở mức thấp đã tạo điều kiện để lãi suất cho vay tiếp tục giảm. Chia sẻ gần đây, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cho biết, lãi suất cho vay bình quân của các khoản vay mới hiện giảm 0,6% so với cuối năm 2024, về mức 6,38%/năm, tiếp nối chuỗi giảm lãi suất liên tục kể từ năm 2022 đến nay, giúp các tổ chức tín dụng huy động với chi phí vốn thấp.

Lãi suất thấp kìm đà huy động, tăng trưởng tín dụng vẫn vượt xa

Theo đánh giá của PGS.TS Hà Minh Sơn - Trưởng Bộ môn Nghiệp vụ Ngân hàng, Học viện Tài chính, năm 2025, lãi suất 6 tháng đầu năm tiếp tục được điều chỉnh theo hướng ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phục hồi và phát triển nền kinh tế nhờ giữ nguyên các mức lãi suất điều hành như lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%/năm, lãi suất tái chiết khấu ở mức 3%/năm, trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng ở mức

4,75%/năm và trần lãi suất cho vay một số lĩnh vực ưu tiên tối đa là 4,5%/năm. Mặt bằng lãi suất trên thị trường tiếp tục được duy trì ở mức thấp và khá ổn định so với cuối năm 2024.

Theo đó, các ngân hàng thương mại lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank áp dụng mức lãi suất huy động phổ biến từ 2,9 - 4,8%/năm cho các kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân nhỏ và vừa như Eximbank, BacABank cạnh tranh mạnh mẽ hơn về lãi suất huy động, dao động từ 5 - 6%/năm, thậm chí một số chương trình khuyến mãi tại các ngân hàng thương mại này đưa mức lãi suất lên tới 6,8%/năm đối với kỳ hạn dài trên 18 tháng.

Nhờ sự ổn định của các yếu tố vĩ mô và thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống tiếp đà giảm nhẹ so với cuối năm 2024. Trước đó, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân của toàn hệ thống với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ đã giảm mạnh năm 2023 là 1,1%/năm, năm 2024 giảm 1,24%/năm.

Mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp cũng là nguyên nhân chính khiến tăng trưởng huy động chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng. Theo MBS, tính đến giữa tháng 6, tăng trưởng huy động toàn hệ thống đạt 5,09% so với đầu năm, cao hơn đáng kể so với mức 0,92% cùng kỳ năm trước, song thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Xu hướng này cũng được phản ánh tại các ngân hàng niêm yết, với mức tăng trưởng huy động đạt 2,4% so với đầu năm trong quý I/2025. Dù con số này khả quan hơn mức âm 0,57% của quý I/2024, nhưng vẫn thấp hơn mức tăng 3,8% của tăng trưởng tín dụng.

"Chúng tôi dự báo tăng trưởng huy động của các ngân hàng trong phạm vi phân tích sẽ đạt 15,6% so với cùng kỳ trong năm 2025, thấp hơn một chút so với tăng trưởng tín dụng, do môi trường lãi suất thấp vẫn được duy trì. Các ngân hàng có tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) và mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành như: VPBank, HDBank, VIB và MSB được kỳ vọng sẽ đẩy mạnh huy động vốn nhiều hơn so với các ngân hàng khác" - nhóm MSB phân tích nhận định.

Lãi suất huy động dự báo ổn định ở mức thấp dưới 5% hỗ trợ tăng trưởng tín dụng

Theo MBS, tính đến cuối tháng 6, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trung bình tại các ngân hàng lớn đạt 4,7%, trong khi ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ là 5%, giảm trung bình từ 10 - 20 điểm cơ bản so với đầu năm. Lãi suất huy động có xu hướng giảm sau chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ từ giữa tháng 4 và xu hướng này sẽ tiếp tục kéo dài đến cuối năm 2025. Mục tiêu của xu hướng này là nhằm thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế, hỗ trợ đạt mục tiêu tăng trưởng GDP, đồng thời giúp các ngân hàng bảo vệ biên lãi thuần.

"Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng bình quân tại khối ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 4,7% vào cuối năm 2025. Đối với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, lãi suất trung bình có thể giảm thêm 20 điểm cơ bản, về mức tương đương 4,7%" - nhóm phân tích từ MBS dự báo.

PGS.TS Hà Minh Sơn dự báo mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng thương mại trong năm 2025 được dao động từ 4,8 - 5,3%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng. Lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống ở mức khoảng 6,3 - 6,7%/năm, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ phục hồi kinh tế nhưng vẫn kiểm soát được lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ.

Ông Sơn cũng khuyến nghị nhà điều hành theo dõi sát biến động lạm phát, các chỉ số vĩ mô như CPI, tỷ giá USD/VND, giá dầu và lãi suất quốc tế, đây là điều kiện tiên quyết để Ngân hàng Nhà nước xây dựng các kịch bản điều hành chính sách linh hoạt để giúp hỗ trợ tăng trưởng mà không gây áp lực lên lạm phát.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80