Thách thức chưa nguôi, lợi nhuận Bảo hiểm PTI giảm hơn 23% nửa đầu năm

Ánh Tuyết
Bảo hiểm PTI tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức nửa đầu năm 2025 khi cả hai trụ cột kinh doanh đồng loạt suy giảm. Doanh thu phí bảo hiểm giảm 20,3%, lợi nhuận từ hoạt động tài chính giảm mạnh 32%; kéo theo lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 197,6 tỷ đồng, giảm 23,4% cùng kỳ.
aa
Mong ngóng đợt tăng vốn "khủng" sau 10 năm, Bảo hiểm PTI kinh doanh ra sao? PTI mạnh tay tăng vốn, nhưng đặt chỉ tiêu lợi nhuận "dè dặt" hơn trong năm 2025 PTI đặt mục tiêu phục vụ 10 triệu khách hàng, kinh doanh thận trọng năm 2025

Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (mã Ck: PTI) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2025.

Đà giảm chưa dừng lại

Báo cáo tài chính quý II/2025 cho thấy bức tranh kém khả quan khi doanh thu phí bảo hiểm quý II/2025 đạt 957,8 tỷ đồng, giảm 20,3% so với cùng kỳ; trong đó, phí bảo hiểm gốc chỉ đạt 891,8 tỷ đồng, đây là mức thấp nhất theo quý kể từ quý III/2017, phản ánh sự suy giảm nghiêm trọng trong hoạt động khai thác bảo hiểm của doanh nghiệp. Sau khi trừ đi phí nhượng tái bảo hiểm, doanh thu phí bảo hiểm thuần cũng sụt giảm 18,6%, chỉ còn 643,4 tỷ đồng.

Ở chiều chi phí, PTI giảm chi bồi thường trong quý II/2025 23,3% so với cùng kỳ. Song song đó, thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm đạt 122,5 tỷ đồng, đảo chiều đáng kể so với con số âm 18,9 tỷ đồng cùng kỳ năm ngoái, cho thấy chỉ dấu tích cực trong thu từ các đối tác tái bảo hiểm, giúp bù đắp chi phí bồi thường. Sau khi tính thêm các khoản dự phòng bồi thường, tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt trên 664 tỷ đồng, giảm gần 17% cùng kỳ.

Thách thức chưa nguôi, lợi nhuận Bảo hiểm PTI giảm hơn 23% nửa đầu năm
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Suy yếu cả hai trụ cột kinh doanh bảo hiểm và tài chính

Tính trong 6 tháng đầu năm 2025, phí bảo hiểm gốc của PTI chỉ đạt 1.950,1 tỷ đồng, giảm 5% cùng kỳ. Trước đó, trong hai năm liên tiếp 2023 - 20224, doanh thu phí bảo hiểm gốc của PTI đều giảm khoảng 20% cùng kỳ. Lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm trong 6 tháng 2025 giảm 21,4%, xuống còn 184,2 tỷ đồng, phản ánh sự suy yếu rõ rệt của mảng kinh doanh cốt lõi. Không chỉ vậy, lợi nhuận từ hoạt động tài chính cũng giảm mạnh 32%, còn 58,3 tỷ đồng.

Tính chung trong quý II/2025, lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm giảm sâu 40,1% cùng kỳ, xuống 133,6 tỷ đồng.

Lợi nhuận từ hoạt động tài chính cũng không đáng kể, chỉ thu về 2,7 tỷ đồng, giảm mạnh so với quý trước (55,6 tỷ đồng).

Hiện Tổng công ty đang nắm giữ hơn 3.000 tỷ đồng tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi cùng hơn 1.300 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp nắm giữ dài hạn, với tỷ trọng cao so với nhiều năm gần đây.

Sau khi trừ hết các khoản chi phí, PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý II/2025 đạt 111,1 tỷ đồng, giảm 35,6% cùng kỳ.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu phí bảo hiểm của PTI đạt 2.080,9 tỷ đồng, giảm 18,4% cùng kỳ; trong đó, phí bảo hiểm gốc chỉ đạt 1.950,1 tỷ đồng, giảm 5% cùng kỳ. Lợi nhuận gộp hoạt động bảo hiểm đạt 184,2 tỷ đồng, giảm 21,4%. Bên cạnh sụt giảm hoạt động kinh doanh cốt lõi, hoạt động tài chính cũng giảm sâu 32% chỉ còn 58,3 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế nửa đầu năm 2025 đạt 197,6 tỷ đồng, giảm 23,4% so với cùng kỳ 2024.

Thách thức từ tái cấu trúc, thiếu đồng thuận từ cổ đông lớn

Năm 2025, PTI đặt kế hoạch doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt khoảng 4.550 tỷ đồng; doanh thu tài chính dự đạt 287,9 tỷ đồng, đều tăng so với năm 2024. Lợi nhuận trước thuế năm 2025 dự kiến đạt 320 tỷ đồng, giảm khoảng 20,5% so với thực hiện năm 2024. Sau nửa đầu năm, doanh nghiệp đã hoàn thành gần 62% kế hoạch đề ra.

Thách thức chưa nguôi, lợi nhuận Bảo hiểm PTI giảm hơn 23% nửa đầu năm
Thách thức chưa nguôi, lợi nhuận Bảo hiểm PTI giảm hơn 23% nửa đầu năm. Ảnh: T.L.

Trong báo cáo của Hội đồng quản trị ban hành mới đây, lãnh đạo PTI thừa nhận, trong quá trình tái cấu trúc, PTI không tránh khỏi những đánh đổi khi doanh thu sụt giảm, ảnh hưởng đến thị phần và vị thế trên thị trường; đồng thời, nhiều nhân sự chủ chốt đã rời khỏi công ty.

Cùng với đó, theo đánh giá của ban lãnh đạo PTI, đối với một số các quyết sách quan trọng như: chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng để nâng cao năng lực tài chính cho Tổng công ty; thông qua khung giao dịch với các bên liên quan để làm cơ sở triển khai các giao dịch trong năm..., Hội đồng quản trị vẫn chưa nhận được sự đồng lòng, hỗ trợ từ cổ đông lớn Hàn Quốc và các thành viên Hội đồng quản trị được đề cử.

Giai đoạn vừa qua, Tổng công ty triển khai quá trình tái cấu trúc toàn diện, bao gồm việc sắp xếp lại và hoàn thiện mô hình tổ chức kinh doanh, củng cố các điều kiện vận hành hiệu quả; đồng thời, nâng cao năng lực quản trị sản phẩm, kiểm soát chặt chẽ chi phí và rủi ro. Từ đó, giúp PTI duy trì được tỷ lệ chi phí kết hợp (combined ratio) hợp lý và đảm bảo các chỉ tiêu tài chính trọng yếu của công ty.

Hiện hệ thống sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ của PTI được định vị theo hướng các nhóm giải pháp chính gồm: PTI SOS (nhóm sản phẩm bảo hiểm tai nạn, xe cơ giới và tài sản cá nhân); PTI Care (bảo hiểm du lịch, sức khỏe và bệnh hiểm nghèo); PTI Commercial (giải pháp bảo hiểm rủi ro toàn diện cho khách hàng doanh nghiệp)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80